Xây dựng và sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu đúng một phần để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phần hai sinh học tế bào, sinh học 10, trung học phổ - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-------o0o-------

DƢƠNG THỊ TUYẾT

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG
BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN
DẠNG CÂU NHIỄU ĐÚNG MỘT PHẦN ĐỂ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH PHẦN HAI SINH HỌC TẾ BÀO,
SINH HỌC 10, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM SINH HