Pháp luật về bảo hiểm hưu trí và thực tiễn thực hiện tại thành phố ninh bình (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ QUỲNH OANH

ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ QUỲNH OANH

ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



BHXH

Bảo hiểm xã hội

3

NLĐ

Người lao động

4

NSDLĐ

Người sử dụng lao động


DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
2.8
2.9
2.10

Ninh Bình giai đoạn 2012 - 2016
Số thu BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Ninh Bình giai
62
đoạn 2012 – 2016
Tình hình đối tượng hưởng chế độ BHXH tự nguyện hàng tháng
63
trên địa bàn thành phố Ninh Bình giai đoạn 2012 – 2016
Số chi chế độ BHXH tự nguyện hàng tháng trên địa bàn thành phố
64
Ninh Bình giai đoạn 2012 – 2016
Số NLĐ hưởng chế độ BHXH một lần trên địa bàn thành phố Ninh
65
Bình giai đoạn 2012 – 2016
Số chi BHXH tự nguyện một lần trên địa bàn thành phố Ninh Bình
66
giai đoạn 2012 – 2016
Độ tuổi nghỉ hưu của một số quốc gia trên thế giới
74


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

1

Tính cấp thiết của đề tài

1


7

Bố cục luận văn

7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ VÀ

8

NỘI DUNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO
HIỂM HƯU TRÍ

1.1

Khái niệm bảo hiểm hưu trí

8

1.1.1

Định nghĩa và đặc điểm của bảo hiểm hưu trí

8

1.1.1.1

Định nghĩa bảo hiểm hưu trí


16

1.2

Nội dung quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm hưu trí

18

1.2.1

Chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc

18

1.2.1.1

Chế độ bảo hiểm hưu trí hàng tháng

18

1.2.1.2

Chế độ bảo hiểm xã hội một lần

31

1.2.2

Chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện



Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Ninh

45

Bình
2.1.1

Vị trí địa lý và tình hình kinh tế - xã hội

45

2.1.2

Cơ quan thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội ở thành phố

46

Ninh Bình
2.2

Tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí tại thành phố

48

Ninh Bình
2.2.1

Việc thực hiện chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc



65

2.2.3

Việc thực hiện chế độ hưu trí bổ sung

67

Kết luận chương 2

69

Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO

70

HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO
HIỂM HƯU TRÍ TẠI THÀNH PHỐ NINH BÌNH

3.1

Yêu cầu hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hiểm hưu trí

70

3.2

Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hiểm hưu


người lao động trong xã hội. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, bảo hiểm
hưu trí là một trong những lĩnh vực có ảnh hưởng tác động nhiều mặt đến đời
sống kinh tế xã hội của đất nước, vì vậy luôn được quan tâm để việc tổ chức,
quản lý và thực hiện có hiệu quả nhất. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế và
cơ cấu dân số xã hội, bảo hiểm hưu trí được xây dựng tương đối khác biệt
theo từng quốc gia.
Ở nước ta, chính sách bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm hưu trí nói
riêng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ những ngày đầu thành lập
Nước. Sắc lệnh số 54/SL ngày 01/11/1945 của Chính phủ đánh dấu những
quy định đầu tiên về điều kiện và mức lương hưu được hưởng của công chức
khi hết tuổi lao động. Tiếp đến là các Nghị định số 218 - CP ngày 27/12/1961
của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã
hội đối với công nhân, viên chức Nhà nước. Từ đó, chính sách bảo hiểm hưu
trí không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát
triển của đất nước, đặc biệt là từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ kế hoạch
hóa tập trung, bao cấp sang hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Ngày 29/6/2006, Quốc Hội thông qua Luật bảo hiểm xã hội
năm 2006 có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 là cột mốc quan trọng về việc hoàn


