Luận văn pháp luật về phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở việt nam - Pdf 51

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu do tự bản
thân thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của cá nhân, tổ
chức khác. Các số liệu, thông tin được trích dẫn trong Luận văn có nguồn gốc
rõ ràng và tuân thủ đúng nguyên tắc trích dẫn. Kết quả trình bày trong Luận
văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trước đây. Tác giả hoàn toàn
chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của Luận văn.

Hà Nội, ngày 20 tháng 07 năm 2016
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

Học viên

PGS.TS. Vũ Thu Hạnh

Đinh Tiến Hoàng


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Pháp luật về phí bảo vệ môi trường
trong hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam”, tác giả đã nhận được sự
giúp đỡ và hỗ trợ của nhiều tổ chức, cá nhân.
Với tấm lòng chân thành và sự biết ơn sâu sắc nhất, tác giả xin được gửi
lời cảm ơn đặc biệt tới Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thu Hạnh – Phó Vụ trưởng
Vụ Nghiên cứu Tổng hợp, Ban Nội chính Trung Ương – người đã theo dõi và
hướng dẫn sát sao, giúp tác giả có những định hướng và kỹ năng nghiên cứu
đúng đắn trong quá trình triển khai đề tài.
Tác giả xin gửi lời cám ơn tới chuyên gia địa chất, khoáng sản, Tiến sĩ
Lê Ái Thụ – Nguyên Vụ trưởng Vụ Thanh tra - Pháp chế, Tổng Cục Địa chất
và Khoáng sản Việt Nam, đã gợi mở các nội dung nghiên cứu mới và chuyên

CDI

Trung tâm Phát triển và Hội Nhập
(The Centre for Development and Integration)

EITI

Sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai thác
(Extractive Industries Transparency Initiative)

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

ISO 14001

Tiêu chuẩn về hệ thống quản lý môi trường

NS

Ngân sách

Nxb.

Nhà xuất bản

PanNature

Trung tâm Con người và Thiên nhiên



Tên bảng

Trang

01

Kết quả thu phí bảo vệ môi trường từ khai thác khoáng sản
tại một số địa phương năm 2012 – 2013

54

02

Quy định về tỷ lệ phân bổ phí bảo vệ môi trường đối với
khai thác khoáng sản ở một số địa phương tính đến 2015

59

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số

Tên biểu đồ

Trang

01

Nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản


Tên Phụ lục

01

Tổng hợp nghĩa vụ tài chính và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp
khai khoáng khi thực hiện dự án khai thác khoáng sản tại Việt Nam

02

Hệ số bóc đất, đá của một số loại khoáng sản

03

Biểu khung mức phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản
(Ban hành kèm theo Nghị định số 12/2016/NĐ-CP)

04

Đánh giá tác động môi trường của từng loại khoáng sản khi được khai
thác theo các chuyên gia môi trường Việt Nam

05

Hình ảnh về hoạt động khai thác khoáng sản và việc xây dựng chính
sách phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản

06

Danh sách các đơn vị đã khảo sát (2009 – 2016)


1.3.1. Cơ sở lý luận 22
1.3.2. Cơ sở chính trị, pháp lý 24
1.3.3. Cơ sở thực tiễn
26
1.4. Kinh nghiệm xây dựng và áp dụng pháp luật phí bảo vệ môi trường
đối với khai thác khoáng sản ở một số quốc gia trên thế giới
28
Kết luận chương 1

34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về phí bảo vệ môi trường trong
hoạt động khai thác khoáng sản 35
2.1.1. Đối tượng chịu phí 36
2.1.2. Chủ thể nộp phí
38

35


2.1.3. Phương thức tính phí
39
2.1.4. Mức thu phí 44
2.1.5. Chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng nguồn phí
46
2.1.6. Kiểm tra, thanh tra việc thu nộp phí và xử lý vi phạm pháp
luật về phí

KẾT LUẬN

88
89


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên khoáng sản là tài sản thuộc sở hữu chung của toàn dân, là
nguồn lực, là vốn tự nhiên để phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Ngành khai khoáng đóng góp một phần quan trọng vào tăng trưởng GDP của
Việt Nam, trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% - 11% trong GDP cả nước.
Về cơ bản, ngành này đã đáp ứng kịp thời nguyên liệu cho các ngành công
nghiệp trong nước cần sử dụng nguyên liệu khoáng, góp phần đảm bảo an
ninh năng lượng, đồng thời phục vụ nhu cầu xuất khẩu quặng sang một số thị
trường lớn trên thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp và tiềm năng phát triển, khai thác
khoáng sản cũng gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường và xã hội.
Khác với các loại hình công nghiệp khác, khai thác khoáng sản thường chiếm
dụng diện tích đất lớn và làm thay đổi cấu trúc địa chất trong khu vực. Các tác
động môi trường vẫn có thể tiếp diễn sau khi dự án khai thác khoáng sản kết
thúc. Các mỏ khoảng sản thường nằm trên địa bàn vùng sâu vùng xa, nơi
cộng đồng địa phương chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên như đất,
rừng và nước để tạo nguồn sinh kế. Do đó, việc phá hủy các tài nguyên khác
như đất, rừng và nước sẽ tác động tiêu cực đến nguồn sinh kế và chất lượng
cuộc sống của cộng đồng.
Việt Nam đã bắt đầu thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với khai
thác khoáng sản từ năm 2006. Theo quy định trước đây, toàn bộ nguồn thu
này do chính quyền địa phương quản lý và sử dụng để khắc phục các hậu quả
môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản mang lại. Trên thực tế, chính

phân tích quy định của pháp luật gắn với thực tiễn thi hành về phí bảo vệ môi
trường tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với công
tác bảo vệ môi trường.
Với những lý do đó, việc nghiên cứu “Pháp luật về phí bảo vệ môi
trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam” có ý nghĩa khoa
học và thực tiễn cao.


10

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ nghiên cứu thực tiễn, các cơ quan, tổ chức của Việt Nam
đã tổ chức nhiều dự án nghiên cứu pháp luật, các buổi hội thảo, khảo sát về
tình hình xây dựng và áp dụng pháp luật phí bảo vệ môi trường đối với khai
thác khoáng sản phục vụ cho quá trình hoàn thiện pháp luật và nâng cao công
tác thực thi. Một số dự án, chương trình tiêu biểu có thể kể đến là:
“Tọa đàm lấy ý kiến sửa đổi Nghị định 74/2011/NĐ-CP về phí bảo vệ
môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản” do Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức ngày
10/02/2015 tại Hà Nội;
“Dự án vận động sửa đổi Nghị định 74/2011/NĐ-CP nhằm quản lý và
sử dụng hiệu quả nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng
sản” do Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI) phối hợp với Bộ Tài nguyên
và Môi trường (MONRE), Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature),
Diễn đàn Nhà báo vì môi trường (VFEJ) và VCCI thực hiện năm 2015 tại Hà
Nội, Yên Bái và Thái Nguyên;
“Dự án thúc đẩy minh bạch và và thực thi EITI cho ngành công nghiệp
khai thác khoáng sản thông qua tăng cường tiếng nói của Doanh nghiệp” do
VCCI phối hợp với PanNature và VFEJ thực hiện năm 2015 và 2016 tại ba
tỉnh thành Hà Nội, Quảng Ninh và Bình Định;

sản.
3.

Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những khái niệm về hoạt động
khai thác khoáng sản, pháp luật về phí và phí bảo vệ môi trường đối với khai
thác khoáng sản; cơ sở của việc xây dựng pháp luật phí bảo vệ môi trường
trong khai thác khoáng sản; các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật
nước ngoài về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản và thực
tiễn áp dụng quy định của pháp luật về loại phí này tại Việt Nam hiện nay.


12

3.2. Phạm vi nghiên cứu
Dưới góc độ văn bản pháp luật, Luận văn được nghiên cứu dựa trên
các quy định của Luật Khoáng sản 2010, Luật Bảo vệ môi trường 2014, Nghị
định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25 tháng 08 năm 2011 và Nghị định số
12/2016/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2016 của Chính phủ về phí bảo vệ
môi trường đối với khai thác khoáng sản, Thông tư số 66/2016/TT-BTC ngày
29 tháng 4 năm 2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số
12/2016/NĐ-CP. Ngoài ra, do chính sách pháp luật về phí bảo vệ môi trường
đã được thực hiện từ năm 2006 nên Luận văn cũng nghiên cứu trên phạm vi
các văn bản pháp luật về phí bảo vệ môi trường trước thời điểm năm 2011.
Dưới góc độ các vấn đề nghiên cứu, Luận văn chỉ nghiên cứu các vấn
đề về lý luận chung, thực trạng quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng và
đề xuất kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường
đối với khai thác khoáng sản. Luận văn không chú trọng tới các vấn đề kỹ

phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản;
Nhận thức được tình hình thực tiễn thực hiện các quy định của pháp
luật về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, lý giải được
nguyên nhân;
Luận giải về phương hướng, yêu cầu hoàn thiện quy định của pháp luật
về phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, đồng thời đề
ra các giải pháp để hoàn thiện những bất cập tồn tại trong các quy định của
pháp luật hiện hành.
5.

Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đặt ra một số câu hỏi khi nghiên

cứu Luận văn, bao gồm:
Một là, khai thác khoáng sản là gì? Tại sao cần phải có sự điều chỉnh
của pháp luật, trong đó có pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với ngành
công nghiệp này?
Hai là, pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản
được xây dựng dựa trên những cơ sở nào? Thực trạng quy định của pháp luật
Việt Nam có phù hợp với những cơ sở đó hay không? Nguyên nhân?


14

Ba là, việc áp dụng các quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khai
thác khoáng sản có điều gì vướng mắc, bất cập? Nguyên nhân?
Bốn là, pháp luật thế giới quy định như thế nào về vấn đề này? Kết hợp
kinh nghiệm của các quốc gia cùng những đánh giá về hạn chế của pháp luật
thực định để đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật.
6.

Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa. Việc khảo sát được thực
hiện nhằm đánh giá tình hình áp dụng quy định về phí bảo vệ môi trường
trong khai khoáng trên cả nước cũng như tại một số địa bàn được khảo sát.
Việc khảo sát của tác giả được tiến hành dưới hình thức phỏng vấn sâu các
đối tượng nghiên cứu là cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, Hiệp hội doanh
nghiệp và người dân tại 03 tỉnh, thành phố. Kết quả khảo sát được sử dụng
cho việc đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Phương pháp tham vấn chuyên gia. Việc đóng góp ý kiến, gợi mở vấn
đề cho nội dung của Luận văn được thực hiện bởi những chuyên gia có kinh
nghiệm trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường và pháp luật về tài nguyên, môi
trường. Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện Luận văn trước
khi công bố.
7.

Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ

lục, nội dung chính của Luận văn bao gồm 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật phí bảo vệ môi trường
trong hoạt động khai thác khoáng sản;
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định của
pháp luật về phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở
Việt Nam;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí bảo
vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam.


16

CHƯƠNG 1

17

cũng như đất đá thải, đây là ngành công nghiệp có ảnh hưởng lớn và trực tiếp
tới rất nhiều yếu tố của tự nhiên và môi trường.
Trước tiên, hoạt động khai thác khoáng sản gây tổn hại về địa hình, địa
chất và hệ sinh thái tự nhiên trong khu vực khai thác. Việc đào mỏ, cắt xẻ các
lớp đất đá tạo nên dạng địa hình mấp mô, xen kẽ các khe hố sâu và đống đất
đá thải. Một số diện tích xung quanh bãi thải quặng bị bồi lấp do sạt lở, xói
mòn gây thoái hoá lớp đất mặt. Bên cạnh đó, việc thi công các công trình
thăm dò, khai thác khoáng sản đòi hỏi phải gạt bỏ diện tích lớn lớp đất mặt
thảm thực vật. Bởi vậy, sự đa dạng sinh học tại các khu vực khai thác mỏ
ngày càng bị suy thoái. Ngoài ra, do không thể lựa chọn được vị trí khai thác,
nhiều dự án khoáng sản đã được thực hiện ở những khu vực nhạy cảm về môi
trường như đầu nguồn lưu vực sông, gần các khu bảo tồn thiên nhiên hay tại
các vị trí thiếu ổn định về mặt địa chất2.
Thứ hai, hoạt động khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường nước.
Hoạt động này làm cho nguồn nước mặt, nước ngầm bị nhiễm axit, kim loại
nặng và các nguyên tố độc hại khác. Những mỏ áp dụng phương pháp khai
thác bằng sức nước gây ra thay đổi dòng chảy và biến đổi cơ cấu. Khoáng
sản, quặng đuôi trôi chảy gây lắng đọng bùn cát ở các cửa sông, cảng biển.
Hoạt động khai thác dầu khí ở thềm lục địa và khai thác khoáng sản ở vùng
duyên hải cũng gây ô nhiễm nguồn nước biển3. Ngoài ra, các khu vực có hoạt
động khai thác khoáng sản thường xuyên thải ra các nguồn nước bẩn khiến
môi trường dưới nước bị biến đổi, ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng
và phát triển của các loài sinh vật thủy sinh.
Thứ ba, quá trình khai thác và vận chuyển các mỏ khoáng sản còn gây
ô nhiễm môi trường không khí. Âm thanh từ các vụ nổ mìn, khoan, tiếng ồn
2 Trần Thị Thanh Thủy, Trần Thị Thanh Hải, Kim Thu Hà, Dương Văn Thọ, Nguyễn Đức Anh
(đồng tác giả, 2015), tlđd chú thích 1, tr.7.
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Môi trường, Nxb. Công an nhân dân, tr. 349.

