CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình
Chúng tôi gồm:
STT
Họ và tên
Ngày tháng
năm sinh
Nơi công tác
Chức
danh
Tỷ lệ
Trình độ
chuyên đóng góp
vào việc
môn
tạo ra SK
1 Nguyễn Vân Anh
01/5/1969
Phòng GD ĐT TP Chuyên
Ninh Bình
Đại học
20%
4 Vũ Thị Thanh Hải
1975
Trường Tiểu học
Giáo viên Đại học
Ninh Tíên
20%
5 Lê Thị Hồng Hạnh
1977
Trường Tiểu học
Giáo viên Đại học
Ninh Tíên
20%
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số giải pháp phát
triển năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 thông qua việc dạy giải
bài toán có lời văn”.
- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Ninh Tiến
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phương pháp và hình thức dạy học.
- Thời gian áp dung: 02 năm học (từ tháng 8/2016 đến tháng 4/2018).
được thành công nhất định. Cụ thể như sau:
1. GIẢI PHÁP CŨ THƯỜNG LÀM
1.1. Nội dung giải pháp cũ
Việc dạy giải bài toán có lời văn cho học sinh trong trường tiểu học hiện
nay thông thường qua các bước sau:
- Hướng dẫn học sinh cách “Đọc và tìm hiểu đề toán”
- Hướng dẫn học sinh “Tóm tắt bài toán”
- Hướng dẫn học sinh cách viết lời giải và đặt phép tính
- Hướng dẫn học sinh cách trình bày bài giải
- Kiểm tra lại bài làm
1.2. Ưu điểm
- Các hoạt động này được diễn ra trong không gian lớp học, giáo viên dễ
dàng tổ chức và kiểm soát các hoạt động học tập của học sinh.
- Bằng phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, quan sát, hỏi
đáp,... GV có thể truyền thụ được nhiều kiến thức trong một thời gian ngắn.
- HS tập trung về phía giáo viên hơn.
- HS được trao đổi với GV nhiều hơn qua hệ thống câu hỏi.
1.3. Hạn chế của giải pháp cũ
- Giáo viên chỉ chú trọng đến hướng dẫn học sinh cách giải toán mà chưa
quan tâm đến việc phát triển ngôn ngữ cho học sinh nên học sinh còn rụt rè,
chưa bạo dạn, thiếu tự tin trong học tập.
2
- Giáo viên mới đang dừng lại ở việc cung cấp kiến thức mà chưa tổ chức
cho học sinh tự tìm tòi, phát hiện, chưa áp dụng vào thực tế cuộc sống.
- Với giải pháp cũ không hấp dẫn, lôi cuốn học sinh dẫn đến học sinh dễ
nhàm chán, thiếu tập trung trong giờ học.
- Học sinh chỉ mới tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, không phát huy
các thao tác lần lượt bớt đi 1,2,3 hình vuông đến khi trên bàn không còn hình
vuông nào trước mặt từ đó giới thiệu về số 0 và hình thành cho học sinh về số 0.
3
Mỗi lần bớt như thế chúng tôi tổ chức cho học nêu tình huống phù hợp, là tiền
đề để học sinh đặt các đề toán phù hợp. Hay từ hình ảnh trực quan chúng tôi tổ
chức cho các em thảo luận để từ đó các em biết được số cá trong bình được vớt
dần cho đến khi trong bình không còn con cá nào. Các em phải diễn đạt được
bằng lời sau mỗi lần vớt đi 1 con cá thì số con cá còn lại là bao nhiêu con?
Tương tự như thế các em còn được tham gia đặt các đề toán phù hợp khác để rèn
tư duy và kỹ năng phát triển ngôn ngữ cho học sinh.
Khi dạy về phép cộng trừ trong phạm vi 10, chúng tôi quan tâm đặc biệt
đến các bài quan sát tranh để đặt đề toán, nhìn vào tóm tắt để đặt đề toán, hoặc
nhìn phép tính đặt đề toán để giúp nhiều học sinh được nói, đặt đề toán bằng các
cách khác nhau (bài tập 3 trang 87, bài 4 trang 88, bài 5 trang 89, bài 3 trang 90,
bài 4 trang 92) yêu cầu HS phải đọc được và hiểu được tóm tắt; biết diễn đạt đề
bài và giải bài toán bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết câu
lời giải. Động viên HS khá, giỏi có nhiều cách làm, nhiều cách diễn đạt từ hình
vẽ hay tình huống (tóm tắt) trong SGK. Từ đó học sinh hiểu sâu nội dung để từ
đó tham gia đánh giá mình, đánh giá bạn và tự tin trong học tập và chiếm lĩnh
kiến thức.
