VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ SĨ HẢI
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC QUYẾT ĐỊNH
Ở LẠI THÀNH PHỐ ĐỂ LÀM VIỆC
CỦA SINH VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TP. HỒ CHÍ MINH)
Ngành: Xã hội học
Mã số: 9.31.03.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2018
Công trình đã được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Đức Vinh
2. TS. Đỗ Thiên Kính
Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Hữu Minh
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Chí Dũng
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ, tổ
trọng, ảnh hưởng đến tương lai của mỗi sinh viên tốt nghiệp.
Trong các nghiên cứu về hiện tượng di dân nói chung và di dân trẻ nói
riêng, phần lớn cho rằng di dân tìm đến các đô thị lớn vì lý do kinh tế. So
với các địa phương khác, TP.HCM tạo ra nhiều cơ hội việc làm thông qua
mở rộng các dịch vụ và sản xuất trong khu vực chính thức và phi chính
thức. Chính yếu tố này đã tạo ra lực hút, tác động đến động cơ ở lại
TP.HCM của phần lớn sinh viên nhập cư sau khi tốt nghiệp.
Với đối tượng là sinh viên nhập cư tốt nghiệp, việc quyết định chuyển
cư không xảy ra lần đầu, mà là lần thứ hai, khi họ đã kết thúc quá trình học
tập tại thành phố. Chính vì đặc điểm này đòi hỏi nghiên cứu về các nhân tố
tác động đến quyết định ở lại thành phố của sinh viên nhập cư tốt nghiệp
phải có cái nhìn đa chiều, đa cấp độ; từ các nhân tố thuộc cấp độ vĩ mô đến
vi mô, các nhân tố kinh tế và phi kinh tế khác.
Từ những lý do trên, tác giả thực hiện đề tài “Những nhân tố tác động
đến việc quyết định ở lại thành phố để làm việc của sinh viên sau khi tốt
nghiệp (Nghiên cứu trường hợp tại Tp. Hồ Chí Minh)”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ mô tả đời sống, lý giải về mạng lưới xã hội, quá
trình thích nghi với lối sống đô thị tác động như thế nào đến quyết định ở
lại thành phố sau khi tốt nghiệp của sinh viên nhập cư. Ở cấp độ vĩ mô,
nghiên cứu giải thích sự chênh lệch mức thu nhập, cơ hội việc làm, các tiện
ích khác giữa nơi xuất cư và thành phố tạo ra lực đẩy - lực hút tác động đến
quyết định nơi sinh sống, làm việc của sinh viên nhập cư tốt nghiệp. Từ kết
quả nghiên cứu đưa ra khuyến nghị để hoàn thiện nghiên cứu, triển khai các
nghiên cứu tiếp theo, gợi mở ra một số vấn đề liên quan đến chính sách
nhập cư, sử dụng, thu hút, phát triển nguồn nhân lực.
1
đặc biệt là khu vực tư nhân đã tạo ra cơ hội việc làm, thu nhập kỳ vọng và
cơ hội thăng tiến cao, đáp ứng sự mong đợi của sinh viên nhập cư tốt
nghiệp. Mặt khác, TP.HCM cũng là đô thị phát triển có nhiều dịch vụ công
cộng hiện đại, hệ thống giáo dục - y tế đa dạng làm gia tăng khoảng cách
2
giữa các địa phương, tạo ra các lực hút và lực đẩy, ảnh hưởng đến quyết
định ở lại thành phố của sinh viên nhập cư sau khi tốt nghiệp.
4.3. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập thông tin, bao gồm: Phân tích tài liệu có sẵn;
Phỏng vấn sâu; Khảo sát bằng bản hỏi.
Phương pháp xử lý và phân tích thông tin: Dữ liệu từ được mã hóa, làm
sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS. Các phân tích được áp dụng: Đơn
biến, hai biến (kiểm định Pearson’s chi – square và T – test), đánh giá thang
đo về các nhân tố tác động (phân tích nhân tố khám phá EFA).