2

thiện hành lang pháp lý chế độ bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ bảo hiểm
hưu trí nói riêng.
Theo Nghị quyết số 21 – NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội giai đoạn 2012 – 2020 ngày
22/11/2012 đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có 50% lực lượng lao
động tham gia bảo hiểm xã hội; tốc độ phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm
xã hội bình quân các năm vừa qua vào khoảng 5-7%, vì vậy để đạt được mục
tiêu trên là một thách thức lớn đối với ngành bảo hiểm xã hội và hệ thống

về hệ thống hưu trí mang tính hệ thống phù hợp với những biến đổi dân số và
điều kiện kinh tế xã hội của đất nước; đồng thời phải công bằng, không phân
biệt khu vực kinh tế, đảm bảo bình đẳng giới, quan tâm đến quyền lợi của mọi
tầng lớp xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em chọn đề tài: “Pháp
luật về bảo hiểm hưu trí và thực tiễn thực hiện tại thành phố Ninh Bình”
làm luận văn thạc sĩ. Với mong muốn nghiên cứu các quy định của pháp luật
hiện hành về bảo hiểm hưu trí, qua đó nêu thực tiễn thực hiện tại thành phố
Ninh Bình nơi bản thân đang cư trú, để có được những phân tích sát với thực
tế áp dụng tại địa phương, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện
quy định của pháp luật về bảo hiểm hưu trí và một số kiến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về bảo hiểm hưu trí tại thành phố
Ninh Bình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí, các đề
tài luận án, luận văn, khóa luận về chế độ bảo hiểm hưu trí nhằm phân tích
những ưu điểm, hạn chế trong quy định của pháp luật; đề ra những giải pháp
hoàn thiện để sửa đổi bổ sung quy định pháp luật và chính sách Nhà nước để
các cơ quan chuyên môn, các ban ngành tham khảo. Cụ thể:


Sách, đề tài nghiên cứu khoa học:

-

Nguyễn Hiền Phương: Bình luận khoa học những nội dung cơ bản của

Luật bảo hiểm xã hội, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2016.




bảo hiểm xã hội năm 2014, Tạp chí Luật học, số 10, năm 2015.


Luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp:

-

Đỗ Văn Sinh: Tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với

hoạt động bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2005.
-

Nguyễn Hiền Phương: Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và

hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Hà Nội, năm
2005.
-

Nguyễn Thị Oanh: Pháp luật về bảo hiểm hưu trí tự nguyện. Những

vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ, Hà Nội, năm 2015.
-

Nguyễn Lệ Huyền: Bảo hiểm hưu trí – Thực trạng và kiến nghị, Luận

văn thạc sỹ, Hà Nội, năm 2015.
-



Nguyễn Vương Hoàng: Bảo hiểm xã hội hưu trí – Thực trạng và

phương hướng hoàn thiện, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội, năm 2012.
Những bài viết này tuy đã phân tích quy định của pháp luật về bảo hiểm
hưu trí, đề cập tới các vấn đề đang được đặt ra như tăng tuổi nghỉ hưu, điều
chỉnh mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội, các giải pháp
chi trả bảo hiểm đúng đối tượng… tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình
nghiên cứu nào toàn diện, phân tích cụ thể về các chế độ bảo hiểm hưu trí và
đặc biệt là thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Ninh Bình. Vì vậy, đây
sẽ là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm hưu trí và
thực tiễn thực hiện tại thành phố Ninh Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về
chế độ bảo hiểm hưu trí, qua đó phân tích thực tiễn thực hiện bảo hiểm hưu trí
tại thành phố Ninh Bình giai đoạn 2012 - 2016, từ đó đưa ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo hiểm hưu trí và một số kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện tại thành phố Ninh Bình.


