BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC ANH
XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Phương Lan.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Anh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ Luật dân sự
2014 ................................................................................................................. 23
2.1. Xác định tài sản chung của vợ chồng theo chế độ tài sản luật định ........ 23
2.1.1. Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng theo luật định .............. 23
2.1.2. Xác định tài sản chung của vợ chồng trong một số trường hợp ........ 42
2.2. Xác định tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng lựa chọn áp dụng chế
độ tài sản theo thỏa thuận ................................................................................ 58
2.2.1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng (hôn
ước) .............................................................................................................. 58
2.2.2. Xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận ............................................... 59
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH TÀI
SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TẠI TÒA ÁN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN ................................................................................................. 63
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật xác định tài sản chung của vợ chồng tại Tòa
án. .................................................................................................................... 63
3.2. Những vướng mắc, bất cập khi áp dụng pháp luật xác định tài sản chung
của vợ chồng trong thực tiễn ........................................................................... 71
3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định tài sản chung của vợ
chồng ............................................................................................................... 76
KẾT LUẬN …………………………………………………………………83
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật dân sự nói chung và pháp luật hôn nhân gia đình nói riêng điều
chỉnh hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của vợ
và chồng. Gia đình là tế bào của xã hội. Để cho gia đình – xã hội tồn tại và
nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng
của vợ chồng cũng như của người thứ ba có giao dịch với vợ chồng.
Với những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Xác định tài
sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014” làm
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội nên việc nghiên
cứu về xác định tài sản của vợ chồng luôn được quan tâm và chú ý, được
nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cập.
Trong thời gian qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu liên
quan đến tài sản của vợ chồng. Có thể kể đến những công trình sau:
- Luận án tiến sĩ “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và
Gia đình Việt Nam” năm 2005 của tác giả Nguyễn Văn Cừ. Luận án phân tích
một cách, toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về CĐTS của vợ chồng theo pháp
luật Việt Nam. Tác giả đã đưa ra được khái niệm và phân tích CĐTS của vợ
chồng. Luận án cũng đã chỉ rõ các căn cứ xác lập tài sản chung, nghĩa vụ
chung về tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000.
- Luận văn thạc sĩ “Xác định tài sản của vợ chồng – một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Hồng Hải năm 2002. Luận văn phân
tích các căn cứ xác định tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 2000
và thực tiễn nghiên cứu, áp dụng chế định, tác giả đã làm rõ một số vấn đề về
lý luận và thực tiễn áp dụng chế định tài sản của vợ chồng, đưa ra những kết
luận và kiến nghị hoàn thiện chế định này. Tuy nhiên, hiện nay Luật HN&GĐ
năm 2014 đã có hiệu lực, do vậy, cần thiết phải có một công trình nghiên cứu
mới, bởi vì Luật HN&GĐ năm 2014 và Luật HN&GĐ năm 2000 có nhiều nét
khác biệt, ảnh hưởng đến việc xác định tài sản của vợ chồng
3
4
quan đến xác định tài sản chung của vợ chồng thường chỉ được phân tích một
cách chung chung, có tính chất tổng quát, chứ không phân tích một cách
chuyên sâu và cụ thể. Có thể nói, những công trình trên đây chủ yếu đề cập
đến góc độ khái quát, xem xét bao quát chung chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu
riêng về các quy định liên quan đến việc xác định tài sản chung của vợ,
chồng.
Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân (Phùng Trung Tập, Nghiên cứu lập pháp, Số
10/2012), Một số vấn đề liên quan về chia tài sản chung (Đặng Mạnh Cẩm
Yến,Tòa án nhân dân. Tòa án nhân dân tối cao, Số 10/2013); Một số vấn đề về
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn (Đỗ Văn Nhật, tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, Số 3/2012)… Các bài viết này phân tích một số vấn đề liên quan
đến việc xác định tài sản chung của vợ chồng, tuy nhiên do tính chất của một
bài báo, tạp chí, các tác giả chỉ mới đề cập đến một khía cạnh hoặc một
trường hợp cụ thể liên quan đến việc xác định tài sản chung của vợ chồng.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn;
Đối tƣợng nghiên cứu: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và các quy
định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác định tài sản chung của vợ
chồng và thực tiễn áp dụng pháp luật xác định tài sản chung của vợ chồng tại
Tòa án.
Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả nghiên
cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác định tài sản chung của
vợ chồng. Về mặt thực tiễn, tác giả nghiên cứu những vụ việc trước và sau
khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực bao gồm cả những vụ việc áp dụng
luật cũ, tuy nhiên, về bản chất vẫn là xác định tài sản chung của vợ chồng khi
có tranh chấp xảy ra.
4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
xuất một số ý kiến để giải quyết những vướng mắc, bất cập trên và hoàn thiện
pháp luật về xác định tài sản chung của vợ chồng để có thể tiết kiệm được
thời gian, chi phí và đảm bảo được quyền, lợi ích chính đáng của các bên liên
quan
6
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về xác định tài sản chung của vợ chồng.
Chƣơng 2: Những nội dung cơ bản về xác định tài sản chung của vợ chồng
theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Chƣơng 3: Thực trạng thực hiện pháp luật về xác định tài sản chung của vợ
chồng và một số kiến nghị hoàn thiện.
7
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái quát tài sản chung của vợ chồng
1.1.1. Khái niệm chung về tài sản và quyền sở hữu tài sản
*Khái niệm tài sản
Theo cuốn Từ điển luật học, tài sản là của cải, vật chất dùng vào mục
đích sản xuất và tiêu dùng. Tuy nhiên, tài sản là một khái niệm rộng, khó để
định nghĩa cụ thể. Pháp luật các nƣớc thƣờng không đƣa ra định nghĩa cụ thể
về tài sản mà nó thƣờng đƣợc hiểu thông qua các học thuyết pháp lý hoặc
có nguồn gốc từ tự nhiên (khoáng sản, đất đai…) hoặc do con người làm ra
(nhà cửa, máy móc…). Trong đời sống xã hôi, vật sẽ trở thành tài sản nếu nó
là vật có thực, được con người sử dụng đáp ứng các nhu cầu của mình. Đó có
thể là nhu cầu về sử dụng – tiêu dùng, nhu cầu trao đổi, buôn bán… Nói
chung, vật là tài sản khi nó đem lại được lợi ích cho con người. Ngoài ra, vật
phải là thứ mà con người có thể chiếm giữ được
Tiền: Tiền là một công cụ thanh toán đa năng, là một vật ngang giá. Tiền
có thể được đúc bằng kim loại hoặc bằng giấy. Dưới góc độ kinh tế, tiền đại
diện cho giá trị của hàng hóa, dịch vụ, là phương tiện thanh toán đa năng và
có tính thanh khoản cao nhất. Không chi là tài sản, tiền còn đại diện cho chủ
quyền của mỗi quốc gia, mỗi chế độ nhà nước.
Giấy tờ có giá: Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, giấy
tờ có giá bao gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển
nhượng khác, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu, tín
phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ làm phát sinh nghĩa vụ
trả nợ, mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ
số chứng khoán…… Như vậy, giấy tờ có giá là giấy tờ trị giá được bằng một
khoản tiền, được phép giao dịch và sử dụng như tiền khi pháp luật cho phép.
Khi đáp ứng được các điều kiện này thì giấy tờ có giá là tài sản. Ở nước ta,
việc sử dụng giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản cần tuân theo quy
chế và thủ tục được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định.
Quyền tài sản: Quyền tài sản là quyền của chủ thể gắn liền với một tài
sản nào đó và chủ yếu là quyền hưởng lợi từ tài sản. Trên thực tế, quyền tài
sản rất đa dạng: quyền đòi nợ, quyền cho thuê tài sản, quyền hưởng lợi tức cổ
9
phiếu, quyền hưởng nhuận bút của tác giả các tác phẩm văn học, quyền nhận
thù lao của chủ văn bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích, quyền tài sản
10
vào pháp luật của mỗi chế độ chính trị khác nhau mà các căn cứ làm phát sinh
quyền sở hữu trong các chế độ đó cũng được qui định khác nhau. Các căn cứ
này phản ánh bản chất và xu thế phát triển của mỗi chế độ xã hội. Nội dung
các căn cứ có bao quát hay hạn hẹp, cụ thể hay khái lược đều thể hiện quan
điểm của giai cấp thống trị và phù hợp với thực tế của xã hội ở thời điểm nhất
định.