Khung phân tích:
Bối cảnh kinh tế - xã hội nơi xuất cư, nhập cư
Vai trò gia đình,
kết nối xã hội
Yếu tố
cá nhân
Thích nghi môi
trường sống
Quyết định ở lại thành phố
Chính sách về di cư, di cư học tập
thích nghi lối sống tại nơi nhập cư, ảnh hưởng quyết định định cư lâu dài
hoặc quay trở về nơi xuất cư. Yếu tố này đã góp phần giải thích hiện tượng
sinh viên chấp nhận làm việc tạm bợ, trái ngành nghề, chấp nhận cuộc sống
“làng nhàng” tại đô thị.
Kết quả nghiên cứu này cũng cho phép mở ra những ý tưởng nghiên
cứu về vấn đề hồi cư, nguồn nhân lực trẻ cho sự phát triển kinh tế - xã hội
giữa các vùng, hiện tượng chảy máu chất xám khi Việt Nam hội nhập sâu
rộng vào các thiết chế kinh tế khu vực và thế giới. Kết quả nghiên cứu cũng
cho thấy các nhân tố ở cấp độ vĩ mô tác động đến quá trình chuyển cư, đặc
biệt là đối tượng tuổi trẻ, trình độ cao. Lực lượng này là nòng cốt, bổ sung
nguồn nhân lực cho các vùng trong quá trình phát triển, do vậy kết quả
nghiên cứu có thể gợi ra cho các nhà quản lý nhằm hoạch định chính sách
cho cả nơi xuất cư và nhập cư.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu (16 trang) và kết luận (06 trang), nội dung chính
của luận án gồm 5 chương, 12 mục với tổng cộng 145 trang. Ngoài ra, danh
mục các công trình của tác giả (05 bài báo); tài liệu tham khảo (150 tài
liệu); phần phụ lục có: bản câu hỏi khảo sát, nội dung phỏng vấn sâu.
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về di dân nội địa
1.1.1. Về nguyên nhân và đặc điểm di dân
Với những chính sách đổi mới, đã làm sự bùng nổ sự tăng trưởng kinh
tế ở các đô thị thúc đẩy quá trình đô thị hóa dẫn đến sự tăng nhanh dòng
4
nhập cư nông thôn - đô thị nhằm tìm kiếm việc làm. Việc di cư không
mang tính cá nhân, mà phụ thuộc vào mạng lưới xã hội, mà đặc biệt là vai
trò của mạng lưới xã hội “không chính thức”. Xu hướng xuất cư kinh tế
thường là xuất cư ngoài tỉnh và đến các vùng đô thị, tập trung chủ yếu ở
5
SAVY2 tiến hành năm 2009 cung cấp cái nhìn tương đối toàn diện về
thanh thiếu niên Việt Nam ở độ tuổi từ 14 - 25 sống trong các hộ gia đình
trên 2/3 lãnh thổ Việt Nam về nhiều vấn đề khác nhau: giáo dục, lao động,
việc làm, tình dục và sức khỏe sinh sản, sức khỏe tâm thần, tai nạn, thương
tích và bệnh tật, hành vi, ước muốn, hoài bão.
Tổng điều tra dân số và nhà ở, công bố giữa kỳ 2014 cho phép phân
tích cho toàn bộ thanh niên lứa tuổi 16 - 30 cũng như phân tích trong 3
nhóm nhỏ 16 - 19, 20 - 24 và 25 - 30 tuổi.
Điều tra Lao động việc làm 2015, 2016, 2017 với mục đích thu thập
các thông tin cơ bản về thị trường lao động có tính kế thừa và so sánh với
các cuộc điều tra trước đây, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, phục vụ
việc đánh giá sự biến động của thị trường lao động giữa các quý trong năm
và phản ánh ảnh hưởng của tình hình kinh tế lên thị trường lao động.
Năm 2013, Tổ chức Lao động quốc tế điều tra về chuyển tiếp từ trường
học tới việc làm nhằm làm rõ thời gian từ khi thanh niên rời trường học,
đến khi có được công việc ổn định hoặc công việc đầu tiên thấy hài lòng.
Các nghiên cứu về thanh niên và di dân trẻ cho rằng, hiện nay có những
vấn đề khó khăn, bất cập trong viêc đáp ứng nhu cầu giải trí của thanh niên.
Một số nghiên cứu tập trung vào sức khỏe của thanh niên nhập cư tại thành
phố cho rằng, hành vi của thanh niên không tiếp cận đầy đủ các thông tin
về chăm sóc sức khỏe sinh sản có thể dẫn đến nhiều nguy cơ.
Ở khía cạnh việc làm của thanh niên, các nghiên cứu cho rằng tình
trạng thiếu việc làm và chất lượng nguồn nhân lực là một thách thức trong
quá trình phát triển. Lao động di chuyển trong độ tuổi thanh niên chiếm tỉ
lệ cao, tình trạng thiếu việc làm của thanh niên nông thôn nghiêm trọng hơn
thanh niên thành thị. Do có đến 52% thanh niên có nhu cầu làm việc tại các
thành phố lớn, mong muốn trở về nông thôn chỉ chiếm 5.3%.
tượng xã hội của quá trình di dân, từ đó tìm kiếm và đề xuất các biện pháp
thích hợp nhằm giải quyết hài hòa giữa mặt tích cực và tiêu cực của hiện
tượng di dân, góp phần vào ổn định và phát triển xã hội.
1.3.2. Đánh giá các nghiên cứu về thanh niên, di dân trẻ
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, thanh niên có một vai trò cực kỳ quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Tuy nhiên, liên quan đến thanh niên cũng còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu
để đưa ra các giải pháp nhằm phát huy tiềm năng của giới này như quan
điểm và giá trị sống, các vấn đề về giáo dục và việc làm, vui chơi giải trí và
sức khỏe… Các nghiên cứu về thanh niên sử dụng nhiều số liệu, tiến hành
các khảo sát định lượng quy mô lớn, cho các dữ liệu tốt.
1.3.3. Đánh giá các nghiên cứu về sinh viên nhập cư
Tuy tiếp cận được một vài nghiên cứu riêng biệt quy mô nhỏ về nhóm
khách thể đặc thù này, nhưng các đề tài này đã cho thấy một vài đặc điểm
quan trọng của sinh viên nhập cư: các mối quan tâm khi tốt nghiệp, các yếu
7
tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nơi làm việc, động cơ ở lại các thành phố
lớn khi tốt nghiệp, tình trạng thất nghiệp hoặc làm trái ngành nghề, làm
những công việc mà mức độ yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thấp hơn so với
bậc học của sinh viên tốt nghiệp…
Chƣơng 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận của nghiên cứu
2.1.1. Một số khái niệm công cụ
Khái niệm di dân: Chỉ một hiện tượng xã hội diễn ra trong một không
gian và thời gian xác định. Không gian của di dân là nơi đi - gắn liền với
khái niệm xuất cư, và nơi đến - gắn liền với khái niệm nhập cư.
Khái niệm di dân học tập: Được hiểu là di dân với động cơ học tập, tức
là những sinh viên ở các tỉnh khác đến TP.HCM học tập. Trong khái niệm
tồn tại của khu vực kinh tế phi chính thức. Quyết định di dân là một quá
trình tác động đa chiều bởi các yếu tố kinh tế lẫn phi kinh tế trên cả hai cấp
độ vi mô và vĩ mô. Massey và cộng sự cho rằng để có thể hiểu được toàn
diện về di dân, cần có một lý thuyết phức hợp, trong đó kết hợp đa dạng
quan điểm, cấp độ và giả thuyết.
Lý thuyết phân tích mạng lưới xã hội: Lý thuyết tương tác xã hội của
Georg Simmel tập trung vào phân tích các kiểu, hình thức của mạng lưới
gồm các mối liên hệ của các cá nhân đang tác động lẫn nhau. Theo thuyết
cấu trúc chức năng, Emile Durkheim phân biệt hai kiểu đoàn kết xã hội:
đoàn kết hữu cơ và đoàn kết cơ học hoặc máy móc trên cơ sở phân công lao
động phức tạp và đơn giản tạo nên những kiểu quan hệ và liên hệ tương
ứng giữa các cá nhân và nhóm. Các nghiên cứu về di dân cho thấy vai trò
của mạng lưới xã hội (đặc biệt là nơi đến) có tác động rất mạnh đến các
quyết định chuyển cư.
Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý: Friedman và Hechter đã đưa ra lí thuyết
lựa chọn hợp lí với mục đích là các chủ thể. Cả hai tác giả không quan tâm
đến tính chất sở thích hay là cơ sở tạo ra sự mong muốn (nhu cầu) của chủ
thể mà chủ yếu quan tâm đến sự lựa chọn của chủ thể phù hợp với hệ thống
sở thích của họ. Nghĩa là không quan tâm đến cái mà chủ thể mong muốn
mà chỉ quan tâm đến cách mà chủ thể sử dụng để đạt đến mục đích cuối
cùng và kết quả đạt được có phù hợp với mong muốn của chủ thể hay
không. Quyết định chuyển cư (hoặc là các quyết định tiếp tục ở lại nơi đã
đến hay quay về nơi xuất cư trước đó) là một hành động mà ở đó cá nhân
nhận thấy vào thời điểm đó là hợp lý nhất, có lợi nhất cho họ.
2.2. Cơ sở thực tiễn của nghiên cứu
2.2.1. Chính sách của Nhà nước về giải quyết việc làm cho sinh viên
Giải quyết việc làm cho thanh niên, sinh viên là ưu tiên đặc biệt trong
chính sách của Nhà nước. Có thể kể ra các chủ trương được cụ thể hóa
thành văn bản như Bộ luật Lao động năm 2012 (sửa đổi), Luật Giáo dục
ĐH năm 2012, Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm
dân số, tạo áp lực lớn lên nền kinh tế và đời sống người dân. TP.HCM cũng
tập trung nhiều trường CĐ, ĐH với trên 80 trường, bên cạnh hệ thống công
lập thì các trường tư thục phát triển mạnh tại đây. Trong số học sinh, sinh
viên đang theo học tại các trường ĐH, CĐ của thành phố, có khoảng 40%
đến từ các tỉnh khác của quốc gia.
10
Chƣơng 3. THỰC TRẠNG CUỘC SỐNG CỦA
SINH VIÊN NHẬP CƢ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1. Dòng di dân và thực trạng di dân học tập
3.1.1. Xu hướng và mô hình di dân
3.1.1.1. Tỉ lệ gia tăng dân số
Với việc là trung tâm kinh tế và dịch vụ lớn nhất cả nước, TP.HCM đã
thu hút một lực lượng lao động rất lớn để phục vụ cho sự phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương, trong số đó có sự đóng góp không nhỏ của người
nhập cư. Năm 2016 dân số thành phố là 8.441.902 người, tính chung giai
đoạn 2009 - 2015, tăng hơn một triệu dân, chủ yếu vẫn là tăng cơ học.
3.1.1.2. Vùng xuất cư
TP.HCM là nơi có số lượng người di cư đến nhiều nhất trong cả nước,
đặc biệt là nhóm di cư trẻ. Có 45,7% người di cư từ 15 tuổi trở lên đến
vùng Đông Nam Bộ, riêng TP.HCM đã tiếp nhận khoảng 1/2 thị phần,
trong đó có một lượng không nhỏ đến đây để học tập, đào tạo nâng cao tay
nghề. Người nhập cư đến từ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh
miền Trung, Đông Nam Bộ; có xu hướng giảm dần ở các tỉnh phía Bắc và
tăng dần ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây.
3.1.1.3. Tình trạng cư trú
Tại TP.HCM số lượng người nhập cư không có hộ khẩu thường trú khá
nhiều và tăng mạnh. Tính đến năm 2015 có khoảng 1,3 triệu người không
Sinh viên nhập cư chủ yếu đến từ các tỉnh thuộc vùng Nam Trung Bộ,
tiếp theo là các vùng Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ, rất ít các trường hợp đến
từ các tỉnh phía Bắc.
3.2. Một vài đặc điểm đời sống của sinh viên nhập cƣ
3.2.1. Nơi ở và điều kiện sinh hoạt
3.2.1.1. Nơi ở của sinh viên nhập cư
Sinh viên đến thành phố học tập thường có ba dạng nhà để ở: ở nhà
riêng, ở nhờ nhà người thân và ở trọ. Trong ba dạng này, chủ yếu sinh viên
là đi ở trọ (77%), ở chung nhà người thân (14%), chỉ khoảng 9% sinh viên
ở nhà riêng tại thành phố. Cuộc sống ở trọ cũng rất đa dạng, bao gồm ký
túc xá, phòng trọ chung nhà với chủ trọ, phòng trọ độc lập hoặc thuê nhà
nguyên căn. Phần lớn sinh viên nhập cư chọn thuê trọ trong các dãy phòng
trọ độc lập (34,9%) hoặc thuê trọ trong các gia đình (33,6%).
