BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
LÊ VĂN HUY
HẠN CHẾ CẠNH TRANH THÔNG QUA CHỈ ĐỊNH THẦU
TỪ THỰC TIỄN TẠI TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG
MOBIFONE HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI –2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
LÊ VĂN HUY
HẠN CHẾ CẠNH TRANH THÔNG QUA CHỈ ĐỊNH THẦU
TỪ THỰC TIỄN TẠI TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG
MOBIFONE HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lê Văn Huy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................... 2
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................... 3
4. Mục tiêu, nhiệm vụ của việc nghiên cứu luận văn ................................... 3
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu ...................................... 4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.................................................................... 5
7. Bố cục của luận văn..................................................................................... 5
Chƣơng 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠN CHẾ CẠNH
TRANH VÀ CHỈ ĐỊNH THẦU ..................................................................... 6
1.1. Khái quát chung về hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh .. 6
1.1.1. Khái niệm về hạn chế cạnh tranh ......................................................... 6
1.1.2. Nội dung pháp luật về hạn chế cạnh tranh .......................................... 9
1.1.2.1. Xác định thị trường liên quan .............................................................. 9
1.2.1.2. Xác định thị phần liên quan ............................................................... 12
1.1.2.3. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ......................................................... 13
1.1.2.4. Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền ................ 17
1.1.2.5. Tập trung kinh tế ................................................................................ 21
1.2.Khái quát chung về chỉ định thầu ......................................................... 24
1.2.1.Khái niệm về chỉ định thầu................................................................... 24
1.2.2.Đặc điểm của chỉ định thầu .................................................................. 25
2.3.1. Nhu cầu nâng cao cạnh tranh trong hoạt động chỉ định thầu .......... 65
2.3.2. Một số biện pháp nâng cao cạnh tranh trong pháp luật chỉ định thầu
......................................................................................................................... 67
2.3.3. Một số kiến nghị nâng cao cạnh tranh trong pháp luật chỉ định thầu
......................................................................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đấu thầu được biết đến là một phương thức lựa chọn đối tác cung cấp
hàng hóa, cung ứng dịch vụ mang lại nhiều lợi ích kinh tế to lớn. Đặc biệt, đối
với các dự án, công trình có quy mô lớn, có yêu cầu kỹ thuật phức tạp; các dự
án, công trình được đầu tư bằng ngân sách nhà nước tài trợ của các tổ chức
quốc tế hoặc chính phủ nước ngoài thì đấu thầu là phương thức tốt nhất để
đáp ứng được các đòi hỏi của chủ đầu tư về chất lượng công trình, tiến độ
thực hiện, tiết kiệm chi phí xây dựng. Tuy nhiên, thực tế thực hiện công tác
đấu thầu trong những năm qua nảy sinh rất nhiều vấn tiêu cực như hiện tượng
bán thầu, đấu thầu giả, thông đồng, phá giá bỏ thầu, thiên vị trong đánh giá hồ
sơ dự thầu… đã làm hạn chế cạnh tranh giữa các nhà thầu khiến cho hoạt
động đấu thầu không phát huy được hiệu quả.
Trong đó việc thường xuyên áp dụng hình thức chỉ định đầu là hành vi
luôn mang bản chất hạn chế cạnh tranh phá vỡ tính cạnh tranh trong hoạt
động đấu thầu. Vì vậy, nhiều nước trên thế giới đã có quy định nhằm hạn chế
áp dụng đối với hình thức này trong các văn bản pháp lý khác nhau, thậm chí
ở một số nước đã sử dụng những chế tài nghiêm khắc trong đó bao gồm cả
việc sử dụng chế tài hình sự để xử lý các chủ thể thường xuyên áp dụng hình
(2012), “Pháp luật điều chỉnh các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam
hiện nay” (Sách chuyên khảo), NXb.Chính trị - hành chính, Hà Nội; Phạm
Linh Chi, “Pháp luật về chỉ định thầu ở Việt Nam – Thực trạng và giải
pháp”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2014…
Quy định pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong
lĩnh vực đấu thầu cũng được đề cập sơ lược trong một số bài viết trên tạp chí:
Th.S. Nguyễn Ngọc Sơn, “Cơ chế cạnh tranh và sự thông đầu trong đấu
thầu” Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 2/2006; Phùng Văn Thành, “Một số dấu
hiệu cơ bản nhận biết hành vi thông đồng giữa các bên dự thầu trong đấu
3
thầu” Tạp chí đăng trên Website của Cục quản lý cạnh tranh. Và trong
chương trình Hội thảo do Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương tổ chức
với chủ đề “Quản lý nhà nước đối với hành vi thông thầu” diễn ra ngày 22
tháng 03 năm 2011.
