BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ HOÀI GIANG
ĐỀ TÀI
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG
Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ HOÀI GIANG
ĐỀ TÀI
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG
Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Corruption Practices Investigation Bureau
Cơ quan điều tra hành vi tham nhũng
LHQ
Liên Hợp Quốc
MOS
Ministry of Supervision
Bộ Giám sát Trung Quốc
PCA
The Prevention of Corruption Act
Luật chống tham nhũng Singapore năm 1960
PCTN
TI
Phòng, chống tham nhũng
Transparency International
Tổ chức Minh bạch Quốc tế
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Sơ đồ 1: Sơ đồ vị trí độc lập của Cơ quan điều tra hành vi tham nhũng Singapore
Sơ đồ 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Cơ quan điều tra hành vi tham nhũng Singapore
Sơ đồ 3:
Hình 1:
2.2. Thực hiện qui định pháp luật về tổ chức bộ máy phòng, chống tham nhũng ... 42
2.3. Thực hiện qui định pháp luật về đạo đức của cán bộ, công chức nhà nước trong
phòng, chống tham nhũng ............................................................................................. 54
2.4. Thực hiện qui định pháp luật về trừng trị nghiêm khắc các hành vi phạm tội
tham nhũng..................................................................................................................... 63
2.5. Thực hiện qui định pháp luật về bảo vệ người tố cáo tham nhũng .................... 67
2.6. Thực hiện qui định pháp luật về hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham
nhũng............................................................................................................................... 69
Chương 3. MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG
XÂY DỰNG, TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG
CHỐNG THAM NHŨNG ............................................................................ 72
3.1. Khái quát về pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật phòng, chống ở Việt
Nam hiện nay.................................................................................................................. 72
3.2. Những kinh nghiệm trong xây dựng pháp luật phòng, chống tham nhũng ..... 76
3.3. Những kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện pháp luật phòng, chống tham
nhũng............................................................................................................................... 79
KẾT LUẬN .................................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 100
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng xuất hiện từ khi có sự ra đời nhà nước và là một hiện tượng xã hội tiêu
cực, gây ra nhiều nguy hại đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các
quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trước những nguy cơ của tham
nhũng, trong nhiều nghị quyết, Đảng ta đã xác định rõ nhiệm vụ là phải thực hiện có
2
được cho là nghiêm trọng”.2 Kết quả này cũng tương đồng với nhận định của Chính
Phủ và ý kiến đánh giá của Ủy ban Tư pháp Quốc hội về báo cáo tổng kết công tác
PCTN năm 2016 của Chính Phủ Việt Nam. Điều này có nghĩa là pháp luật của nước
ta đã có và khá đầy đủ nhưng khâu thực hiện pháp luật chưa tốt, dẫn đến hiệu quả
và kết quả của công tác PCTN chưa cao.
Trong khi đó, một số quốc gia trong khu vực Châu Á nói chung và Đông
Nam Á nói riêng với chúng ta lại đạt được những kết quả về phòng, chống tham
nhũng rất đáng ghi nhận. Nổi bật trong số đó là Singapore với số điểm 84/100, đứng
thứ 7/176 quốc gia; Hồng Kông: 77/100 điểm, xếp hạng 15/176; Nhật Bản 72/100
điểm, xếp hạng thứ 20; Malaysia: 49/100 điểm xếp hạng 55/176 quốc gia; Trung
Quốc: 40/100 điểm, xếp hạng 79/176 quốc gia v.v…3 Có được những kết quả như
trên, chắc hẳn công tác thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng ở các quốc
gia này đóng góp phần không nhỏ. Điều đó có nghĩa là, công tác phòng, chống tham
nhũng nói chung và thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng nói riêng tuy
khó, nhưng không phải là không thể thực hiện được, chỉ là việc thực hiện ở Việt
Nam chưa đúng cách, chưa đạt được hiệu quả cao.
Do vậy, việc học hỏi các kinh nghiệm về thực hiện pháp luật có hiệu quả ở
các nước bạn là một trong những yêu cầu cần thiết trong công tác đấu tranh chống
tham nhũng hiện nay ở nước ta. Điều đó cũng góp phần lý giải cho câu hỏi vì sao
nước bạn chống tham nhũng thành công nhưng chúng ta thì vẫn còn nhiều hạn chế.