6

Phạm vi nghiên cứu: tiếp cận vấn đề bảo hiểm hưu trí dưới góc độ pháp lý
bao gồm các nội dung về lý luận, quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn
thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí tại địa bàn thành phố Ninh Bình trên
các khía cạnh của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo
hiểm hưu trí bổ sung về: đối tượng đóng, điều kiện hưởng; mức hưởng và thời
điểm hưởng, việc thực hiện quy định hồ sơ và thủ tục giải quyết hưởng bảo
hiểm hưu trí hàng tháng và một lần.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

hiểm hưu trí tự nguyện trong cơ chế thị trường. Từ đó đề xuất các giải pháp
thiết thực nhằm hoàn thiện và nâng cao, chất lượng, hiệu quả công tác bảo
hiểm hưu trí trên địa bàn thành phố.
Vì vậy, luận văn có thể làm tài liệu để nghiên cứu, học tập và giảng dạy tại
các cơ sở đào tạo luật. Ngoài ra, luận văn còn có thể cung cấp kiến thức cho
các cán bộ làm công tác lao động – xã hội nói chung, những người làm công
tác bảo hiểm xã hội, đặc biệt là công tác bảo hiểm hưu trí nói riêng, giúp họ
thực thi chính sách và pháp luật về bảo hiểm hưu trí hiệu quả.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục các bảng, danh mục tài
liệu tham khảo; luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm hưu trí và nội dung quy định
pháp luật hiện hành về bảo hiểm hưu trí
Chương 2: Thực tiễn thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí tại thành phố Ninh
Bình
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực
hiện quy định pháp luật về bảo hiểm hưu trí tại thành phố Ninh Bình


8

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ VÀ NỘI DUNG
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ

1.1. Khái niệm bảo hiểm hưu trí
1.1.1.

Định nghĩa và đặc điểm của bảo hiểm hưu trí


chỉnh về BHXH: Luật về ốm đau (năm 1883), Luật về tai nạn (năm 1885),
Luật về hưu trí (năm 1888); sau đó nước Đức ban hành thêm Luật Bảo hiểm
thất nghiệp (năm 1927), Bảo hiểm chăm sóc y tế dài hạn (năm 1995) 2; các
loại hình bảo hiểm này được chia thành bảo hiểm bắt buộc do nhà nước quản
lý và loại hình bảo hiểm tự nguyện do các công ty tư nhân đảm nhiệm. Đến
những năm đầu thể kỉ XIX thì một số nước ban hành luật BHXH và tổ chức
thực hiện như ở Bỉ, Áo, Ý, Pháp; sau đó được lan rộng ở các nước châu Mỹ,
châu Âu và châu Á; BHXH dần dần đã trở thành trụ cột cơ bản của hệ thống
An sinh xã hội và được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền
con người, hiện nay có trên 180 nước có luật về BHXH.
Năm 1919, Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization ILO) ra đời, là cơ quan đặc biệt của Liên hợp quốc liên quan đến các vấn đề
về lao động, một trong các mục tiêu chiến lược của ILO là tăng phạm vi và
hiệu lực của bảo trợ xã hội. Theo quan niệm của ILO, an sinh xã hội là sự bảo
vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện
pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về
kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm
đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong3. Trong
đó, an sinh xã hội bao gồm: trợ giúp xã hội, BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp, các chương trình giảm nghèo….và có thể nói BHXH là trụ cột
quan trọng nhất.

Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật Bảo hiểm xã hội của một số nước trên
thế giới, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.318
3
Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh (2011), “Khái luận chung về an sinh xã hội”,
tại địa chỉ: http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/an-sinh-xahoi?p_p_id=EXT_ARTICLEVIEW&p_p_lifecycle=0&p_p_state=normal&p_p_col;
ngày truy cập 11/4/2017
2



Nội, tr181
4


11

1.1.1.2.