Một mặt, các đề tài trên đã nói lên được những ưu điểm cũng như
những bất cấp của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong đấu thầu. Mặt khác,
các đề tài đã góp phần không nhỏ giúp hoàn thiện pháp luật liên quan đến hạn
chế cạnh tranh trong hoạt động đấu thầy phù hợp hơn với thực tiễn.
Tuy nhiên, mặc dù có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hạn chế cạnh tranh
và pháp luật về chỉ định thầu nhưng chưa có đề tài nào đề cập, đi sâu nghiên
cứu đến vấn đề hạn chế cạnh tranh trong chỉ định thầu. Vì vậy, tác giả mạnh
dạn chọn đề tài “Hạn chế cạnh tranh thông qua chỉ định thầu từ thực tiễn tại
Tổng Công ty Viễn thông MobiFone” với mong muốn sẽ góp một phần nhỏ
hoàn thiện hơn nữa để hệ pháp luật về hạn chế cạnh tranh và hệ thống pháp
luật đấu thầu phù hợp hơn với thực tiễn.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm pháp lý các văn
(i) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin;
(ii) Hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
(iii) Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu cụ thể như:
5
- Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử… được sử
dụng khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận về pháp luật hạn chế
cạnh tranh và chỉ định thầu.
- Phương pháp so sánh luật học, phương pháp bình luận, diễn giải,
phương pháp phân tích v.v…được sử dụng khi tìm hiểu quy định pháp luật
cạnh tranh về đấu thầu và thực trạng thực hiện pháp luật chỉ định thầu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn có những đóng góp sau đây:
- Trình bày những vấn đề cơ bản của pháp luật về hạn chế cạnh tranh
và chỉ định thầu từ đó làm rõ những vấn đề có tính đặc thù của pháp luật hạn
chế cạnh trạnh về chỉ định thầu.
- Đưa ra những đánh giá của pháp luật cạnh tranh về đấu thầu và chỉ
định thầu và thực tiễn thực hiện chỉ định thầu.
- Đưa ra những kiến nghị hoàn thiện, thống nhất pháp luật về chỉ định
thầu và một số biện pháp nâng cao hiệu quả pháp luật chỉ định thầu.
7. Bố cục của luận văn
Bố cục của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ
và phương pháp nghiên cứu. Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục
tài liệu tham khảo kết cấu luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hạn chế cạnh tranh và chỉ
lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh.
Theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam tại Khoản 3, Điều 3 Luật Cạnh
tranh 2004, hành vi hạn chế cạnh tranh là “hành vi của doanh nghiệp làm
giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận
7
hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc
quyền và tập trung kinh tế thị trường, thúc đẩy các thương nhân phải tìm mọi
cách giành giật thị trường thông qua việc nỗ lực cung cấp các sản phẩm tốt
với giá cả phải chăng, với các nỗ lực không ngừng như vậy, nhiều sản phẩm
mới ra đời với chi phí thấp và giá cả có lợi cho người tiêu dùng, phúc lợi xã
hội vì vậy cũng tăng cao và nền kinh tế nhờ vậy sẽ có động lực để phát triển.
Có thể nói, ý nghĩa ngắn gọn của cạnh tranh là “động lực phát triển cho nền
kinh tế”. Chính vì vậy, về lý thuyết, một nền kinh tế không có cạnh tranh sẽ là
nền kinh tế “chết”, không phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế, sự tồn tại của
cạnh tranh là khách quan, chỉ có điều ở các giai đoạn khác nhau thì mức độ
cạnh tranh và mức độ ảnh hưởng của cạnh tranh tới kinh tế là khác nhau.