khoáng sản, đồng thời sử dụng để tái đầu tư, khôi phục và bảo vệ môi trường
tại các công trường khai thác.


19

1.1.2. Khái quát phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác
khoáng sản
 Khái niệm
Phí là một trong các công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước. Theo
nghĩa thông thường, phí được hiểu là “khoản tiền phải trả cho một công việc
phục vụ, dịch vụ công cộng nào đó”4. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm phí
được quy định tại Điều 3 Luật Phí và lệ phí 2015, có hiệu lực từ ngày 01
tháng 01 năm 20175. Theo đó, phí là “khoản tiền tổ chức, cá nhân phải chi
trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi các đối tượng này
được cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công”. Như vậy, việc đóng
phí của tổ chức, cá nhân được thực hiện khi họ nhận được sự cung ứng dịch
vụ cụ thể từ chủ thể khác. Phạm vi lĩnh vực dịch vụ được quy định cụ thể bởi
pháp luật, trong đó bao gồm dịch vụ quản lý và bảo vệ môi trường6.
Từ việc phân tích khái niệm phí nêu trên, có thể hiểu phí bảo vệ môi
trường là khoản tiền áp dụng đối với tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường để
phục vụ cho việc thu gom, quản lý, xử lý các chất thải đó nhằm khôi phục
hiện trạng cho môi trường. Thông thường, các quốc gia thường tiếp cận khái
niệm phí môi trường dưới góc độ là phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm, sản
phẩm gây ô nhiễm hoặc đánh vào người sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm7. Tại
Việt Nam, phí bảo vệ môi trường được đánh vào nguồn gây ô nhiễm tính theo
lượng phát thải ra môi trường và thiệt hại gây ra cho môi trường (phí bảo vệ
môi trường đối với nước thải, phí bảo vệ môi trường đối với khí thải) và tính
4 Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 651.

sản. Từ khái niệm phí bảo vệ môi trường đã đề cập ở trên, có thể hiểu một
cách khái quát:
Phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là khoản
tiền mà tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản phải nộp vào ngân

8 Các loại phí bảo vệ môi trường khác bao gồm: Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, khí thải;
Phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết; Phí thẩm
định phương án cải tạo, phục hồi môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường bổ sung.


21

sách Nhà nước nhằm tạo nguồn thu ngân sách để hỗ trợ cho công tác bảo vệ,
đầu tư cho môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản.
 Đặc điểm
Tìm hiểu về phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng
sản, ta thấy có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
là một trong những công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường đối
với hoạt động khai khoáng.
Công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường là những phương tiện chính
sách có tác dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế
thường xuyên tác động tới môi trường, nhằm mục đích tăng cường ý thức
trách nhiệm của con người trước việc gây ra sự hủy hoại môi trường9. Trong
hoạt động khai thác khoáng sản, bên cạnh các công cụ tài chính khác, việc
quy định phí bảo vệ môi trường có vai trò tác động tới các chủ thể khai thác
nhằm hạn chế hành vi xả thải của họ tới môi trường, khuyến khích họ đổi mới
khoa học, công nghệ khai thác, hướng tới khai thác có hiệu quả nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Về phía Nhà nước, công cụ phí giúp Nhà nước đạt được
kết quả quản lý và bảo vệ môi trường nhanh hơn, đạt được mục tiêu cao hơn