Công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam được các cơ quan chức năng đánh
giá là thực sự khó khăn, phức tạp, nhạy cảm. Thế nhưng, càng như vậy, chúng ta lại
càng cần phải nêu cao tinh thần đấu tranh, quyết tâm ngăn chặn tệ nạn này đến cùng
giống như nước bạn Singapore, Nhật Bản, Hồng Kông Trung Quốc v.v… đã và
đang làm được. Đó cũng chính là động lực để tôi lựa chọn nghiên cứu về đề tài
phòng, chống tham nhũng để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình, nhằm góp
phần nhỏ bé vào việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng ở nước ta, với
đây có công trình nghiên cứu tầm luận án tiến sĩ của Tiến sĩ Trần Đăng Vinh với đề
tài “Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” vào
năm 2012. Như vậy, có thể thấy việc nghiên cứu về công tác PCTN chủ yếu mới chỉ
đề cập đến vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật, còn những công trình đề cập
đến việc thực hiện pháp luật PCTN và đặc biệt là việc thực hiện pháp luật PCTN ở
các nước trên thế giới để rút ra kinh nghiệm cho công cuộc thực thi pháp luật PCTN
tại Việt Nam, hầu như còn rất ít.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tình hình thực
hiện pháp luật về PCTN ở một số nước trên thế giới trên phương diện đánh giá tính
hiệu quả, nghiêm minh của hoạt động này, qua đó nghiên cứu và chỉ ra các kinh
nghiệm phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật PCTN tại nước ta.
Phạm vi nghiên cứu: Thực hiện pháp luật về PCTN là một đề tài tương đối
rộng lớn. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả và chất lượng, luận văn chỉ có điều kiện
tập trung nghiên cứu sâu về tình hình thực hiện pháp luật PCTN trong khu vực nhà
nước, hay còn gọi là khu vực công. Ngoài ra, cũng do việc thực hiện pháp luật
4
PCTN ở các nước trên thế giới cũng rất đa dạng nên với điều kiện có hạn, luận văn
chỉ có thể tập trung nghiên cứu về tình hình thực hiện pháp luật PCTN tại hai quốc
gia láng giềng, có những điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa với nước ta và có thứ
hạng trên Việt Nam khá nhiều bậc trong Bảng xếp hạng Chỉ số cảm nhận tham
nhũng (CPI) 2016 của Tổ chức minh bạch quốc tế đó là: Singapore và Trung Quốc.
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là
làm sáng tỏ những vấn đề lí luận về tham nhũng, pháp luật PCTN và thực hiện pháp
luật PCTN, từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực tiễn các quy định của pháp
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
1.1. Lý luận về pháp luật phòng, chống tham nhũng và thực hiện pháp luật về
phòng, chống tham nhũng
1.1.1. Pháp luật phòng, chống tham nhũng
1.1.1.1. Khái niệm tham nhũng
“Tham nhũng” là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu
khắp các quốc gia. Theo tiếng Hán, “tham nhũng” được viết là
貪冗
4
, gồm chữ
“tham” trong từ “tham lam” và chữ “nhũng” trong từ “nhũng tạp” hợp thành. Trong
cuốn Hán – Việt tân từ điển, tác giả cho rằng “tham nhũng” theo cách viết tiếng
Hán ở trên có nghĩa là “ham muốn tiền bạc và hạch sách đòi hỏi”5. Tuy nhiên,
người Trung Quốc thường không sử dụng từ “tham nhũng” viết như trên trong cách
hành văn của mình mà sử dụng chữ “tham ô” - 貪污6 hoặc “hủ bại” - 腐敗7. Chữ “ô”
trong từ “ô nhiễm”, “ô uế” - danh từ dùng để chỉ một vật dơ bẩn, nếu là tính từ thì
thể hiện tính chất vẩn đục, dơ bẩn, không liêm khiết, nên được sử dụng để ghép với
chữ “tham” trở thành một “lòng ham muốn dơ bẩn” và thường được dùng để chỉ
đám “quan lại gian tham, tham lợi bỏ nghĩa, lợi dụng quyền chức để lấy tiền của” 8.
