Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện nhơn trạch, tỉnh đồng nai - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOA

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOA

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Chính trị học
Mã số: 8 31 02 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. CHU VĂN TUẤN

HÀ NỘI, năm 2018



chủ cơ sở trong các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Nhơn
Trạch, tỉnh Đồng Nai ................................................................................... 59
3.3. Một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân
chủ cơ sở trong các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Nhơn
Trạch, tỉnh Đồng Nai. .................................................................................. 73
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH:

Ban giám hiệu

CB-GV-CNV:

Cán bộ-giáo viên-công nhân viên

CMHS:

Cha mẹ học sinh

CNXH:

Chủ nghĩa xã hội

CNH-HĐH:

công nghiệp hóa-hiện đại hóa



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn ba mươi năm sau ngày đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều
thành tựu trên tất cả mọi lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội… Có được
những thành tựu đó là nhờ vào nhiều nguyên nhân khác nhau như chủ trương,
đường lối đúng đắn của Đảng, các chính sách phù hợp, hiệu quả của Nhà
nước… Trong số những nguyên nhân đó, không thể không nhắc đến nguyên
nhân quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, tình trạng tham nhũng,
quan liêu và mất dân chủ từng bước được khắc phục. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ ba của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6/1997) đã
khẳng định khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ
của nhân dân ở cơ sở. Thực hành dân chủ là phát huy quyền làm chủ, tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước.
Chỉ thị 30-CT/TW ngày 18 tháng 02 năm 1998 về xây dựng và thực
hiện quy chế dân chủ cơ sở của Bộ Chính trị, Nghị định của Chính phủ số
04/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt
động của cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị hành chính sự nghiệp công
lập đã nói lên tầm quan trọng của việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân
nói chung và yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đầy đủ năng lực,
phẩm chất, nâng cao hiệu quả làm việc của chính quyền cấp cơ sở. Việc thực
hiện các văn bản nêu trên đã được tiến hành một cách rộng rãi, đồng bộ trên
phạm vi cả nước, ở tất cả các Bộ, Ban, Ngành cũng như ở các cấp chính
quyền.
Ở các trường Trung học phổ thông (THPT) ngoài việc thực hiện Quy
chế dân chủ theo chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, Nghị định của Chính
phủ số 04/2015/NĐ-CP, Nghị định của Chính phủ số 04/2015/NĐ-CP còn có
Quyết định số 04/2004/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 03 năm 2000 của Bộ Giáo
1



Bài viết “Mối liên hệ giữa hoàn thiện cơ chế thực hiện dân chủ trực
tiếp, dân chủ cơ sở với việc thúc đẩy quyền con người, quyền công dân theo
tinh thần Hiến pháp 2013” (Nguyễn Thị Vy, 2014, Kỷ yếu hội thảo “Một số
vấn đề lí luận, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và
Việt Nam”, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội), tác giả khẳng định tầm quan
trọng của nhân dân trong việc tham gia quản lí Nhà nước và xã hội; ngoài ra,
tác giả còn làm rõ mối liên hệ giữa việc hoàn thiện cơ chế thực hiện dân chủ
theo hướng đề cao quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến
pháp 2013.
Công trình “Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở”, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 của TS. Lương Gia Ban, tác giả đã nghiên
cứu những quan điểm của Đảng về dân chủ và thực tiễn thực hiện ở một số
địa phương.
Công trình “Về quá trình dân chủ hóa XHCN ở Việt Nam hiện nay”
(PGS.TS Lê Minh Quân, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị-Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh, 2000): tác giả đã tìm hiểu về lý thuyết mô hình dân
chủ hóa trên thế giới từ đó phân tích những vấn đề lí luận và thực tiễn của quá
trình dân chủ hóa XHCN ở Việt Nam hiện nay; bên cạnh đó tác giả cũng nhấn
mạnh giá trị của dân chủ và hiện thực hóa dân chủ là một yêu cầu mới ở nước
ta hiện nay.
Công trình “Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong
trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An”
(Lê Thanh Hải, Long An – 2015): tác giả đã nêu ra được thực trạng thực hiện
quy chế dân chủ cơ sở ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An,
tỉnh Long An, từ đó đề ra các giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn
Quy chế dân chủ cơ sở.