Nhận thức rõ vai trò của cạnh tranh như vậy, Luật Cạnh tranh các nước đều
tăng cường bảo vệ cạnh tranh thông qua việc kiểm soát các hành vi có khả
năng làm giảm, sai lệch hoặc triệt tiêu năng lực cạnh tranh của các thương
nhân (hành vi hạn chế cạnh tranh). Các hành vi này được chia thành thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh/vị trị độc quyền và tập
trung kinh tế. Bên cạnh đó, những hành vi cạnh tranh trái với các chuẩn mực
thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại
đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác
hoặc người tiêu dùng (hành vi cạnh tranh không lành mạnh) cũng được pháp
luật Cạnh tranh Việt nam ghi nhận như là những yếu tố xâm phạm đến môi
trường cạnh tranh cần kiểm soát.
- Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất,
mua bán hàng hóa, dịch vụ;
- Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
- Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng
mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các
nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
9
- Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham
gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
- Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là
các bên của thỏa thuận;
- Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong
việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
Như vậy, từ nội dung của những quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh chúng ta có thể hiểu: “Hạn chế cạnh tranh là sự nhất chí từ hai chủ thể
kinh doanh trở lên được thể hiện dưới bất kì hình thức nào, có hậu quả làm
giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường”.
1.1.2. Nội dung pháp luật về hạn chế cạnh tranh
1.1.2.1. Xác định thị trường liên quan
Dưới góc độ kinh tế học, thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về
một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định. Cục Thương mại Công bằng của
Vương quốc Anh đã nhận định: Thị trường là một giai đoạn rất quan trọng
trong bất cứ cuộc điều tra nào về hành vi lạm dụng. Bởi lẽ thị phần chỉ được
tính toán sau khi những ranh giới của thị trường đã được xác định. Do đó, nếu
thị trường được xác định sai, thì tất cả những phân tích tiếp theo dựa trên thị
phần hoặc cấu trúc thị trường đều không hoàn thiện [53, tr. 238]1. Việc xác
định được thị trường liên quan là để có thể đánh giá được sức mạnh thị trường
trong một số trường hợp đặc biệt, thị trường sản phẩm liên quan còn có thể
được xác định là thị trường của một loại sản phẩm đặc thù hoặc một nhóm các
sản phẩm đặc thù căn cứ vào cấu trúc thị trường và tập quán của người tiêu
dùng. Khi xác định thị trường sản phẩm liên trong trường hợp này có thể xem
xét thêm thị trường của các sản phẩm bổ trợ cho sản phẩm liên quan. Sản
phẩm được coi là sản phẩm bổ trợ cho sản phẩm liên quan nếu giá của sản
phẩm này tăng hoặc giảm thì cầu đối với sản phẩm liên quan sẽ giảm hoặc
tăng tương ứng.
Thứ hai, thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể có thể
là một thành phố, một tỉnh, một miền, một quốc gia, một khu vực kinh tế,
11
thậm chí là toàn cầu mà ở đó hàng hoá, dịch vụ có khả năng thay thế được
cho nhau một cách hợp lý với các điều kiện cạnh tranh tương tự, đặc biệt, khu
vực địa lý này phải có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận khác về
hàng rào kiểm soát thương mại, phương tiện phân phối, chi phí vận chuyển và
ngôn ngữ thương mại. Theo khoản 3 Điều 7 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP,
khu vực địa lý được coi là có điều kiện cạnh tranh tương tự và khác biệt đáng
kể với các khu vực địa lý lân cận nếu thỏa mãn một trong các tiêu chí sau: (i)
Chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển làm giá bán lẻ hàng hóa tăng
không quá 10%; hoặc (ii) có sự hiện diện của một trong các rào cản gia nhập
thị trường như: rào cản từ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,
nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật về sở hữu công nghiệp;
rào cản về tài chính bao gồm chi phí đầu tư vào sản xuất, phân phối, xúc tiến
thương mại hoặc khả năng tiếp cận với các nguồn cung cấp tài chính; quyết
định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước; quy định về điều kiện kinh
doanh, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, các chuẩn mực nghề nghiệp; thuế nhập
khẩu và hạn ngạch nhập khẩu; tập quán của người tiêu dùng. Việc xác định
vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm [37, Điều 3, khoản 5].
Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, thị phần được đề cập đến khi xác định hành
vi hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là vị trí thống lĩnh thị trường và tập trung kinh
tế. Bản thân thị phần chưa đủ để khẳng định một doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh thị trường, có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Tuy
nhiên, thị phần cũng là điều kiện cần thiết để xác định hành vi hạn chế cạnh
tranh. Trong quá trình giải quyết các vụ việc cạnh tranh, bên cạnh xác định thị
phần, thì xác định thị phần kết hợp cũng là vấn đề quan trọng. Nếu như thị
phần chỉ tỷ lệ doanh thu của một doanh nghiệp so với tổng doanh thu của các
doanh nghiệp trên thị trường liên quan, thì thị phần kết hợp là tỷ lệ doanh thu
của hai hay nhiều doanh nghiệp trên thị trường liên quan. Khoản 6 Điều 3
Luật Cạnh tranh năm 2004 đã định nghĩa rằng: “Thị phần kết hợp là tổng thị
phần trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận
13
hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế”. Trong Luật Cạnh tranh, thị phần
kết hợp thường được đề cập đến khi xác định các doanh nghiệp cùng nhau
thực hiện các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế. Thị phần
kết hợp thể hiện năng lực cạnh tranh của một nhóm doanh nghiệp. Vì vậy,
thông qua tỷ lệ thị phần kết hợp người ta xác định một nhóm doanh nghiệp có
thuộc trường hợp bị kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh hay không. Theo
Luật Cạnh tranh 2004, trường hợp một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ bị
cấm khi thị phần liên kết của họ vượt quá 30%, hoặc trường hợp tập trung
kinh tế, nếu thị phần kết hợp từ 30% - 50% thì các doanh nghiệp phải báo cáo
với cơ quan quản lý cạnh tranh, nếu thị phần kết hợp trên 50% thì hoạt động
tập trung kinh tế đó sẽ bị cấm… Bởi khi sở hữu tỷ lệ thị phần đó, các doanh
nghiệp có thể gây hạn chế cạnh tranh một cách sâu sắc mà không phải do
năng lực tự sản xuất, kinh doanh của họ.
Như vậy, những yếu tố của cạnh tranh trên thị trường như giá cả, chất
lượng, sản lượng hay các yếu tố kinh doanh khác cũng chính là những yếu tố
mà các bên tham gia thỏa thuận hướng tới nhằm làm áp lực cạnh tranh lẫn
nhau. Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
mang bản chất hạn chế cạnh tranh nên cần phải được kiểm soát.
* Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có những đặc trưng pháp lý sau:
Thứ nhất, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là thỏa thuận giữa các doanh
nghiệp. Doanh nghiệp là chủ thể trong quan hệ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Doanh nghiệp, theo quy định tại khoản 1, Điều 2, Luật Cạnh tranh,
được hiểu là các tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sản
xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các
ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt
động ở Việt Nam. Doanh nghiệp là chủ thể tạo nên và quyết định mức độ
cũng như hình thức của cạnh tranh, đồng thời, cũng chính các doanh nghiệp
có thể gây hạn chế, giảm bớt hay thậm chí triệt tiêu cạnh tranh do chính mình
15
tạo ra bằng các thỏa thuận. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể là giữa
các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau hoặc có thể là giữa
những doanh nghiệp có mối liên hệ với nhau trong cùng một chuỗi sản xuất
hay cung ứng sản phẩm, dịch vụ.
Thứ hai, giữa các doanh nghiệp có thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Thỏa
thuận là đặc trưng pháp lý cơ bản và là yếu tố cấu thành hành vi quan
trọng, được hiểu là sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia.
Trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đòi hỏi phải có sự thể hiện và
thống nhất ý chí giữa các bên tham gia thỏa thuận thông qua sự thể hiện và
thống nhất ý chí của những người có thẩm quyền và hướng tới mục đích hạn
chế cạnh tranh. Vì vậy, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thường là kết quả của
thị trường. Mục đích của các bên tham gia thỏa thuận là làm giảm sức ép cạnh
tranh hay chính là hạn chế cạnh tranh và thông qua đó gây thiệt hại cho các
doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận, cho các doanh nghiệp tiềm năng,
xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và toàn xã hội.
Đối với khách hàng, lợi ích trực tiếp bị thiệt hại là không được hưởng các sản
phẩm với chất lượng tốt hơn và mức giá cả phù hợp hơn. Đối với doanh
nghiệp không tham gia thỏa thuận có nguy cơ mất cơ hội kinh doanh, bị loại
ra khỏi thị trường. Với sự liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua một thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh tạo nên sức mạnh khống chế và buộc khách
hàng phải tuân theo những luật chơi do các doanh nghiệp này tự ra không dựa
trên cơ sở quy luật của thị trường. Ngoài ra, bằng việc thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận cũng có thể áp đặt những
điều kiện bất lợi trong các giao dịch với những doanh nghiệp ngoài thỏa
thuận.
Thứ tư, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được biểu hiện dưới một hình
thức nhất định. Hình thức biểu hiện của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh không
được coi là tiêu chí bắt buộc, có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản, chính
thức hay không chính thức. Tuy nhiên, trong thực tế việc xác định hình thức
biểu hiện của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh lại có ý nghĩa rất quan trọng
17
trong việc điều tra và xử lý đối với các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh bị cấm, cho dù hình thức biểu hiện của thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh không làm ảnh hưởng đến hậu quả pháp lý của các hành vi thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh bị cấm. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể
được biểu hiện dưới các hình thức như bằng miệng hoặc văn bản, thỏa thuận
ngầm hay thỏa thuận công khai dưới các loại như hợp đồng, nghị quyết, quyết
định, nội quy của các hiệp hội.
coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hay không. Ví dụ theo Tổ chức
hợp tác và phát triển Liên hợp quốc: "Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị
trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường
vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường
hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh" [49, tr 52]2. Có thể nhận thấy hai cách tiếp
cận này chỉ nhau ở tính chủ động của hành vi. Nếu như cách tiếp đầu tiên dựa
vào hậu quả của hành động, tức là khả năng làm cản trở, sai lệch hoặc làm
giảm cạnh tranh; thì cách thứ hai lại xem xét hành vi ở mục đích khi chủ thể
hành động, nhằm tăng cường và củng cố địa vị của mình thông qua việc ngăn
chặn đối thủ thực tế hoặc tiềm năng tham gia thị trường hoặc hạn chế quá
mức cạnh tranh cho phép. Bình luận trên góc độ lý luận và áp dụng thực tiễn,
khái niệm được xây dựng theo cách thức đầu tiên sẽ gây khó khăn trong cách
hiểu và áp dụng thực thi bởi cách xác định được căn cứ trên phương pháp
định tính. Ngược lại, xác định sự duy trì hay tăng cường vị trí của doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường lại đơn giản hơn nhiều. Nhưng dù hành
vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường được khái niệm
theo cách thức nào thì về cơ bản khi giải quyết các vụ việc về hành vi lạm
dụng, cơ quan có thẩm quyền của của các nước sẽ tiến hành xác định ba nội
2
Tổ chức hợp tác và phát triển Liên hợp quốc, Luật mẫu về cạnh tranh, Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Xuân
Bắc, tr. 52. Trích lại từ Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn, tlđd, tr. 43-44.
19
dung: (i) chủ thể được xem xét có vị trí thống lĩnh thị trường hay không; (ii)
chủ thể đó có thực hiện hành vi lạm dụng hay không; và (iii) hành vi lạm