Tuy nhiên, dù là sử dụng “tham ô” hay “tham nhũng”, thì hai chữ này trước hết đều
ám chỉ tới một lòng tham, không trong sạch, vượt quá chuẩn mực cho phép và đạo
đức xã hội bởi nó được xuất phát từ những người lợi dụng quá trình thực hiện công
vụ được Nhà nước giao để mưu lợi bất chính.
Trong Tiếng Anh, thuật ngữ “tham nhũng” được biểu hiện dưới danh từ
“corruption” và các loại từ của nó như: tính từ “corrupt” - “bị đút lót, bị mua
mục nát, thối nát” hoặc “sự sửa đổi, làm sai lệch”, là hiện tượng cần được loại bỏ.
Tổ chức minh bạch quốc tế - một tổ chức phi chính phủ ra đời năm 1993
nhằm bài trừ nạn tham nhũng đã đưa ra cách định nghĩa về tham nhũng, theo đó,
“corruption” được hiểu đơn giản là “the abuse of entrusted power for private gain”,
nghĩa là “sự lạm dụng quyền lực được giao phó để chiếm đoạt các khoản lợi cá
nhân”.12 Từ những khái niệm và quan niệm cơ bản được thừa nhận rộng rãi, mỗi
quốc gia đều xây dựng cho mình những khái niệm chính thức về “tham nhũng”, tạo
điều kiện cho việc ngăn chặn và đẩy lùi hành vi này ở quốc gia mình. Tại Việt Nam,
khái niệm “tham nhũng” được quy định chính thức lần đầu tiên tại Pháp lệnh phòng,
chống tham nhũng năm 1998. Và sau này, tới năm 2005, khi Luật phòng, chống
tham nhũng của nước ta lần đầu tiên được ra đời, khái niệm này đã được sửa đổi, bổ
sung, theo đó: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi
dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” (Khoản 2, Điều 1, Luật PCTN 2005). Hiện
nay, Dự thảo Luật PCTN 2016, đã được xây dựng về cơ bản và công bố để lấy ý
kiến của nhân dân, thế nhưng khái niệm “tham nhũng” theo bản Dự thảo cũng
không có sự sửa đổi, bổ sung so với Luật PCTN năm 2005.
Trên cơ sở các khái niệm trên, có thể thấy, tham nhũng được nhận diện từ
các đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, chủ thể của hành vi tham nhũng là những người có chức vụ, quyền
hạn. Các định nghĩa về “tham nhũng” tuy khác nhau về cách diễn đạt những đều
thống nhất ở đặc điểm này. Chỉ người có chức vụ quyền, hạn mới có khả năng lạm
dụng chức vụ, quyền hạn của mình được giao để thao túng, lũng đoạn các chuẩn
10
Nguyễn Thế Tâm (2017), “Nhận diện về tham nhũng” , Báo Hợp tác & phát triển, tại địa chỉ :
http://baohoptacphattrien.vn/nhan-dien-ve-tham-nhung.html ngày truy cập 25/4/2017.
