Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
1
Đề tài : “Tìm hiểu pháp luật về hoạt động
cho vay của các tổ chức tín dụng và các
biện pháp bảo đảm an toàn”
LỜI MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Ở tất cả các quốc gia ,các tổ chức tín dụng đóng vai trò đặc biệt quan
trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội.Chính vì vậy ,ngay trong điều kiện
nước nhà mới độc lập và thực hiện công cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp,Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc xây dựng hệ thống các Tổ chức
tín dụng của chế độ mới. Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây
luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao so với khu vực. Với mức độ tăng trưởng như
hiện nay, nhu cầu vốn cho nền kinh tế là hết sức lớn. Trong điều kiện hiện
nay, đầu tư nước ngoài chưa đạt được mức kế hoạch, ngược lại ở nhiều nơi
còn có dấu hiệu giảm sút thì chủ trương dựa vào nguồn vốn trong nước đang
được thực hiện triệt để. Tuy nhiên, các kênh huy động vốn từ nội lực kinh tế
còn hẹp. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành và chưa thật
sự trở thành kênh cung cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế cho thấy
phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam năng lực tài chính còn yếu kém, hoạt
động chủ yếu dựa trên nguồn vốn vay từ các Tổ chức tín dụng.Từ đo khẳng
định tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay sẽ còn tiếp tục là một kênh
cung cấp vốn quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Nếu muốn có một nền
kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh.
Muốn vậy, Chính phủ phải thiết lập được hệ thống pháp luật chặt chẽ để đảm
bảo được hành lang an toàn cho hệ thống ngân hàng.
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
và các biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín
dụng .Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp ,sinh viên không có
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
3
nhiều sự hiểu biết chuyên sâu,cũng như sự hạn chế về thời gian nên những
vấn đề nêu ra trong khóa luận chỉ dừng lại ở những vấn đề đã đươc nêu ra
trước đó trong các nghiên cứu ,cũng như trên các thông tin đại chúng trong
thời gian và qua những kiến thức ,mà sinh viên được học ,nghiên cứu tại
trường .Vì vậy những phân tích và đánh giá chưa được sâu sắc và hoàn
chỉnh,sinh viên mong nhận được sự góp ý đánh giá từ các Thầy Cô để khóa
luận có thể hoàn thiện hơn.
3.Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu dựa trên phương pháp luận là phép biện chứng
duy vật và sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể là phân tích ,đánh giá các
quy định của pháp luật ,để từ đó có một số đề xuất cụ thể có ý nghĩa thiết
thực .
4.Cơ cấu của khóa luận
Khóa luận ngoài lời nói đầu ,kết luận và danh mục tài liệu tham khảo ,có 3
chương:
Chương I:Một số vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động
cho vay của tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật trong hoạt
động cho vay của các Tổ chức tin dụng .
Chương II:Pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của
Tổ chức tín dụng.
Chương III:Thực trang và phương hướng hoàn thiện pháp luật về
hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng và pháp luật bảo dảm an
Ngân hàng Nhà nước ),tại điều 3 khoản 1“ Cho vay là một hình thức cấp tín
dụng ,theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền
để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên
tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
5
Theo giáo trình Luật ngân hàng của Nhà xuất bản
Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan ,xuất hiện khi trong xã hội
loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn.Khái niệm cho
vay ,theo nghĩa chung nhất được hiểu là việc một người thỏa thuận để cho
người khác đươc quyền sử dung tài sản của mình(vật cùng loại)trong một
thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả ,dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của
mình đối với người đó.
Như vậy, cho vay khác với các hình thức cấp tín dụng: chiết khấu, bảo
lãnh, cho thuê tài chính. Trong nghiệp vụ cho vay, các ngân hàng giao một
khoản tiền nhất định trong một thời gian nhất định cho bên đi vay dùng vào
mục đích nhất định và bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn.
Điều này có ý nghĩa là đối với hình thức cho vay, khoản tiền vay được chuyển
giao trực tiếp hoặc nhập vào tài khoản của bên đi vay. Trong nghiệp vụ chiết
khấu khoản tiền vay cũng được chuyển giao tương tự như vậy. Còn đối với
hình thức cho thuê tài chính thì khoản tiền vay chính là khoản tiền mà các
ngân hàng dùng để mua tài sản để cho thuê. Trong trường hợp bảo lãnh ngân
hàng, khoản tiền vay mà bên đi vay (bên được bảo lãnh) nhận được chính là
khoản tiền mà ngân hàng (bên bảo lãnh) phải trả cho bên có quyền trong
trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ.
Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng .(theo Luật Mỹ thì thời hạn này có thể từ trên 1 năm đến 7 hoặc
8 năm ).Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài
sản cố định như: đầu tư mua máy móc trang thiết bị …
Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn vay từ trên 60 tháng trở
lên .Mục đích của loại cho vay này là thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các
dự án đầu tư.Thời gian thu hồi vốn của các chủ thể có nhu cầu vay là lâu
,phải có thời gian kinh doanh lâu dài ,ví dụ như:vay vốn để đầu tư xây dựng
khách sạn để kinh doanh,xây dựng cơ sở sản xuất…
1. 1.2.2.Phân loại cho vay dựa vào tính chất có bảo đảm của khoản vay
1.1.2.2.1. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: đây là hình thức cho vay
trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay
hoặc của người thứ ba .Các bảo đảm cho tiền vay như:thế chấp ,cầm cố…
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
7
1.1.2.2.2. Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản : đây là hình thức cho
vay trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay không được đảm bảo bằng tài sản cụ thể
,xác định bằng tài sản của khách hàng vay hoặc của người thứ ba.Loại cho
vay này chủ yếu dựa trên uy tín của bản thân khách hàng vay vốn mà Tổ chức
tín dụng quyết định cho vay.
1.1.2.3. Phân loại cho vay dựa vào mục đích sử dụng vốn vay
1.1.2.3.1. Cho vay kinh doanh: đây là hình thức cho vay trong đó các bên
cam kết số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh của mình .Ví dụ như:cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh
công thương nghiệp ,cho vay nông nghiệp,cho vay kinh doanh xuất nhập
khẩu…
quy trình
của Kết
quả
cung cấp thông TCTD ở mỗi giai của
mỗi
tin
vụ
đoạn
gia đoạn
Lập hồ sơ xin vay
Khách hàng đi Tiếp xúc,phổ biến và Hoàn
vốn
vay
cung
cấp hướng
cá nhân hoặc các bộ để chuyển
*Các thông tin phận thẩm định thực sang
các
bổ sung từ hồ hiện.
bộ phận có
sơ,hoặc
thẩm
vấn ..
phỏng
quyền
để
quyết định
cho
1
Thẩm định dự án,www.fetp.edu.vn.
vay
hoặc
các thông tin đã tích.
từ
chối
có.
cho
vay
dựa
vào
kết
quả
phân
tích.Tiến
hành
các
thủ
hợp đồng tín dụng tài khoản
*Các chứng từ (HĐTD) trước khi tiền
gửi
làm cơ sở giải phát tiền vay.
của khách
ngân .
hàng hoặc
chuyển trả
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
10
cho
nhà
cung
cấp
theo
giám
hàng.
và đưa ra
*Các thông tin
các
khác
pháp
quả
sát
giải
xử
lý.
Việc xây dựng quy trình cho vay của các TCTD là dựa trên những quy
định thực tế của pháp luật hiện hành:“Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng
gửi cho tổ chức tín dụng giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng
minh đủ điều kiện vay vốn như quy định tại Điều 7 Quy chế này. Khách hàng
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các
tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng.”(Khoản 1 điều 14 Quyết định
1627/2001/QĐ-NHNN).
Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ pháp lý
do TCTD thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay ,trên
cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không .Trong thực tế giao dịch ngân hàng
tín dụng đều phải ký kết bằng văn bản thì mới có gía trị pháp lý. Hợp đồng tín
dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương
thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị
tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên
thỏa thuận.
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
12
Văn bản hợp đồng tín dụng bao gồm văn bản viết và văn bản điện tử.Hợp
đồng tín dụng được xác lập thông qua phương diện điện tử dứới hình thức
thông điệp dự liệu được coi là giao dịch bằng văn bản .Các văn bản hợp đồng
điện tử được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị
chứng cứ trong quá trình giao dịch. hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn
bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụ thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải
quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng.
Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố
công khai chính thức,về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để
cho người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phuơng cách xử sự
hợp lý,an toàn trong trường. Ngoài ra,việc cần thiết ký kết hợp đồng tín dụng
bằng văn bản mới có thể khiến các cơ quan có trách nhiệm của chính quyền
thi hành công vụ được tốt hơn.Chẳng hạn như việc thu thuế,lệ phí,kiểm
tra,thanh tra tài chính ,kiểm soát hoạt động thương mại của các chủ thể kinh
doanh trên thương trường.
2.1.2.1.Các nội dung cơ bản của HĐTD
Theo quy định tại điều 17 của Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN”…
Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn
vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức
luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc
được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc
tham gia quy định”.
Điều khoản về đối tượng hợp đồng: Trong điều khoản này, các bên phải thoả
thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay,phương thức cho vay, tổng số tiền phải
trả khi hợp đồng tín dụng đáo hạn.
Số tiền vay :phải được ghi rõ,ngoài ra sinh viên cũng xin kiến nghị một vấn
đề đó là bên cạnh việc ghi rõ số tiền vay là bao nhiêu thì cũng cần ghi rõ loại
tiền vay là USD,Euro,Tệ…để áp dụng mức lãi suất cho phù hợp và áp dụng
việc vay bằng đồng tiền nào thì trả bằng đồng tiền đó.Hơn nữa,trong thời kì
kinh tế hiện nay,cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ có rất nhiều doanh
nghiệp Việt Nam mở rộng hoạt động kinh doanh ,làm ăn với các doanh
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
14
nghiệp của nước ngoài,đặc biệt là trong hoạt động xuất nhập khẩu.Do vậy
nhu cầu về nguồn vốn vay bằng ngoại tệ là rất cần thiết .Nếu quy đổi đồng
ngoại tệ ra tiền VNĐ đôi khi sẽ gây ra khó khăn cho không chỉ các khách
hàng có nhu cầu vay vốn mà còn cho cả các TCTD,vì tỷ giá quy đổi giữa các
đồng tiền là không đồng nhất tại thời điểm vay cũng như thời điểm thanh toán
khoản vốn vay.
Lãi suất cho vay:mức lãi suất được áp dụng hiện nay theo quy định của
NHNN là do TCTD và khách hàng thỏa thuận và ấn định trong HĐTD .
Phương thức cho vay có thể là:
Cho vay từng lần:mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực
hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay:Các quy định của pháp luật
cũng có quy định mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp(theo quy định tại
khoản 2 điều 7 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN),và khách hàng vay cũng
phải sử dụng đúng mục đich đã cam kết .Vì vậy,trong điều khoản này, các
bên cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì (ví dụ, mua vật tư
hàng hoá để kinh doanh hay mua hàng hoá để tiêu dùng…) việc thoả thuận
điều khoản này trong hợp đồng tín dụng được xem như một giải pháp đảm
bảo sự an toàn về vốn cho người đầu tư là các tổ chức tín dụng, nhằm tránh
trường hợp bên vay sử dụng vốn một cách tuỳ tiện vào mục đích phiêu lưu,
mạo hiểm. Mặt khác để đảm bảo lợi ích của cả hai bên và đảm bảo cho đồng
vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian
sử dụng vốn, các bên có quyền thoả thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay
mỗi khi xét thấy thờ cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi.
Điều khoản về giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng: Đây là điều
khoản mang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thoả thuận về biện
pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng, hoà giải, hoặc lựa
chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình. Nếu trong hợp đồng
tín dụng không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên không thoả thuận thì
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
16
việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều kiện bảo đảm
bằng tài sẩn cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, thì các bên có thể thoả thuận một
điều khoản riêng rẽ nằm trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính), hoặc lập
thành một hợp đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính.Trên thực tế, các bên
Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp
Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín
dụng với khách hàng.(Điều 28 luật Các TCTD sửa đổi bổ sung năm 2004).
Riêng với các tổ chức không phải là TCTD .muốn trở thành chủ thể cho
vay trong hợp đồng tín dụng thì chỉ cần thỏa mãn những điều kiện như :có
giấy phép hoạt động ngân hàng ,có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và
có người đại diện hợp pháp .Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động
cho vay là hoạt động ngân hàng được phép thực hiện.
Việc pháp luật quy định những điều kiện này đối với bên cho vay không
chỉ góp phần hạn chế ,loại trừ những TCTD không đủ tiêu chuẩn kinh doanh
trên thương trường ,nhờ đó góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng và
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư,mà còn là căn cứ để các luật
gia hay các thẩm phán ,trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánh giá một
cách khách quan vấn đề hiệu lực pháp lý của hợp đồng tín dụng.