Đến học kì II, bài toán có lời văn chính thức được giới thiệu ở trang 115
Bài toán có lời văn, SGK giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho HS tiếp
cận với một đề toán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện đề
toán. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm
trao đổi với các bạn trong nhóm đề toán mình đặt được tương ứng với các hình
ảnh hoặc sơ đồ, tóm tắt rồi nêu bài giải tương ứng. Bên cạnh đó hướng cho học
sinh có những câu hỏi chất vấn bạn về các nội dung đó để hiểu rõ bản chất.
Ví dụ: Có một số quả bưởi, khi được cho thêm hoặc mua thêm nghĩa là
duy cho học sinh, những bài đầu tiên về dạy giải toán có lời văn là dạng bài giải
toán về “thêm”, “bớt”, chúng tôi thiết kế các hình ảnh động giúp học sinh quan
sát nhanh chóng nhận biết và tìm ra cách giải bài toán.
Ví dụ: - Bài 6 (trang 118): Chúng tôi thiết kế hình ảnh 1: Lúc đầu tổ em có 6
bạn. Hình ảnh 2: sau đó có thêm 3 bạn nữa, kết hợp các hiệu ứng giúp học sinh
nêu luôn được yêu cầu của bài toán: “Tổ em có 6 bạn, thêm 3 bạn nữa. Hỏi tổ
em có tất cả bao nhiêu bạn?”. Hoặc có em lại nêu: “Có 6 bạn đang chơi ở sân
trường, thêm 3 bạn nữa đến chơi. Hỏi trên sân trường có tất cả bao nhiêu bạn
tham gia chơi?”...Cứ như vậy sẽ có nhiều em được tham gia đặt đề toán theo tư
duy của mình, trên cơ sở đó giáo viên điều chỉnh và định hướng cho học sinh.
Sau đó học sinh nêu kết quả và phép tính giải bài toán. Điều quan trọng nhất là
học sinh hình dung và khắc sâu kiến thức về cách giải bài toán khi thêm một số
đơn vị và vận dụng vào thực tế cuộc sống.
- Bài 1 (trang 148): Chúng tôi thiết kế hình ảnh 1: Trên cành cây có 8
con chim đậu. Hình ảnh 2: kết hợp các hiệu ứng để có 2 con chim bay đi. Yêu
cầu học sinh tìm trên cây còn mấy con chim? Từ các hình ảnh trên học sinh đặt
đề toán theo các cách hiểu của học sinh và dễ dàng tìm được phép tính và kết
quả của bài toán.
- Bài 4 (trang 125): Chúng tôi thiết kế hình ảnh đoạn thẳng AB dài 3cm,
đoạn thẳng BC dài 6cm. Yêu cầu học sinh tìm độ dài đoạn thẳng AC? Quan sát
các hình ảnh và đặt đề toán theo các cách hiểu. Giáo viên hướng dẫn học sinh
đánh giá, nhận xét cách đặt đề toán, sau đó học sinh sẽ dễ dàng tìm được độ dài
đoạn thẳng AC và khắc sâu cách làm dạng toán này.
5
Giải pháp trên giúp học sinh dễ quan sát trực quan sinh động từng bước
phát triển năng lực tư duy, giờ học diễn ra một cách hứng thú, nhẹ nhàng, tích
cức hoá các hoạt động của học sinh. Từ các hiệu ứng hình ảnh học sinh quan sát
được, các em sẽ hào hứng trong việc tham gia đặt lời cho bài toán, nêu phép tính
cố giúp học sinh ghi nhớ kiến thức và có hứng thú hơn với giải các bài toán
có lời văn.