11
Nguyễn Thế Tâm (2017), “Nhận diện về tham nhũng” , Báo Hợp tác & phát triển, tại địa chỉ :
http://baohoptacphattrien.vn/nhan-dien-ve-tham-nhung.html ngày truy cập 25/4/2017
12
của nhà nước hoặc cũng có thể là từ chính ngân sách nhà nước thông qua các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Ở Việt Nam, từ trước tới nay, khái
niệm tham nhũng mới luôn chỉ được giới hạn trong khu vực công, nghĩa là “hành vi
của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”
(Khoản 2, Điều 1, Luật PCTN năm 2005) với chủ thể của hành vi là những người
được giao thực hiện công vụ nói chung. Vì thế, những hành vi vụ lợi trong khu vực
tư xảy ra không được khép vào tội tham nhũng mà được xếp vào các nhóm tội xâm
phạm quyền sở hữu của tổ chức, công dân như trộm cắp tài sản; lợi dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản, tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế v.v… Điều này tạo ra sự
không công bằng trong việc xử lý các hành vi vụ lợi cá nhân giữa khu vực nhà nước
8
và khu vực ngoài nhà nước, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường cạnh tranh tự do,
lành mạnh của các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu
của Công ước Liên Hợp Quốc về PCTN cũng như mong mỏi của các công ty sử
dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, khái niệm tham nhũng trong khu
vực tư đang dần được các nhà làm luật Việt Nam chấp nhận, thông qua việc sửa đổi
Bộ luật Hình sự năm 1999 và Luật PCTN 2005. Hiện nay, tuy chưa được thông qua
nhưng Dự thảo Luật PCTN năm 2016 của nước ta đã mở rộng hơn phạm vi điều
chỉnh của Luật PCTN, quy định thêm một đối tượng được coi là chủ thể của hành vi
tham nhũng đó là “Người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong tổ chức, doanh
nghiệp ngoài nhà nước…, các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng tiền, tài
sản của Nhà nước và tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước” (Điểm đ, Khoản 5,
Điều 3, Dự thảo Luật PCTN năm 2016). Đây có thể được xem như một bước tiến
mới trong công cuộc quét sạch và đẩy lùi tham nhũng ở nước ta.
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, công cuộc đấu tranh chống tham nhũng
trong khu vực nhà nước vẫn còn đang là vấn đề nổi cộm. Các quốc gia tiên tiến trên
thế giới trước khi quét sạch tệ nạn tham nhũng trong tất cả các ngành, lĩnh vực bao
phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp
vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh
đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người
được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực thi nhiệm vụ,
công vụ đó (Khoản 3, Điều 1, Luật PCTN 2005).
Nhìn chung, nhóm đối tượng này có nhiều điểm đặc biệt, họ được bầu cử,
tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc tại các cơ quan công quyền, giữ những quyền
hạn nhất định, trên thực tế, có nhiều trường hợp người có hành vi tham nhũng có
quá trình công tác lâu dài, nhiều năm kinh nghiệm, là những người có quan hệ rộng
và uy tín xã hội nhất định, do đặc thù và tính chất công việc mà họ đảm nhận.
Thứ hai, chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao. Đây là
đặc điểm thứ hai của “tham nhũng” và cũng là đặc điểm của các tội phạm chức vụ
khác nói chung. Những người có chức vụ, quyền hạn nêu trên không thể thực hiện
được hành vi tham nhũng cũng như các hành vi phạm tội chức vụ khác nếu không
lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao của mình. Việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn
có thể là lợi dụng tầm ảnh hưởng của mình có được thông qua chức vụ, quyền hạn
đối với người khác để buộc họ làm hoặc không làm các việc trái với quy định của
pháp luật hoặc lợi dụng chính những nhiệm vụ được giao của mình, không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Lúc này
chức vụ, quyền hạn của các chủ thể của hành vi phạm tội được xem như là một
phương tiện để thông qua hành vi phạm tội, người đó đạt được những mục đích cá
nhân, trái pháp luật.