Bên vay trong HĐTD là các tổ chức ,cá nhân thỏa mãn các điều kiện do
pháp luật quy định và các điều kiện khác do các bên thỏa thuận .
Theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 về việc sửa
đổi bổ sung một số điều của quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với
khách hàng ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngà
31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng nhà nước ,tại điều 2 khoản 2”Khách
hàng vay tại Tổ chức tín dụng là các cá nhân,tổ chức Việt nam và nước ngoài
có nhu cầu vay vốn ,có khả năng trả nợ để thực hiện các dự án đầu
tư,phương án sản xuất ,kinh doanh ,dịch vụ hoặc dự án đâu tư, phương án
phục vụ đời sống trong nước và nước ngoài. Trong trường hợp khách hàng
vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ ở nước ngoài, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định riêng.”
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính
phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
19
Với điều kiện này các bên không nhất thiết phải ghi rõ trong hợp đồng tín
dụng và nếu không ghi điều kiện này trong hợp đồng tín dụng thì cũng có thể
coi như các bên mặc nhiên thừa nhận nó theo quy định của pháp luật.Theo
quy trình nghiệp vụ tín dụng ,khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng
,bên cho vay phải kiểm tra ,xác minh điều kiện này trên cơ sở các tài liệu,giấy
tờ làm bằng chứng do khách hàng xuất trình như quyết định thành lập tổ
chức,điều lệ của tổ chức ,giấy chứng nhận dăng ký kinh doanh,quyết định bổ
nhiệm người đứng đầu tổ chức (đối với người vay là tổ chức)hoặc giấy chứng
minh nhân dân ,giấy xác nhận về hộ tịch ,hộ khẩu ,lý lịch tư pháp do cơ quan
có thẩm quyền cấp(đối với người vay là cá nhân ).
Tóm lại việc pháp luật quy định các điều kiện chủ thể đối với bên
cho vay và bên đi vay trong hợp đồng tín dụng ngoài mục đích thiết lập trật
tự ,kỷ cương ,trong hoạt động tín dụng,còn có ý nghĩa là giải pháp nhằm bảo
đảm sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
2.1.2.3.Một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên tham gia hợp
đồng tín dụng
Trong pháp luật thực định, do mỗi bên tham gia hợp đồng tín dụng có tư
cách pháp lý khác nhau nên những chủ thể này có những quyền và nghĩa vụ
khác nhau. Các quyền và nghĩa vụ này được phát sinh từ nội dung thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng, hoặc phát sinh từ các điều khoản đã được dự liệu
sẵn của nhà lập pháp nhưng suy cho cùng chúng đều có giá trị pháp lý ràng
buộc đối với các bên giao kết hợp đồng tín dụng.
trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả.Nếu bên cho vay vi phạm
nghĩa vụ này (nghĩa vụ giải ngân) như giả ngân chậm hoặc không chịu giải
ngân theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thì vấn đề trách nhiệm pháp lý
của họ là như thế nào? với hiện trạng pháp luật hiện hành ở Việt Nam, trong
trường hợp đó bên vay được coi là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, vì thế có
trách nhiệm phải bồi thường các thiệt hại vật chất đã xảy ra cho bên vay.
Ngoài ra bên cho vay còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình như đã
cam kết, trừ trường hợp cả hai bên cùng thoả thuận chấm dứt hợp đồng tín
dụng trước thời hạn.
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
21
Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách
hàng. “Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình và thực hiện kiểm tra, giám sát
quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng phù hợp với đặc
điểm hoạt động của tổ chức tín dụng và tính chất của khoản vay, nhằm bảo
đảm hiệu quả và khả năng thu hồi vốn vay; gửi quy trình kiểm tra giám sát
vốn vay của khách hàng cho Thanh tra Ngân hàng Nhà nước.”.