3.2.1.2. Điều kiện sinh hoạt
Điều kiện các khu nhà trọ của sinh viên rất tạm bợ, thiếu ánh sáng, độ
thông thoáng, mất vệ sinh; nhiều khu nhà trọ, tình trạng mất an ninh diễn ra
phổ biến. Tuy nhiên, sinh viên nhập cư chấp nhận những yếu tố này miễn là
chỗ trọ có giá thuê thấp, gần địa điểm học tập để thuận tiện và giảm chi phí
đi lại. Vì cuộc sống ở trọ tạm bợ, hay di chuyển nên đa số sinh viên nhập
cư thiếu thốn các phương tiện cho sinh hoạt hàng ngày.
3.2.1.3. Làm thêm
12
Sinh viên nhập cư tham gia làm thêm khá nhiều, có 44,3% từng đi làm
thêm. Sinh viên có thể làm thêm nhiều việc khác nhau như phát tờ rơi, phụ
bán quán, giao hàng, chạy xe ôm, dạy kèm… Thu nhập trung bình từ việc
làm thêm của sinh viên nhập cư khoảng 1.600.000 đồng/tháng.
3.2.2. Hoạt động vui chơi, giải trí
3.2.2.1. Vui chơi, giải trí bên ngoài nơi ở
4.1.1.2. Mức độ liên quan giữa việc làm với ngành học
Có khoảng 42,7% cho rằng công việc hiện tại đúng với ngành học, 46%
cho rằng chỉ liên quan một phần hoặc rất ít liên quan đến ngành học, và
11,3% không hề liên quan gì.
4.1.1.3. Số lần và lý do thay đổi việc làm
Sinh viên nhập cư tốt nghiệp thay đổi việc nhiều lần, trung bình 1 năm
thay đổi khoảng 2,3 lần. Việc thay đổi công việc là khá nhiều, nhưng thời
gian tìm được việc mới cũng khá nhanh, trung bình khoảng 1,4 tháng là có
thể kiếm được việc mới.
4.1.1.4. Tìm hiểu thông tin việc làm
Các thông tin việc làm có được chủ yếu thông qua mạng lưới xã hội, đó
là bạn bè, người thân tại thành phố (44,4%), mặt khác họ cũng chủ động
tìm kiếm thông tin tuyển dụng từ chính các doanh nghiệp, công ty thông
qua các phương tiện thông tin đại chúng.
4.1.1.5. Từng làm việc ở quê
Hầu hết sinh viên nhập cư tốt nghiệp hiện nay đang làm việc tại thành
phố không quan tâm đến thông tin việc làm tại quê nhà. Một số thông tin
tuyển dụng, chính sách của địa phương, họ chỉ được nghe kể lại. Có khoảng
8,6% từng quay về quê làm việc, sau đó quay lại thành phố.
4.1.1.6. Khu vực và vị trí làm việc
Sinh viên nhập cư tốt nghiệp chủ yếu làm việc trong khu vực ngoài nhà
nước (78,4%). Lý do không là trong khu vực nhà nước là chưa có hộ khẩu,
thu nhập thấp. Có một tỉ lệ khá nhỏ đảm nhận các vị trí lãnh đạo (1,4%) hay
quản lý (10,2%), phần lớn còn lại là chuyên viên và nhân viên các công ty,
doanh nghiệp tư nhân (88,4%). Không có sự khác biệt giữa nam và nữ
trong vị trí công việc sau khi tốt nghiệp khoảng 4 năm.
4.1.1.7. Thu nhập
Trung bình sinh viên nhập cư tốt nghiệp có thu nhập khoảng 7.100.000
đồng/tháng, mức thu nhập tỉ lệ thuận với thời gian tốt nghiệp. Có sự khác
biệt giữa mức thu nhập trung bình của nhóm nam và nữ, theo đó nữ giới có
Đa số sinh viên nhập cư tốt nghiệp (68%) trong khoảng thời gian dưới
10 năm vẫn còn phải ở trọ. Chỉ có 11,4% tốt nghiệp sau trung bình 5 năm
đã có thể sở hữu nhà riêng. Để có một khoản tiền lớn so với mức thu nhập
trung bình để mua được nhà, họ phải huy động từ nhiều nguồn kinh phí
khác nhau như gia đình hỗ trợ, vay ngân hàng, vay mượn bạn bè.