Thứ ba, mục đích của hành vi tham nhũng là vì vụ lợi. Những lợi ích mà
người có hành vi tham nhũng “gặt hái được” có thể là tiền bạc hoặc những lợi ích
về tinh thần chỉ dành riêng cho bản thân người có chức vụ, quyền hạn hoặc người
10
nước là một hành vi dơ bẩn, cản trở đến sự phát triển chung của toàn xã hội và cần
thiết được loại bỏ. Nhà nước vốn là một “tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao
gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ
chức và quản lí xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội, cũng như lợi ích của
11
lực lượng cầm quyền trong xã hội”13, vì vậy nếu như những cán bộ, công chức nhân
danh Nhà nước lại lạm dụng quyền lực được trao không nhằm phục vụ lợi ích
chung của toàn xã hội mà là phục vụ cho những lợi ích cá nhân thì sẽ gây ra các tại
hại khôn lường. Tham nhũng làm hỏng những nền tảng xã hội của một đất nước, nó
làm suy yếu lòng tin của người dân vào hệ thống chính trị, đường lối, chủ trương
của đảng cầm quyền và chính sách, pháp luật của nhà nước. Ngày nay, ở nhiều quốc
gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, suy thoái môi trường ngày càng nghiêm
trọng cũng được coi là một trong những hệ quả của tham nhũng. Việc hối lộ để các
quy định của pháp luật về môi trường không được thi hành đầy đủ, nghĩa là các
nguồn tài nguyên thiên quý giá bị khai thác một cách thiếu thận trọng, gây ra sự tàn
phá đến toàn bộ hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, vấn nạn khai thác gỗ
và xả khí thải ra bầu không khí, đất, nước v.v…Theo nghiên cứu của Tổ chức minh
bạch quốc tế, các công ty trên toàn cầu sẵn sàng trả một khoản tiền hối lộ cho các
quan chức có liên quan, bất chấp việc hủy hoại môi trường, nhằm mục tiêu lợi
nhuận.14
Dưới những tác động nguy hiểm của tham nhũng trong khu vực công, nhiệm
vụ được đặt ra cho tất cả các quốc gia ngay từ khi thiết lập chính quyền đó là phải
phòng chống nghiêm khắc tệ nạn này, kiểm soát sự lạm quyền, thao túng quyền lực
để lũng đoạn về chính trị, kinh tế. Chính vì vậy, một trong những công cụ hữu hiệu
mà một nhà nước có thể sử dụng để PCTN đó là ban hành pháp luật về vấn đề này.
Ở hầu hết các nước trên thế giới, các tội phạm về tham nhũng được quy định trong
Bộ luật hình sự và đồng thời bên cạnh đó là một đạo luật riêng được đặt bên cạnh
tranh chống tham nhũng của các nước trên thế giới.
1.1.1.2. Khái niệm pháp luật phòng, chống tham nhũng
Trong thực tế, đối với những hiện tượng tiêu cực xảy ra trong cuộc sống
hàng ngày cũng như đời sống xã hội, chúng ta vẫn hay bắt gặp cụm từ “phòng
chống” để ngụ ý về sự loại bỏ chúng. Hiểu theo ý nghĩa trên, thì động từ “chống” ,
theo Từ điển Tiếng Việt, có nghĩa là “làm trái lại, cự lại, đối địch lại, tìm cách xóa
bỏ”.15 Thế nhưng, có rất nhiều những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, không thể
cứ dùng biện pháp chống lại, xóa bỏ mà chúng sẽ biến mất theo ý muốn của con
người mà chúng sẽ còn dai dẳng mãi, bị xóa bỏ ở hình dạng này, sẽ lại tồn tại trong
hình dạng khác, dưới hoạt động của các chủ thể khác, điển hình trong số đó là “tội
phạm”. Vì vậy, để đạt được hiệu quả loại bỏ cao nhất, đối với những hiện tượng tiêu
cực, người ta không chỉ chống lại chúng mà còn cần thiết phải phòng ngừa chúng,
không cho chúng xảy ra, hay nói cách khác “phòng phải đi đôi với chống”. Chữ
“phòng” ở đây mang ý nghĩa “đề phòng”, “ngăn ngừa”16.
Và điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với công tác ngăn chặn, đẩy lùi và xóa
bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Ở nước ta, từ ngay sau khi thành lập Nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Xét xử là tốt,
nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn”17. Nghĩa là, công tác xử lý tội phạm
nên lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống tội
phạm tốt. Yêu cầu trước hết là phải ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm ngay từ đầu
15
GS. Bùi Quang Tịnh, Bùi Thị Tuyết Khanh (2000), Từ điển Tiếng Việt – Ngôn ngữ học Việt Nam, Nxb.
Thanh niên, Hà Nội, tr.252
16
GS. Bùi Quang Tịnh, Bùi Thị Tuyết Khanh (2000), Từ điển Tiếng Việt – Ngôn ngữ học Việt Nam, Nxb.