Theo nghĩa khách quan: quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh
các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các
qui phạm pháp luật nhằm điều chỉnh nhũng quan hệ sở hữu trong một chế độ
xã hội. 3
Quyền sở hữu theo nghĩa hẹp: được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật
cho phép một chủ thể thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt trong những điều kiện nhất định. 4
1.1.2. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng và đặc điểm quyền sở
hữu tài sản chung của vợ chồng
*Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tồn tại và phát triển cần phải có
các điều kiện vật chất – cơ sở kinh tế để nuôi sống gia đình. Để đảm bảo các
điều kiện vật chất phục vụ đời sống gia đình và thực hiện các quyền, nghĩa vụ
chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, phụng dưỡng cha mẹ… vợ chồng cần phải có
tài sản. Tài sản của vợ chồng là nguồn quan trọng phục vụ nhu cầu vật chất,
tinh thần của gia đình. Kể từ thời điểm kết hôn, vợ chồng cùng nhau chung
sống, gánh vác công việc gia đình, cùng nhau tạo lập khối tài sản chung để
bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của gia đình, thỏa mãn các nhu cầu về vật
chất khác và tinh thần của các thành viên trong gia đình. Tài sản chung của vợ
chồng là cơ sở vật chất để đáp ứng các nhu cầu này.
*Đặc điểm sở hữu tài sản chung của vợ chồng
- Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng là một khối cộng đồng tài sản
Tài sản chung của vợ chồng là một khối tài sản được tạo ra bởi công sức
đóng góp của vợ, chồng. Hai quan niệm phổ biến mà các nhà làm luật hoặc
hai bên nam nữa trước khi kết hôn thường dựa vào để quy định về tài sản của
vợ chồng:
Quan niệm thứ nhất: Sau khi kết hôn hợp pháp, vợ và chồng sẽ có đời sống
chung, cùng sinh sống với nhau, do vậy, để giải quyết các nhu cầu của cuộc
12
sống chung thì cần phải có tài sản chung của vợ chồng (CĐTS của vợ chồng
được thiết lập theo tiêu chuẩn cộng đồng).
Quan niệm thứ hai: Phải tôn trọng tuyệt đối quyền sở hữu riêng của mỗi
người, không có tài sản chung giữa vợ và chồng (CĐTS được thiết lập theo
tiêu chuẩn phân sản).
Xuất phát từ hai quan niệm trên, các nhà làm hoặc hai bên nam nữ có thể
tự thiết lập, thỏa thuận để đưa ra một CĐTS phù hợp nhất với tình hình kinh
tế xã hội và nhu cầu của bản thân.
* Chế độ tài sản của vợ chồng theo tiêu chuẩn cộng đồng, bao gồm các
chế độ sau:
- Chế độ cộng đồng toàn sản: Theo CĐTS này, thì tất cả các tài sản mà
vợ chồng có được trước và sau khi kết hôn đều thuộc khối tài sản chung của
vợ chồng, do đó, vợ và chồng không có tài sản riêng cho đến khi hôn nhân kết
thúc. Những tài sản mà một bên vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn do
công sức của vợ, chồng tạo dựng hoặc được tặng cho riêng, thừa kế riêng;
những tài sản mà vợ chồng tạo dựng trong thời kì hôn nhân, không kể nguồn
gốc, công sức đóng góp của vợ, chồng; những tài sản mà vợ chồng được tặng
cho riêng, thừa kế riêng trong TKHN đều là tài sản chung của vợ chồng.
người có liên quan đến tài sản của vợ chồng. Ngoài ra, quy định về chế độ
cộng đồng tạo sản của vợ chồng với các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản
chung, tài sản riêng của vợ chồng, tạo cơ sở pháp lý trong thực tế áp dụng khi
Tòa án giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và với
người khác.5
Trên cơ sở kế thừa, phát triển hệ thống pháp luật HN&GĐ trước đây và
đảm bảo sự phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, Luật HN&GĐ
năm 2014 dự liệu CĐTS vợ chồng luật định là chế độ cộng đồng tạo sản.