4.2.1.2. Loại hình nhà và điều kiện nơi ở
Đối với nhà riêng, chủ yếu là căn hộ chung cư (49,3%) với diện tích
khoảng 50 - 70m2, được mua trả góp qua ngân hàng. Tiếp theo là nhà cấp 4
(35,7%) thuộc các quận vùng ven và huyện ngoại thành hoặc các huyện
giáp ranh với TP.HCM. Nhà thường trong hẻm nhỏ, điều kiện vệ sinh môi
trường không tốt, một số nơi thường xuyên ngập nước. Đối với sinh viên
nhập cư tốt nghiệp phải thuê nhà để ở, chủ yếu họ thuê phòng trọ tại các
dãy nhà trọ độc lập (46,2%), sau đó là thuê nhà nguyên căn (22,7%).
15
4.2.1.3. Dịch vụ cung cấp điện, nước
Đối với người đã sở hữu nhà riêng, hầu hết được sử dụng điện lưới
bằng đồng hồ riêng. Về nguồn nước, đối với vùng ven hoặc huyện ngoại
thành, trong hẻm nhỏ phải dùng giếng bơm, nhiều nơi nguồn nước bị nhiễm
phèn. Trường hợp ở thuê, vẫn tiếp cận với nguồn điện lưới và nước sạch,
tuy nhiên phải trả tiền cao hơn nhiều lần so với giá bán của nhà nước.
4.2.1.4. Chi phí hàng tháng
Với thu nhập trung bình khoảng 7.093.000 đồng/tháng, sinh viên nhập
cư tốt nghiệp phải chi cho tất cả các khoản ăn, ở, sinh hoạt, học hành cho cá
nhân hoặc con cái… Về mức thu nhập so với chi tiêu, 35,8% cho rằng
“cũng tạm đủ chi tiêu”, 30,2% gặp khó khăn nhưng “tự lo được”.
4.2.1.5. Tiền tiết kiệm và gửi về quê
Với sinh viên nhập cư tốt nghiệp, thu nhập hàng tháng chỉ đủ trang trải
cuộc sống cá nhân, chỉ một số ít (16,9%) phải gửi tiền về quê hỗ trợ gia
31,4% cho rằng tùy tình hình sẽ quyết định.
Chƣơng 5. MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
QUYẾT ĐỊNH Ở LẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CỦA
SINH VIÊN NHẬP CƢ SAU TỐT NGHIỆP
5.1. Một số nhân tố tác động ở cấp độ vi mô
5.1.1. Mục đích ở lại thành phố sau khi tốt nghiệp
Mục đích ở lại thành phố để tìm kiếm việc làm, mang lại thu nhập cao
sau khi tốt nghiệp đã hình thành trong một bộ phận sinh viên nhập cư ngay
khi họ quyết định chọn trường học tại TP.HCM. Mặc dù tỉ lệ thất nghiệp ở
đô thị khá cao, nhưng điều này dường như không cản trở đến quyết định ở
lại thành phố của sinh viên nhập cư sau khi tốt nghiệp. Kết quả khảo sát
350 người nhập cư là sinh viên đã tốt nghiệp, hiện đang ở tại TP.HCM
cũng cho rằng việc mình quyết định ở lại thành phố sau khi tốt nghiệp là cơ
hội thu nhập cao từ công việc, tìm kiếm được việc làm và điều kiện để học
hỏi nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
5.1.2. Vai trò của gia đình và những kết nối xã hội
5.1.2.1. Nghề nghiệp của cha mẹ và mạng lưới xã hội ở nơi xuất cư
Hầu hết sinh viên nhập cư tốt nghiệp hiện tại đang ở lại TP.HCM
không có mạng lưới xã hội rộng rãi ở nơi xuất cư, nghề nghiệp của cha mẹ
chủ yếu là làm nông nghiệp, lao động giản đơn (chiếm 72,1%), nhân viên,
buôn bán nhỏ tại nhà… thuộc tầng thấp và giữa trong xã hội.