3



Nai” góp phần vào việc nghiên cứu vấn đề này nhằm chỉ ra thực trạng và giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở tại cơ sở
trường THPT trên địa bàn huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở
các trường THPT tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, luận văn đề xuất một
số giải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện một cách có hiệu quả Quy chế dân chủ
cơ sở, nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục trong huyện nói riêng và xã hội
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ
sau:
Một là, trình bày một số lí luận cơ bản về dân chủ, dân chủ cơ sở và
dân chủ cơ sở trong các trường THPT.
Hai là, phân tích thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở các
trường THPT ở huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Ba là, đề ra một số giải pháp và kiến nghị góp phần vào việc thực hiện
có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ sở ở các trường THPT ở huyện Nhơn Trạch,
tỉnh Đồng Nai.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ cở
ở các trường THPT ở huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai,
Phạm vi: nghiên cứu 3 trường THPT: THPT Nhơn Trạch, THPT Phước
Thiền, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Phạm vi về thời gian: từ năm 2013 đến 2017.

5

Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận về việc thực hiện thực hiện quy chế
dân chủ cơ sở ở trường học.
Chƣơng 2: Thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong các
trường THPT trên địa bàn huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Chƣơng 3: Một số quan điểm, giải pháp và kiến nghị góp phần nâng
cao việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT trên địa bàn
huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai

7


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN QUY
CHẾ DÂN CHỦ Ở TRƢỜNG HỌC
1.1. Lý luận chung về dân chủ
1.1.1.Khái niệm dân chủ
Thuật ngữ “dân chủ” đã xuất hiện trong lịch sử loài người từ thời Hy
Lạp cổ đại. Hêrôđôt (484-425 TCN) là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ này
với nghĩa khởi thủy là quyền lực thuộc về nhân dân.
Theo từ điển Triết học (do M.M. Rodentan biên soạn): “dân chủ là một
trong những hình thức chính quyền mà điều đặc trưng là việc tuyên bố chính
thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và bình
đẳng của công dân”.[31, tr. 118]
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, dân chủ là một hình thức tổ
chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc
của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do. Như vậy, có thể hiểu
ngắn gọn dân chủ là quyền làm chủ thuộc về nhân dân. Trái với dân chủ là
không dân chủ. Không dân chủ có nghĩa là một người, một nhóm người hoặc

nằm trong tay nhà vua, giai cấp quý tộc, phong kiến, người dân hầu như
không có quyền dân chủ. Với phương thức “cha truyền con nối”, quyền lực
của vua lại truyền cho con cháu, nhân dân không có cơ hội nắm giữ quyền
lực.
Khi sản xuất phát triển lên một bước mới, giai cấp tư sản hình thành
đầu tiên ở phương Tây, trong vòng 300 năm đã tiến hành các cuộc cách mạng
Tư sản lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập Nhà nước Tư sản. Từ đây, nền dân
chủ Tư sản được thiết lập. Đây là một bước tiến mới trong lịch sử nhân loại,
giải phóng con người, con người được trao cho nhiều quyền tự do (tự do ngôn
luận, tự do kinh doanh, tự do tín ngưỡng, tôn giáo…). Tuy nhiên, về bản chất
9


thì dân chủ Tư sản vẫn dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Tư liệu sản xuất vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản, giai cấp chiếm thiểu số
trong xã hội. Giai cấp vô sản, nhân dân lao động là người tạo ra của cải vật
chất chủ yếu cho xã hội, họ là người tạo ra giá trị thặng dư cho giai cấp tư sản
nhưng họ lại bị giai cấp tư sản bóc lột. Do đó, trong thực thế dân chủ chỉ thực
sự có đối với giai cấp tư sản, giai cấp chiếm thiểu số nhưng lại nắm trong tay
phần lớn của cải trong xã hội; còn nhân dân lao động chỉ có quyền tự do dân
chủ về hình thức hoặc một ít quyền dân chủ về chính trị. Theo V.I.Lênin, dân
chủ tư sản luôn là một chế độ dân chủ với thiểu số, là một thứ dân chủ đối với
kẻ giàu.
Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, lịch sử đã sang trang,
chế độ Xã hội chủ nghĩa ra đời. Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên ra đời
là nước Nga Xô viết và một số nước khác sau đó là Việt Nam, Trung Quốc…
Nền dân chủ Tư sản thay thế bằng nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa, một nền dân
chủ thực sự khi tất cả mọi người dân được trao mọi quyền lực của đất nước.
Trong đó họ được quyền quyết định vận mệnh của đất nước, được tham gia
xây dựng Nhà nước bằng phổ thông đầu phiếu…