Theo chế độ cộng đồng tạo sản, trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng tồn tài
ba khối tài sản: tài sản chung của vợ chồng; tài sản riêng của chồng; tài sản
riêng của vợ.
5
Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Luận án
tiến sĩ Luật học, trường Đại học luật Hà Nội, tr. 86.
14
Chế độ tài sản của vợ chồng theo tiêu chuẩn không có cộng đồng tài sản
(chế độ phân sản hay còn gọi là chế độ biệt sản).
Theo chế độ này, giữa vợ và chồng không có khối tài sản chung. Tất cả
các loại tài sản mà mỗi bên vợ, chồng đã có từ trước khi kết hôn hoặc tạo ra
được (hoặc có được do tặng cho riêng, thừa kế riêng) trong TKHN đều thuộc
sở hữu riêng của vợ, chồng. Người vợ, chồng có toàn quyền trong việc chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng của mình. Mặc dù theo chế độ phân
sản không tồn tại khối tài sản chung của vợ chồng, tuy nhiên, trong quá trình
sinh sống cùng nhau, vợ và chồng chắc chắn phải chi tiêu chung nhiều khoản,
do đó sẽ xuất hiện khối tài sản mà không phân biệt được đó là tài sản chung
cho việc nuôi dạy con. Tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do
công sức của cả hai vợ chồng trực tiếp tạo ra, có thể chỉ do vợ hoặc chồng tạo
ra trong thời ký hôn nhân. Thực tiễn cho thấy công sức đóng góp đối với tài
sản có nhiều loại: công sức tạo lập tài sản, phát triển tài sản; công sức giữ gìn
tài sản, bảo quản tài sản, tôn tạo tài sản; công sức làm tăng giá trị của tài sản6
… Tài sản chung của vợ chồng không đòi hỏi phải do hai bên trực tiếp tạo ra.
Lao động trong gia đình cũng được coi như lao động sản xuất. Trong khối tài
sản chung, không phân biệt được phần tài sản của mỗi bên và cũng không
phân biệt mức độ thu nhập của vợ chồng.
- Thứ tƣ, là một khối tài sản chung có thể phân chia theo yêu cầu của vợ
chồng hoặc theo quy định của pháp luật
Tài sản chung của vợ chồng là một tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất
có thể phân chia được. Vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với
tài sản chung. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần thiết, tài sản chung của
vợ chồng cần phải phân chia để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng và
của người khác có liên quan. Vợ hoặc chồng có thể tự mình yêu cầu chia tài
sản chung .Vợ, chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung trong TKHN hoặc
yêu cầu tòa án chia. Khi ly hôn, nếu không thống nhất được vấn đề tài sản thì
vợ, chồng cũng có thể yêu cầu Tòa án xác định phần tài sản của mình theo
quy định của pháp luật.
6
truy cập ngày 25/07/2017
16
- Thứ năm, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm các quyền tài sản
hình thành từ tài sản chung của vợ chồng
17
nhu cầu thiết yếu của bản thân, người vợ và người chồng phải tham gia vào
các giao dịch dân sự, thương mại bằng tài sản chung hoặc tài sản riêng.
Do tính chất mối quan hệ tài sản trong quan hệ hôn nhân là không có sự
phân biệt rạch ròi nên trong nhiều trường hợp tài sản chung, tài sản riêng của
vợ chồng có sự trộn lẫn. Trong cuộc sống, do nhu cầu phát sinh mà tài sản
riêng có thể đưa vào sử dụng chung nên dễ bị trộn lẫn, sáp nhập, nhiều người
đã đưa tài sản riêng của mình vào sử dụng chung trong TKHN và vô tình làm
mất quyền sở hữu tài sản riêng độc lập của mình. Để đảm bảo được tính công
bằng, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng đối với tài sản riêng của
mình, cần phải xác định được rõ ràng đâu là tài sản riêng và đâu là tài sản
chung trong trường hợp tài sản bị trộn lẫn, sáp nhập.
Trong cuộc sống chung của vợ chồng, ngoài việc thu được tài sản từ
những hoạt động sản xuất kinh doanh, lao động, vợ chồng còn có thể phải
thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa
vụ trả nợ những khoản vay chung, nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm
đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Việc xác định tài sản chung luôn gắn
liền với việc thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng trong đời sống.