Trước khi luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi năm 2004, việc kiểm tra,
giám sát quá trình vay vốn chỉ được xem là một nghĩa vụ của tổ chức tín
dụng và khả năng pháp lý này đối với bên cho vay hoàn toàn phát sinh trên
cơ sở các bên thoả thuận chứ không phải do pháp luật quy định trước. Tuy
nhiên, đứng trước yêu cầu đề cao trách nhiệm pháp lý của bên cho vay trong
quá trình cung cấp tín dụng, khoản 3, điều 53 Luật Các Tổ chức tín dụng
( được sửa đổi năm 2004) đã quy định việc kiểm tra, giám sát qúa trình cho
vay, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng là một nghĩa vụ pháp lý của tổ
chức tín dụng chứ không còn là một quyền năng pháp lý nữa. Với quy định
Quyền từ chôí các yêu cầu không hợp lý của tổ chức tín dụng khi kết,
thực hiện và thanh lý hợp đồng tín dụng.
Quyền năng này được pháp luật quy định nhằm tạo cho khách hàng vay
khả năng chống lại các yêu cầu rõ ràng là không hợp lý của TCTD, có thể gây
ra những bất lợi cho họ nếu buộc phải thoả mãn các yêu cầu này, ví dụ khách
hàng vay có quyền từ chối cung cấp thông tin và hoạt động kinh doanh của
mình nhưng rõ ràng là không liên quan gì đến việc sử dụng vốn và hoàn trả
vốn vay cho tổ chức tín dụng…
Quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ hoặc
các vi phạm HĐTD của TCTD.
Đây là một quyền năng pháp định, với mục tiêu nhằm bảo vệ lợi ích hợp
pháp của khách hàng vay trước những hành vi không có căn cứ hợp pháp của
tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, nếu pháp luật cho phép khách hàng vay được
quyền đệ đơn khiếu nại đối với tổ chức tín dụng nhận hồ sơ vay vốn, chỉ vì lý
do họ đã từ chối cho vay không có căn cứ thì rõ ràng không hợp lý, bởi lẽ
như vậy nghĩa là pháp luật đã tước đi một quyền năng nghĩa vụ cơ bản nhất
của người kinh doanh đó là quyền tự do kinh doanh, trong đó có quyền tự
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
23
định đoạt việc cho vay hay không đối với khách hàng. Với quy định này, nếu
tổ chức tín dụng muốn từ chối cho vay đối với một khách hàng thì họ bắt
buộc phải đưa ra các căn cứ hay lý do chính đáng để từ chối.
Quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện nghĩa vụ giải ngân đúng thoả
thuận trong HĐTD.
Quyền năng này của bên vay cũng chính là nghĩa vụ của bên cho vay,
đều phát sinh trên cơ sở các điều khoản của hợp đồng tín dụng. Do có quyền
hợp đồng tín dụng, hoặc phát sinh do một phán quyết đã có hiệu lực pháp luật
của Toà án hay trọng tài. Về nguyên tắc, các nghĩa vụ này của bên vay sẽ
chấm dứt khi nào chúng đã được bên vay thực hiện xong trên thực tế.
2.1.2.4.Các vấn đề liên quan đến hiệu lực của HĐTD
Điều kiện có hiệu lực của HĐTD:Dựa trên các quy định có nguyên tắc của
Bộ luật dân sự năm 2005 về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự,
một HĐTD, với tư cách là một giao dịch dân sự đặc thù, chỉ có hiệu lực khi
thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau đây:
Chủ thể tham gia HĐTD phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự.
Mục đích và nội dung của HĐTD không trái pháp luật và đạo đức xã
hội.Mục đích cho vay và mục đích đi vay của các bên chủ thể hợp đồng nhất
thiết phải được thể hiện rõ ràng trong nội dung của hợp đồng và các mục đích
này không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện,
bình đẳng và tự do ý chí.Một HĐTD được coi là không có sự đồng thuận khi
sự thoả thuận đó giữa các bên bị các khuyết điểm như sự nhầm lẫn: sự lừa
dối, lường gạt hoặc sự ép buộc, cưỡng bức trong khi giao kết hợp đồng. Trên
nguyên tắc, các khuyết tật này phải có ảnh hưởng mang tính quyết định đến ý
trí giao kết hợp đồng của các bên thì mới được coi là sự kiện pháp lý làm cho
hợp đồng tín dụng vô hiệu.
Hình thức của HĐTD phải phù hợp với quy định của pháp luật ngân
hàng. Đối với hợp đồng tín dụng, do tính chất rủi ro cao cho quyền lợi của
Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
25
các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng này nên pháp luật ngân hàng đòi