tiêu xây dựng XHCN, ở sự thống nhất ý chí và hành động của toàn bộ hệ
thống chuyên chính vô sản của toàn dân” [28, tr. 4].
Thật vậy, ngay từ khi chính quyền nhân dân mới thành lập, Nhà nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định
quyền lực Nhà nước là của nhân dân: “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân
chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sáng tạo
của nhân dân, làm cho mọi công dân Việt Nam thực sự tham gia công việc
quản lí của Nhà nước” [26, tr. 590]. “Lấy dân làm gốc” luôn xuyên suốt trong
tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã chỉ rõ rằng: “Có lực lượng dân
chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì
11


làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản
đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ
mãi không ra” [24, tr. 295]. Người nhấn mạnh việc thực hiện dân chủ ở từng
địa phương, từng cơ sở, từng cán bộ, từng người dân và từng công việc cụ
thể; vận động tất cả lực lượng phải làm cho dân hiểu được quyền lợi và nghĩa
vụ của mình trong vai trò là người làm chủ đất nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh, “chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế
nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần
tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”
[25, tr. 216]. Vì vậy, Người đặt ra yêu cầu: “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc
với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho
thiết thực với hoàn cảnh địa phương” [24, tr. 698-699].
Dân chủ là vấn đề có tầm quan trọng và mang ý nghĩa quyết định, nên
ngay từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân
chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi đó là một vấn đề hệ trọng,
có ý nghĩa chiến lược sâu sắc đối với sự phát triển đất nước. Trong các Nghị
quyết của Đảng, vấn đề tôn trọng quyền lực nhân dân, mở rộng dân chủ

ninh con người, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm
nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh
đại đoàn kết dân tộc. Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí
tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”.
Đối với tổ chức Đảng, cũng luôn cố gắng xây dựng mối quan hệ tốt đẹp
giữa cán bộ Đảng viên với quần chúng nhân dân như tinh thần Nghị quyết
Trung ương 4-Khóa XII đã chỉ rõ: “Xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung
xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực
các mối quan hệ của cán bộ, Đảng viên với tổ chức Đảng và với nhân dân”.
13


Có thể thấy, “dân chủ luôn là khát khao, nguyện vọng của con người,
của mọi dân tộc trong mọi thời đại. Nó cần như cơm ăn, áo mặc, nước uống
hàng ngày. Dân chủ là thước đo nền văn minh xã hội và năng lực lãnh đạo của
một Đảng cầm quyền, năng lực quản lí của một Nhà nước” [28, tr. 4].
1.1.2. Dân chủ ở cơ sở
Ngay từ đầu, V.I.Lênin đã xác định mục tiêu xây dựng dân chủ XHCN
“cao gấp triệu lần tư sản”. Đó là một nền dân chủ toàn diện, triệt để nhất được
thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; mỗi cá
nhân có điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân. Để thực hiện được nhiệm
vụ này cần một quá trình khó khăn và lâu dài đối với tất cả các nước XHCN
nói chung và nước ta nói riêng. Ở nước ta, ngay từ khi mới thành lập Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta, trong chiến lược xây dựng và phát triển đất
nước, luôn cố gắng tập trung hiện thực hóa quyền dân chủ.
Nền dân chủ XHCN ở nước ta được khẳng định rất rõ trong đường lối
của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Hệ thống chính trị ở nước ta
gồm bốn cấp: Trung ương, Tỉnh (Thành phố trực thuộc tỉnh), Huyện (quận),