Đối với sinh viên nhập cư hiện đang học tập tại TP.HCM, phần lớn
sinh viên được hỏi đều cho rằng sẽ ở lại thành phố sau khi tốt nghiệp. Tuy
nhiên, kết quả phân tích tương quan giữa nghề nghiệp của gia đình và dự
định sau khi tốt nghiệp cho thấy có sự khác nhau giữa nhóm có cha mẹ làm
các việc lao động nông nghiệp, đơn giản, buôn bán nhỏ (tầng thấp) và
nhóm có cha mẹ làm lãnh đạo, doanh nhân hoặc chuyên môn cao (tầng
cao). Theo đó, nhóm có cha mẹ thuộc tầng thấp có 3% xác định sẽ trở về
quê, trong khi đó nhóm có cha mẹ thuộc tầng cao là 18,9%.
17
Đối với sinh viên nhập cư, ban đầu khi mới đến thành phố trọ học, họ
có xu hướng tìm đến người thân hoặc bạn bè để ở chung. Sau khoảng một
năm, khi đã thích nghi cuộc sống tại thành phố, đồng thời mở rộng mối
quan hệ với bạn bè cùng trường, cùng lớp thì sinh viên nhập cư có xu
hướng tách dần sự phụ thuộc vào người thân hoặc bạn bè cùng quê để hình
thành các mối liên kết khác. Như vậy, trong quá trình học tập tại thành phố,
18
sinh viên nhập cư đã hình thành mạng lưới xã hội rộng rãi thông qua bạn bè
trong trường và ngoài trường tạo nên những kết nối xã hội đa dạng.
So với người thân trong gia đình, bạn bè dường như có vai trò hơn
trong việc cân nhắc các lợi ích từ mạng lưới xã hội này, dẫn đến quyết định
ở lại TP.HCM của sinh viên nhập cư tốt nghiệp. Thật vậy, có khoảng
15,4% đồng ý cho rằng lắng nghe lời khuyên của bạn bè trước khi quyết
định ở lại thành phố, trong khi chỉ khoảng 5,4% cho rằng cha mẹ định
hướng, 6,2% là do ý kiến người thân tác động.
5.1.2.4. Thông tin việc làm
Mạng lưới xã hội ảnh hưởng đến việc có được các thông tin kịp thời
trước khi quyết định chuyển cư, đặc biệt đối với di dân lần đầu. Đối với
sinh viên nhập cư tốt nghiệp ở lại TP.HCM, đương nhiên họ đã có thông tin
khá rõ do có quá trình sinh sống và mạng lưới xã hội rộng rãi tại thành phố,
tuy nhiên mức độ có được thông tin về việc làm tại quê nhà sau khi tốt
nghiệp cũng sẽ ảnh hưởng hoặc củng cố thêm ý định ở lại thành phố.
Sau khi tốt nghiệp, sinh viên thường tự tìm các thông tin tuyển dụng tại
các cơ quan, doanh nghiệp (trực tiếp hoặc trên mạng internet) hoặc thông
qua mạng lưới xã hội (bạn bè và người thân tại thành phố). Tuy nhiên, do
không có thông tin cụ thể về nhu cầu việc làm tại quê nhà nên nhiều sinh
viên đã không có ý định sẽ quay về quê.
5.1.3. Sự thích nghi với môi trường sống đô thị
sống ở trọ. Tuy nhiên, khi đã quay về quê, với “sức ép vô hình” thì bằng
mọi giá phải xin việc tương xứng với bằng cấp đã đi học, không thể “ở
không” vì gia đình không muốn, làng xóm bàn tán… Các tình huống này
góp phần đã đẩy họ quay trở lại thành phố, nơi có tính ẩn danh cao, tự do,
thoải mái như nhiều sinh viên nhập cư tốt nghiệp đánh giá.
Những sinh viên nhập cư tốt nghiệp khác, ở lại thành phố có được
những thành công, cuộc sống độc lập, có thể giúp đỡ gia đình của họ tại
quê nhà khiến hình ảnh TP.HCM trở thành một nơi đầy hứa hẹn cho tương
lai của ai muốn ở đây lập nghiệp. Trong một vài trường hợp, những người
di cư trẻ là do muốn có một cuộc sống độc lập giống như bạn bè của họ.