Xác định tài sản chung của vợ chồng không chỉ là xác định tiền, vật, tài
sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà còn bao gồm những quyền tài sản
như quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán các khoản nợ… và các nghĩa vụ
về tài sản khác. Quyền đòi nợ là một loại tài sản không thể nắm giữ trực tiếp.
Quyền đòi nợ có tính chất khá đặc biệt vì nó phản ánh việc một nghĩa vụ vừa
là một mối quan hệ về mặt pháp luật, đồng thời lại là một loại tài sản. Quyền
đòi nợ chính là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật
ghi nhận và bảo vệ. Quyền đòi nợ là một loại quyền có giá trị tiền tệ nhưng
không có đối tượng là một vật hữu hình nào cả: người có quyền đòi nợ thực
hiện quyền của mình bằng cách yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ
chung của vợ chồng trong các giao dịch dân sự, thƣơng mại với ngƣời thứ ba
dựa trên các căn cứ, quy định của pháp luật”.
1.3. Ý nghĩa của việc xác định tài sản chung của vợ chồng
Xác định tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt
kể cả về mặt lý luận và thực tiễn.
19
- Xác định tài sản chung của vợ chồng giúp bảo vệ được quyền và lợi ích
về tài sản của vợ chồng. Khi cuộc sống hôn nhân hạnh phúc thì ranh giới tài
sản chung, tài sản riêng không quan trọng. Tuy nhiên, khi vợ chồng phát sinh
những mâu thuẫn gay gắt thì vấn đề tranh cãi nhiều nhất là tài sản. Vì vậy
việc xác định đâu là tài sản chung của vợ và chồng là rất cần thiết để bảo vệ
quyền lợi trước hết của người vợ và người chồng, sau đó là các thành viên
khác trong gia đình.
- Xác định tài sản chung của vợ chồng chính xác sẽ giúp vợ, chồng xác
định được quyền và nghĩa vụ về tài sản đối với gia đình, đối với nhau và đối
với con cái và cũng là căn cứ để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ,
chồng. Đồng thời còn xác định rõ trách nhiệm của các bên trong việc quản lý,
sử dụng, định đoạt tài sản. Qua đó giúp xác định nghĩa vụ mà vợ chồng phải
thực hiện được đảm bảo bằng tài sản chung hay tài sản riêng. Để đảm bảo
được nhu cầu của gia đình và bản thân, vợ và chồng phải tham gia vào nhiều
các giao dịch dân sự, thương mại với người thứ ba, khiến cho vấn đề tài sản
giữa vợ chồng ngày càng phức tạp, nhất là trong tình hình phát triển của nền
kinh tế hiện nay : “nhƣ một hệ quả đƣơng nhiên, các mối quan hệ xã hội sẽ
phức tạp hơn nhiều, trong đó có các mối quan hệ gia đình mà đặc biệt là
quan hệ sở hữu tài sản vợ chồng, khi vợ chồng là các chủ thể của hoạt động
sản xuất, kinh doanh hoặc là chủ thể liên quan trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh”8. Như vậy, xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
của vợ, chồng hay người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của
vợ chồng.Thông qua việc xác định chính xác tài sản chung trong những
trường hợp này sẽ tháo gỡ, hạn chế mâu thuẫn, bất đồng giữa vợ - chồng, giữa
vợ, chồng với các người khác, giúp họ có đủ niềm tin, động lực, điều kiện để
duy trì cuộc sống. Như vậy, việc xác định tài sản chung của vợ chồng là công
việc có ý nghĩa quan trọng, vừa đảm bảo pháp luật được thi hành, tăng cường
pháp chế trong lĩnh vực hôn nhân gia đình vừa hạn chế được những mâu
thuẫn, bất đồng giữa người vợ, người chồng.
- Xác định tài sản chung của vợ chồng sẽ đảm bảo được việc phân chia
tài sản chung trong những trường hợp cần thiết một cách chính xác. Xác định
tài sản chung của vợ chồng là cơ sở pháp lý để chia tài sản trong các trường
hợp cần thiết như ly hôn, chia tài sản chung trong TKHN hay chia tài sản
chung khi một bên chết trước.