Thanh niên, Hà Nội, tr.858
17
Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995
Qua đây, ta nhận thức được trách nhiệm chủ chốt của Nhà nước trong công
tác PCTN. Bất cứ tổ chức, cá nhân nào cũng đều có thể là chủ thể phát hiện tham
nhũng nhưng công tác phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý tham nhũng chỉ được thực
18
Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995
Trần Đăng Vinh (2012), Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Luận án
Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.16
20
Trần Đăng Vinh, tldd, chú thích 19.
19
14
hiện và thực hiện có hiệu quả bởi Nhà nước. Do vậy, Nhà nước sử dụng công cụ
điều chỉnh các quan hệ xã hội hữu hiệu nhất của mình, đó là là pháp luật, để bảo
đảm việc PCTN có hiệu quả và tuân theo một trật tự nhất định. Pháp luật là hệ
thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực
hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà
nước.21 Do vậy, không nằm ngoài nội hàm của khái niệm trên, pháp luật PCTN
trước hết cũng phải là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và
bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động PCTN (phòng
ngừa, xử lý và phát hiện tham nhũng). Các quy tắc này được tồn tại dưới dạng các
quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện. Các quy phạm
này, ở một số quốc gia, được tập hợp thành một văn bản luật hoặc đạo luật điều
chỉnh riêng về PCTN có tên gọi là Luật PCTN hoặc Luật chống tham nhũng hoặc
được tập hợp thành một số văn bản luật điều chỉnh cụ thể về một vấn đề liên quan
đến tham nhũng như đạo đức công chức, kê khai tài sản v.v…hoặc ở một số quốc
định pháp luật và các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng ngừa, phát hiện và
xử lý tham nhũng. Về hình thức bên ngoài, pháp luật PCTN chủ yếu được thể hiện
dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật, có thể là một văn bản luật điều chỉnh
riêng hoặc nhiều văn bản khác nhau trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật.
1.1.1.3. Nội dung pháp luật phòng, chống tham nhũng
Pháp luật PCTN được ban hành khác nhau ở các quốc gia, thế nhưng về cơ
bản, nội dung của pháp luật PCTN bao gồm những nhóm quy định cơ bản sau, để
đảm bảo hoạt động phòng, chống tham nhũng đạt được hiệu quả cao:
Một là, nhóm các quy định xác định rõ hành vi nào là hành vi tham nhũng,
chủ thể của hành vi tham nhũng;
Hai là, nhóm các quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan PCTN
và điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng
ngừa tham nhũng; các quan hệ giữa các cơ quan chức năng của nhà nước với các tổ
chức, cá nhân trong việc phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng;
Ba là, nhóm các quy định về các biện pháp được áp dụng để phòng ngừa
tham nhũng như đạo đức công chức, việc kiểm soát nguồn tài chính, kê khai tài sản
của công chức;
Bốn là, nhóm các quy định về xử lý hành vi tham nhũng hay là những biện
pháp cưỡng chế nhà nước và áp dụng chế tài pháp luật đối với các chủ thể có hành
vi đó (cách thức trừng trị đối với tội phạm tham nhũng). Thông thường, biện pháp
được các quốc gia áp dụng cho hành vi tham nhũng là biện pháp hình sự, hành
chính hoặc kỷ luật và các biện pháp như buộc sung công tài sản tham nhũng, tùy
theo tính chất, mức độ của hành vi tham nhũng.
Năm là, nhóm quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo tham nhũng, bao
gồm các quy định về việc bảo mật các thông tin cá nhân của người cung cấp thông
tin cũng như chế tài cho các hành vi tiết lộ thông tin cá nhân người cung cấp thông
tin của các cơ quan, cá nhân thực thi pháp luật có nghĩa vụ phải bảo mật và các chế
tài dành cho hành vi trả thù của người bị tố cáo tham nhũng.
Sáu là, nhóm quy định pháp luật về hợp tác quốc tế trong đấu tranh PCTN.
hiện có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa tham nhũng cũng như phát hiện và xử
lý nghiêm minh đối với các hành vi tham nhũng”.