thực hiện dựa trên quy định khung của cơ quan Nhà nước cấp trung ương có
thẩm quyền.
 Phân biệt với thuế bảo vệ môi trường
Bên cạnh việc chỉ ra các đặc điểm của phí bảo vệ môi trường trong khai
thác khoáng sản, cũng cần phân biệt loại phí này với thuế bảo vệ môi trường.
Mặc dù cả hai đều là khoản thu thuộc ngân sách Nhà nước nhằm hình thành
nguồn tài chính để bảo vệ môi trường, nhưng giữa chúng có một số điểm khác
biệt cơ bản.
Thứ nhất, nếu đối tượng của thuế bảo vệ môi trường là lượng sản phẩm
của cơ sở sản xuất hoặc doanh thu do bán sản phẩm thì đối tượng của phí bảo
vệ môi trường là lượng chất gây ô nhiễm có trong dòng thải hoặc khối lượng,
số lượng các yếu tố vật chất là đối tượng tác động của hoạt động làm phát


23

sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường. Như vậy, trong khi phí bảo vệ
môi trường là khoản thu đánh vào chủ thể gây ô nhiễm môi trường theo
nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, thì thuế bảo vệ môi trường lại là
khoản thu đánh vào người sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm dựa trên nguyên tắc
người được hưởng lợi phải trả tiền (Benefits pay principle - BPP)10.
Thứ hai, thuế bảo vệ môi trường không mang tính hoàn trả trực tiếp,
nhưng phí bảo vệ môi trường lại mang tính hoàn trả trực tiếp rõ ràng. Có
nghĩa là chủ thể đóng thuế không nhận lại một lợi ích trực tiếp từ phía Nhà
nước và không được cung cấp một dịch vụ trực tiếp tương ứng với số tiền
thuế đã nộp; trong khi chủ thể nộp phí lại là chủ thể trực tiếp được hưởng lợi từ
dịch vụ bảo vệ môi trường được cung cấp Nhà nước và các tổ chức liên quan.
Thứ ba, phạm vi áp dụng thuế bảo vệ môi trường không có sự khác biệt
giữa các địa phương, ngành kinh tế, nhưng các khoản thu từ phí bảo vệ môi
trường lại có thể phân hóa theo địa phương, theo ngành kinh tế.


Thứ nhất, đối tượng chịu phí:
Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác

khoáng sản là hành vi khai thác các loại khoáng sản theo quy định của pháp
luật. Khoáng sản là các thành tạo hóa lý tự nhiên được sử dụng trực tiếp trong
công nghiệp hoặc có thể lấy ra từ kim loại và khoáng vật dùng cho các ngành
công nghiệp. Khoáng sản có thể tồn tại ở trạng thái rắn (quặng, đá), lỏng
(dầu) hoặc khí (khí đốt)11. Đây là các yếu tố vật chất mục tiêu của hoạt động
khai khoáng của con người – hoạt động trực tiếp làm phát sinh nguồn tác
động đối với môi trường.
Ngoài ra, do đặc điểm của khoáng sản là đa phần nằm sâu dưới lòng đất
và phân bố xen lẫn, không đồng đều giữa các lớp đất đá, do đó, khi tiến hành
khai thác khoáng sản tất yếu sẽ làm phát sinh đất đá thải. Nguồn đất đá này
khi được bóc tách cũng gây ra tác động không nhỏ đối với môi trường. Bởi
vậy, về nguyên tắc, hành vi làm phát sinh lượng đất đá bốc xúc thải sinh ra từ
quá trình khai thác quặng cũng sẽ là đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường.
11 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển Bách khoa
Việt Nam, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 516.


25

-

Thứ hai, chủ thể nộp phí:
Chủ thể nộp phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là tổ

chức, cá nhân tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản. Phạm vi chủ thể này
không chỉ là tổ chức, cá nhân Việt Nam mà còn bao gồm tổ chức, cá nhân


Thứ năm, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status