6
Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ, thông qua việc học sinh tham gia các trò
chơi, giáo viên khuyến khích, động viên các bạn học sinh mạnh dạn, tự tin bày
tỏ ý kiến của mình trước tập thể là điều vô cùng cần thiết. Vì thế chúng tôi tổ
chức các trò chơi thiết kế trên PowerPoint để thay đổi không khí lớp học, giúp
học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng theo phương châm “Học mà chơi, chơi mà
học”. Đối với những câu trả lời chưa đạt yêu cầu sẽ được giáo viên nhân xét và
khuyến khích các bạn cố gắng hơn nữa trong các lần tiếp theo. Một số trò chơi
chúng tôi vận dụng trong các tiết dạy đó là:
+ Rung chuông vàng
+ Ô số may mắn
+ Ai nhanh hơn
+ Ai nhanh ai đúng
+ Ai thông minh hơn học sinh lớp 1
+ Ngôi sao may mắn
+ Bạn chọn hoa nào ?
+ Giải đố nhanh
.....
Mục đích các trò chơi này nhằm :
- Củng cố kiến thức liên quan đến nội dung bài học.
- Tạo hứng thú cho học sinh, giúp học sinh phát triển năng lực tư duy
nhanh, sáng tạo.
- Góp phần phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh.
Thời gian sử dụng trò chơi: Có thể cho học sinh chơi trong hoạt động khởi
động kết hợp kiểm tra bài cũ ở đầu tiết học hoặc trong hoạt động củng cố ở cuối
các tiết học.
chức các hoạt động “học cùng con” để tăng cường khả năng phát triển ngôn
ngữ cho trẻ.
Học sinh không chỉ thực hiện các hoạt động học trên lớp mà còn thường
xuyên rèn tư duy, giao tiếp ở mọi lúc, mọi nơi, qua các hoạt động sinh hoạt hàng
ngày. Vì thế, cùng với giáo viên, cha mẹ cũng có vai trò rất lớn trong việc bồi
dưỡng năng lực giao tiếp, năng lực quan sát, kỹ năng tư duy và cách giải quyết
vấn đề trong thực tế đời sống cho trẻ từ các tình huống thực tế và ngôn ngữ
thông thường, củng cố kiến thức toán, rèn luyện khả năng diễn đạt, tích cực góp
phần phát triển tư duy cho trẻ, giúp các em học tốt giải toán có lời văn.
Trên thực tế không phải học sinh nào cũng có cha mẹ biết định hướng cho
các em tư duy trước các tình huống thực tế trong cuộc sống. Vì vậy ngay từ đầu
năm học, nhà trường tổ chức các chuyên đề dành cho cha mẹ học sinh lớp 1 và
mời cha mẹ học sinh cùng tham dự để giáo viên hướng dẫn cho cha mẹ học sinh
cách chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập và đặc biệt là cách dạy con học tại nhà.
Qua điều tra thực tế, nhiều phụ huynh rất hứng thú với việc học cùng con và
thấy rằng cần phải dành nhiều thời gian cho con mình trong học tập và trải
nghiệm thực tế để tăng thêm vốn hiểu biết và khả năng giao tiếpcho trẻ. Giáo
viên định hướng cho phụ huynh cần bồi dưỡng năng lực quan sát cho trẻ ngay
trong những sinh hoạt hàng ngày thông qua hệ thống câu hỏi để định hướng cho
trẻ quan sát và bồi dưỡng năng lực tư duy gắn với thực tế cuộc sống. Ví dụ: Ở
nhà, mẹ cùng con rửa chén, mẹ có thể định hướng cho con bằng các câu hỏi:
8
“Con đã rửa được mấy chiếc chén?” “Con còn phải rửa thêm mấy chiếc
chén nữa để được 6 chiếc chén?” → Trả lời các câu hỏi này con cần có sự quan
sát tổng hợp.
“Để tìm được số chiếc chén còn phải rửa con thực hiện phép tính gì?” →
Trả lời các câu hỏi này con cần có sự tư duy.
khác và việc tổ chức các buổi sinh hoạt lớp, các hoạt động ngoại khóa.
ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
9
Sáng kiến sẽ được áp dụng hiệu quả khi các nhà trường được tăng cường
đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp; giáo viên không ngừng học tập, bồi
dưỡng; đặc biệt là khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, nắm vững nội dung,
chương trình môn Toán 1 và tích cực đổi mới phương pháp dạy học; học sinh
học tập chủ động, tự giác; có thói quen hợp tác trong các hoạt động học tập.
ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Lợi ích kinh tế lớn nhất mà sáng kiến mang lại không phải là số tiền làm
lợi mà là chất lượng dạy học môn Toán 1 được nâng lên rõ rệt. Đây chính là
nguồn lợi kinh tế về tri thức vô giá, rất khó có thể kiểm đếm được. Sáng kiến là
một trong những giải pháp cụ thể hóa mục tiêu “Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo” theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng. Đây cũng là một điểm mới, có tính đột phá, quyết liệt
về “đổi mới cách dạy, đổi mới cách học” theo phương châm của Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
Một số hiệu quả cụ thể của sáng kiến:
1. Hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán 1
Chất lượng dạy học môn Toán được thể hiện qua thống kê tại trường Tiểu
học Ninh Tiến vào các thời điểm: tháng 5/2016 (thời điểm chưa áp dụng sáng
kiến); tháng 5/2017 (sau khi áp dụng sáng kiến 1 năm học) và tháng 4/ 2018 (sau
khi áp dụng sáng kiến 2 năm học). Cụ thể:
Nội dung
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy hầu hết giáo viên, học sinh và cha mẹ
các em đều đồng tình và háo hứng với các giải pháp dạy học giải toán có lời văn
đã nêu ở trên. Áp dụng sáng kiến một số giải pháp phát triển năng lực sử dụng
ngôn ngữ cho học sinh lớp 1 thông qua việc dạy giải bài toán có lời văn giúp cho
học sinh phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng cần thiết như kĩ năng
quan sát, tổng hợp thông tin, tư duy lôgic góp phần quan trọng trong việc rèn
luyện tính độc lập, sáng tạo cho học sinh, các em học một cách linh hoạt, chủ
động hơn, từ đó sẽ xóa bỏ lối học thụ động, dập khuôn máy móc. Học sinh thấy
10
yêu thích môn học, thấy hào hứng hơn khi đến trường, đến lớp và tích cực, tự
giác tham gia hoạt động theo đúng phương châm “Mỗi ngày đến trường là một
ngày vui, một ngày tiến bộ”. Việc tạo ra các giờ học sinh động đã gây hứng thú
mạnh mẽ đối với học sinh, giúp các em thêm yêu thích môn học; góp phần làm
cho môn Toán trở thành môn học yêu thích của các em. Điều này có vai trò tích
cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học và đã được ghi nhận trong các tiết
dạy của trường tại Hội thi giáo viên giỏi và chất lượng học tập của học sinh nâng
lên rõ rệt, góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Áp dụng sáng kiến góp phần tạo tiền đề thuận lợi cho đội ngũ giáo viên
của nhà trường có phong cách làm việc linh hoạt hơn, thực hiện triệt để đổi mới
phương pháp dạy học theo định hướng dạy học sinh cách học và cá thể hóa tới
từng đối tượng, tăng niềm tin của cha mẹ học sinh đối với các hoạt động trong
trường tiểu học, uy tín của nhà trường ngày càng được nâng cao phát huy hiệu
quả của công tác phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Cha mẹ
học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm cùng con, cùng tham gia vào quá trình đánh
giá năng lực, phẩm chất của con mình theo đúng tinh thần của Thông tư số 22
của Bộ GD-ĐT Ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học.
3. Phát huy được tư duy sáng tạo của giáo viên; năng lực sử dụng ngôn
Lê Thị Hồng Hạnh
1977
4
Phạm Thị Phương Thảo
1992
Nơi công tác
Trường Tiểu
học Ninh Tiến
TP. Ninh Bình
Chức danh
Trình độ
chuyên môn
Giáo viên
Đại học
Giáo viên
Đại học
Giáo viên
XÁC NHẬN
12
PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA
Ứng dụng công nghệ thông tin - Sử dụng các kỹ thuật vẽ hình, hiệu
ứng hình ảnh, tô màu trình chiếu hình ảnh động (trên phần mềm PowerPoint,
Violet…) khi dạy nội dung bài mới để hình thành kiến thức để tạo hứng thú
cho học sinh:
13
Tích hợp các nội dung học tập ở các môn học:
14
Vận dụng trò chơi học tập khi dạy các bài luyện tập, củng cố giúp học
sinh ghi nhớ kiến thức và có hứng thú hơn với giải các bài toán có lời văn :
Trò chơi “Rung chuông vàng”
15
Tổ chức các hoạt động “học cùng con”:
16