So với dân chủ gián tiếp thì dân chủ trực tiếp có những ưu điểm mà dân
chủ gián tiếp không có, đó là dân chủ trực tiếp có thể thể hiện trực tiếp yêu
cầu, ý chí, nguyện vọng của nhân dân mà không phải thông qua một bộ phận
trung gian nào. Từ đó, nhân dân cấp cơ sở có thể phát huy được tính tích cực,
chủ động, sáng tạo. Hiện nay, đề cao dân chủ trực tiếp là làm phong phú thêm
hình thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động, là xuất phát từ
bản chất của chế độ XHCN, một chế độ từng bước thực hiện trong thực tế mọi
quyền lực thật sự thuộc về nhân dân. Đề cao dân chủ cơ sở, V.I. Lênin cũng
đã khẳng định: “Không phải chỉ tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố sắc lệnh về
dân chủ là đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho
15


“những người đại diện” là đủ. Cần xây dựng ngay chế độ dân chủ bắt đầu từ
cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thật sự của
quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước, không có “sự giám sát” từ trên,
không có quan lại” [22, tr. 336-337].
Đề cao dân chủ trực tiếp là tinh thần luôn được đề cập đến trong các
Văn kiện, Nghị quyết của Đảng: “Nhìn lại 30 năm đổi mới, Dự thảo Báo cáo
chính trị rút ra bài học: Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là
gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh
thần sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân: phát huy sức mạnh đoàn kết
dân tộc” [28, tr. 2]. Ngoài ra, Dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng có
xác định: “Một trong 12 nhiệm vụ tổng quát của giai đoạn 2016-2020 là:
Hoàn thiện, phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân; không ngừng
củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc…” [28, tr. 2].
Điều 6, Hiến pháp 2013 quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà
nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội
đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.” Trên cơ sở đó,

lộng quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; phê phán và nghiêm trị
những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng
quyền dân chủ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, gây mất trật tự, an
ninh, an toàn xã hội.” [30, tr. 1].
Về nội dung thực hiện dân chủ cơ sở, đó là tổng hợp những hoạt động
nhằm đảo bảo thực hiện quyền làm chủ của nhân dân có quyền được biết,
được tham gia ý kiến, được kiểm tra, giám sát những việc có liên quan trong
quyền hạn của mình nhằm ngăn ngừa những hành vi tham nhũng, phiền hà,
sách nhiễu nhân dân.

17


Về hình thức, thực hiện dân chủ cơ sở là toàn bộ những cách thức, quy
trình, thủ tục triển khai thực tế các quyền dân chủ của nhân dân được biết,
được tham gia ý kiến, kiểm tra, giám sát những việc có liên quan theo quy
định của pháp luật.
Việc thực hiện dân chủ cơ sở trong những năm vừa qua đã đạt được
những kết quả chuyển biến tích cực. Việc thực hiện dân chủ cơ sở ở xã,
phường, thị trấn tiếp tục được đẩy mạnh, đạt chất lượng….UBND các xã,
phường, thị trấn trên cả nước đã thực hiện tốt việc công khai cho nhân dân
biết những chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan trực
tiếp với nhân dân địa phương. Các cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở tạo điều
kiện để nhân dân tham gia bàn bạc và tự quyết định trực tiếp về các chủ
trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công
cộng cho địa phương, giúp dân thực hiện việc giám sát thông qua hoạt động
của Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng dân cư. Đối với
việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước
và đơn vị sự nghiệp công lập tiếp tục có những chuyển biến tích cực, thể hiện
qua việc các cơ quan hành chính, đơn bị sự nghiệp tổ chức hội nghị cán bộ,

thực hiện dân chủ cơ sở trong những năm vừa qua. Song, những tiêu cực, hạn
chế về vấn đề này vẫn còn nảy sinh ở những khía cạnh khác nhau, đòi hỏi
phải có sự quan tâm, sát sao hơn nữa, và cần phải coi việc thực hiện dân chủ
là một trong những chiến lược phát triển đất nước trong những giai đoạn tiếp
theo của Đảng và Nhà nước ta.
1.2. Một số vấn đề dân chủ cơ sở trong trƣờng học ở nƣớc ta hiện
nay
1.2.1.Tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở
trường học
Đất nước ta đang trên con đường đổi mới và đã đạt được những thành
tựu to lớn về tất cả mọi mặt từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội… ngày
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status