1.1.2.2. Chủ thể thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng
Pháp luật phòng, chống tham những không quy định hoàn toàn giống nhau ở
tất cả các nước, nhưng nhìn chung, trách nhiệm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực
này thuộc về các chủ thể như sau:
22
Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà
Nội, tr. 403
17
* Các cơ quan nhà nước: như đã nói ở trên, công tác phòng ngừa, ngăn
chặn và xử lý tham nhũng chỉ được thực hiện và thực hiện có hiệu quả nhất bởi Nhà
nước, vì vậy các cơ quan nhà nước là chủ thể đặc biệt quan trọng, có trách nhiệm
thực hiện pháp luật về PCTN. Tuy nhiên, tùy từng pháp luật PCTN của mỗi quốc
gia mà các cơ quan nhà nước là chủ thể có trách nhiệm thực hiện pháp luật PCTN
được phân theo các loại khác nhau:
Một là, các cơ quan nhà nước có chức năng chuyên trách về chống tham
nhũng. Đây là chủ thể có trách nhiệm thực hiện pháp luật PCTN đối với pháp luật
của các quốc gia có quy định về cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
chuyên trách về chống tham nhũng, tiêu biểu là Singapore với Cơ quan chống hành
vi tham nhũng (Corrupt Practices Investigation Bureau); hoặc là Malaysia với Ủy
ban chống tham nhũng (Anti-Corruption Agency) v.v…Các cơ quan này có trách
nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
trong điều tra và tiến hành các chiến dịch chống tham nhũng, để đảm bảo việc phát
hiện và xử lý tham nhũng.
Hai là, các cơ quan nhà nước có chức năng bảo vệ pháp luật. Đây là chủ
* Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, công dân. Đây là các chủ thể
nằm ngoài bộ máy nhà nước, do vậy họ không phải là chủ thể của hành vi tham
nhũng trong khu vực nhà nước. Về cơ bản, các chủ thể này có trách nhiệm thi hành
luật phòng, chống tham nhũng ở các khía cạnh như thực hiện nghĩa vụ hợp tác, giúp
đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện và xử lý tham
nhũng.
Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, công dân
đều có thể là chủ thể của hành vi đưa hối lộ hoặc môi giới hối lộ. Pháp luật của một
số quốc gia cho rằng tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ đều được khép vào nhóm tội
phạm tham nhũng, điều đó, đồng thời với việc pháp luật phòng, chống tham nhũng
của họ mở rộng đối tượng là chủ thể của hành vi tham nhũng ra cả các đối tượng
thuộc khu vực ngoài nhà nước. Nhưng ở một số nước, trong đó có Việt Nam, tội
đưa hối lộ chỉ được xếp vào “Nhóm các tội phạm về chức vụ khác” chứ không được
xếp vào “Nhóm tội phạm tham nhũng” (Chương XXI, Bộ luật hình sự 1999 và
Chương XXIII, BLHS năm 2015). Có thể thấy hành vi đưa hối lộ và môi giới hối lộ
cũng là một phần quan trọng của các vụ án tham nhũng, việc các cơ quan, đơn vị, tổ
chức, doanh nghiệp, công dân thực hiện nghiêm túc các quy định của luật phòng,
chống tham nhũng, không thực hiện hành vi đưa cho người có chức vụ, quyền hạn
bất kỳ một lợi ích nào để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một
việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì pháp luật phòng, chống
tham nhũng hoàn toàn có thể được thực thi mang lại những kết quả tốt trên thực tế.
1.1.2.3. Hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng
Theo lí luận chúng về nhà nước và pháp luật, việc thực hiện hiện pháp luật
được tồn tại dưới bốn hình thức, đó là: tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử
dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Có thể thấy pháp luật về phòng, chống tham
nhũng được thực hiện ở các bốn hình thức nói trên:
19
quyền yêu cầu các tổ chức cá nhân bị giám sát cung cấp các tài liệu phục vụ cho
việc điều tra của mình. Đây là hình thức mà cơ quan giám sát của Trung Quốc thực
23
Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Huy Hoàng (chủ biên, 2003), Pháp luật chống tham nhũng của các nước trên
thế giới, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội tr. 74