Sinh viên nhập cư đã quen lối sống tại đô thị, chấp nhận các khó khăn phải
đối mặt, cho dù nhận được các lời khuyên của gia đình thì họ vẫn khó thay
đổi quyết định.
5.1.4. Các đặc điểm cá nhân
Khảo sát những sinh viên nhập cư hiện đang học tập tại TP.HCM, khi
được hỏi dự định sau khi tốt nghiệp thì chỉ khoảng 9% trả lời chắc chắn sẽ
về quê, và không có sự khác biệt nhiều về giới tính. Tuy nhiên khi phỏng
vấn sâu một vài trường hợp thì thấy rằng có sự khác nhau giữa lý do quay
trở về quê giữa nam và nữ. Thật vậy, nam giới khi đã xác định trở về khi đã
chắc chắn có công việc (hoặc là làm trong khu vực nhà nước hoặc làm cho
gia đình); trong khi đó, nữ giới ngoài lý do việc làm còn có nhiều lý do
20
khác chi phối quyết định trở về quê như kết hôn, chăm sóc gia đình. Như
vậy, có thể thấy rằng trong các quyết định chuyển cư, nữ giới (tuy đã có
nhiều tiếng nói độc lập hơn) thường bị chi phối bởi yếu tố gia đình.
Kết quả khảo sát cho thấy, nhóm sinh viên nhập cư tốt nghiệp ở lại
TP.HCM đến chủ yếu từ khu vực nông thôn (63,1%). Điều này có thể lý
giải thông qua điều kiện kinh tế gia đình hoặc nghề nghiệp của cha mẹ
Đặc biệt, đối với nhóm tốt nghiệp đã lập gia đình, điều kiện giáo dục – y tế
tại TP.HCM là yếu tố rất quan trọng giữ họ tiếp tục cuộc sống tại đây.
5.2.2.2. Sự khác biệt về chăm sóc sức khỏe
Cũng như giáo dục, sự khác biệt về y tế là một lợi thế của TP.HCM để
góp phần thu hút các luồng nhập cư. Khảo sát sinh viên nhập cư đã tốt
nghiệp cũng cho thấy họ đồng tình với quan điểm này.
Như vậy, cũng như nhiều nhóm nhập cư khác, sinh viên nhập cư tốt
nghiệp cảm nhận ở thành phố có nhiều dịch vụ chăm sóc và phát triển cho
người dân; có hệ thống an sinh xã hội tốt đáp ứng nhu cầu cơ bản của cá
nhân và gia đình đã tác động đến quyết định ở lại thành phố sinh sống và
làm việc sau khi tốt nghiệp của họ.
5.2.3. Cơ sở hạ tầng, tiện ích xã hội
Môi trường sống tốt còn bao gồm các yếu tố về điều kiện giải trí, mua
sắm, ẩm thực, giao thông, cảnh quan cũng tác động đến quyết định chọn
nơi sinh sống và làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
KẾT LUẬN
1. Những nghiên cứu về di dân hiện nay thường không chú ý xem xét
đối tượng di dân học tập. Nghiên cứu này lập luận rằng, sinh viên nhập cư
đang học và đã tốt nghiệp nhưng ở lại thành phố là một thành phần di cư
quan trọng không thể thiếu trong các nghiên cứu về di dân, di dân trẻ tại đô
thị. Ẩn mình trong các quyết định chuyển cư là các yếu tố văn hóa - xã hội,
do vậy ngoài cách tiếp cận lý thuyết nghiên cứu di dân phổ biến về lực hút lực đẩy, nghiên cứu này chú trọng đến cách tiếp cận đa cấp độ, trong đó
nhấn mạnh yếu tố mạng lưới xã hội và hành vi lựa chọn hợp lý qua quá
trình thích nghi lối sống đô thị làm nền tảng lý luận cho nghiên cứu về hiện
tượng sinh viên nhập cư không trở về quê sau khi tốt nghiệp tại các thành
phố lớn.
2. Nghiên cứu về đặc điểm của sinh viên nhập cư tại TP.HCM cho
thấy, hầu hết trong số họ có ý định ở lại thành phố sau khi tốt nghiệp vì