Đặc điểm của bảo hiểm hưu trí

Hầu hết mọi người tham gia BHXH đều là đối tượng của BHHT: nếu như
các chế độ BHXH khác chỉ áp dụng cho một số đối tượng lao động nhất định
(chế độ ốm đau áp dụng cho NLĐ bị ốm đau, tai nạn; chế độ thai sản áp dụng
chủ yếu đối với lao động nữ khi mang thai, sinh con; chế độ tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp chỉ áp dụng cho những NLĐ bị tai nạn lao động, bị bệnh
nghề nghiệp…) thì chế độ BHHT lại áp dụng cho tất cả các đối tượng tham
gia BHXH, ngoại trừ NLĐ chết khi trong độ tuổi lao động.6 Tất cả NLĐ khi
tham gia BHXH khi hết tuổi đều được hưởng BHHT, đây cũng là động lực
chính để NLĐ tham gia BHXH.
BHHT là một chế độ BHXH dài hạn nằm ngoài quá trình lao động và có sự
tách biệt giữa đóng và hưởng. Trong suốt quá trình lao động, NLĐ tham gia
đóng phí BHXH và khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng tham gia
quan hệ lao động nữa thì NLĐ sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí trong khoảng
thời gian tính từ lúc về hưu cho đến khi NLĐ chết. Quá trình hưởng này dài
ngắn bao nhiêu tùy thuộc vào tuổi thọ của từng người và những người hưởng
BHHT là những người đã kết thúc quá trình làm việc của mình mà theo quy
định được nghỉ làm việc và hưởng lương hưu. Trung bình ở Việt Nam, người
nghỉ hưu sẽ được hưởng lương hưu trung bình là 15 năm; còn số tiền NLĐ
đóng góp vào quỹ BHHT dùng để chi trả lương hưu, trợ cấp tuổi già cho thế
hệ trước, như vậy có sự kế thừa giữa các thế hệ lao động trong việc hình

BHXH là một trong những hình thức phân phối tổng sản phẩm quốc dân
nên việc thực hiện BHXH phải dựa trên cơ sở sự kết hợp hài hòa giữa cống
hiến và hưởng thụ7. Để đảm bảo hợp lý giữa đóng góp và hưởng thụ, phải căn
cứ vào mức đóng góp của NLĐ cho xã hội thể hiện qua mức đóng, thời gian
đóng…để từ đó quy định mức lương hưu và độ dài thời gian hưởng lương hưu
phù hợp với sự đóng góp cho xã hội của NLĐ.
BHXH xây dựng mức hưởng trên cơ sở mức đóng và chia sẻ giữa những
người tham gia BHXH nhằm góp phần thực hiện an sinh xã hội, trên tinh thần
“chia sẻ rủi ro”, “lấy số đông bù số ít”; mỗi NLĐ sẽ đóng góp một phần trong
thu nhập của mình để tạo lập quỹ nhưng vì nhiều người cùng đóng góp nên
tạo nên quỹ có giá trị lớn đảm bảo chi trả lương hưu hàng tháng, đủ để hỗ trợ
cho NLĐ khi về hưu hoặc không tham gia quan hệ lao động. Nhưng sự đóng
góp của họ sẽ có ý nghĩa rất lớn cho những đối tượng gặp phải những rủi ro
nghiêm trọng mà nếu không có sự chia sẻ, tương trợ cộng đồng sẽ gặp rất

7

Trường đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật An sinh xã hội, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr126


13

nhiều khó khăn trong cuộc sống; đây chính là mục đích thể hiện bản chất xã
hội của BHXH là sự chia sẻ rủi ro trong cộng đồng.
Thứ hai: Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương, tiền
công của NLĐ. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu
nhập do NLĐ lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương
tối thiểu chung.
Trên cơ sở mức sống, mức thu nhập bình quân thực tế của đại đa số NLĐ

hội được hưởng chế độ hưu trí do thời gian đóng BHXH được tính bằng tổng
thời gian đóng BHXH của 2 loại hình.
Thứ tư: Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh
bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ
thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước
quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
BHXH là chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội,
chứa đựng cả nội dung kinh tế, xã hội, pháp lý; để đảm bảo thực hiện hài hòa
các nội dung nói trên và đạt được mục tiêu mà BHXH đặt ra thì một trong
những vấn đề quan trọng là việc quản lý quỹ và sử dụng quỹ. Việc sử dụng
quản lý quỹ trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý và hạch toán theo quy
định pháp luật. Nhà nước với tư cách là chủ thể đại diện cho xã hội có trách
nhiệm thực hiện các chính sách xã hội, quản lý thông qua việc ban hành pháp
luật về BHXH, quy định cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động BHXH thống
nhất trong cả nước. Tùy thuộc vào điều kiện của đất nước trong từng thời kỳ
mà Nhà nước quy định chính sách quốc gia về BHXH cho phù hợp với thực
tiễn cuộc sống.
Thứ năm: Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo
đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.
Với nguyên tắc này việc thực hiện BHXH đối với NLĐ phải được nghiên
cứu để quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình, thời hạn giải quyết sao cho phù


15

hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NLĐ, NSDLĐ khi tham gia BHXH và
khi giải quyết hưởng các chế độ BHXH.
1.1.2.2.

Các nguyên tắc riêng

16

này nhằm khuyến khích NLĐ vào làm việc trong các ngành nghề và lĩnh vực
có điều kiện làm việc không thuận lợi, hoặc những công việc mà có tầm quan
trọng đối với an ninh đất nước có thể ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường
của họ9.
Trong chế độ hưu trí, sự ưu đãi thể hiện ở việc pháp luật cho phép họ được
nghỉ hưu ở độ tuổi sớm hơn so với quy định chung nhưng không phải trừ tỷ lệ
lương hưu vì thời gian nghỉ sớm. Pháp luật Việt Nam quy định NLĐ làm việc
trong những công việc nặng nhọc, độc hại, làm việc ở những vùng sâu, vùng
xa hoặc làm việc trong lực lượng vũ trang sẽ được nghỉ hưu sớm hơn so với
những lao động khác 5 tuổi.
1.1.3.

Vai trò của bảo hiểm hưu trí

BHHT có vai trò quan trọng đối với nhiều chủ thể. Cụ thể:
Đối với NLĐ: BHHT là phương pháp hữu hiệu nhất đảm bảo cho phần thu
nhập bị mất của NLĐ khi về già. BHHT thiết lập một quỹ tiền tệ chung trên
phạm vi rộng, có tính chất ổn định chắc chắn, được rút ra định kì và theo trình
tự thủ tục nhất định. Trên thực tế, NLĐ tự tiết kiệm thì khó có quá trình lâu
dài và không đảm bảo cho những nhu cầu về già được đáp ứng đầy đủ, nếu
được trích một tỉ lệ từ tiền lương từng tháng đóng trong một khoảng thời gian
nhất định sẽ tích góp được khoản tiền lớn và sử dụng có hiệu quả, vì vậy chế
độ BHHT có tính khả thi cao và thực tiễn đã giải quyết được nhu cầu vật chất
của NLĐ khi hết độ tuổi lao động.
Chế độ BHHT đảm bảo việc thực hiện quyền và lợi ích chính đáng của
NLĐ sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động đối với xã hội. Trong quá trình
lao động, khi NLĐ có sự đảm bảo về phần thu nhập khi nghỉ hưu sẽ tạo nên
tâm lí yên tâm để cống hiến sức lao động, tinh thần thoải mái để làm việc với

BHHT. Thời gian NLĐ hưởng chế độ hưu trí thường lâu dài nên chi phối tới
đời sống NLĐ hơn các chế độ BHXH khác, quỹ BHXH có an toàn hay không
phụ thuộc chính vào chế độ hưu trí thực hiện như thế nào. Ở Việt Nam hiện
nay, trong số 26% quỹ lương đóng BHXH thì có tới 22% dành cho chế độ
hưu trí và tử tuất; như vậy, hoạt động thu chi của chế độ hưu trí ảnh hưởng
lớn tới toàn bộ hoạt động của hệ thống BHXH.


18

1.2. Nội dung quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm hưu trí
1.2.1.

Chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.2.1.1.

Chế độ bảo hiểm hưu trí hàng tháng

a.

Đối tượng áp dụng

Căn cứ theo Điều 53 Luật BHXH năm 2014 thì đối tượng áp dụng chế độ
hưu trí là NLĐ là công dân Việt Nam:
-

Làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng

lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một

Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an

nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo
học được hưởng sinh hoạt phí;
-

Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có

hưởng tiền lương;
-

Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status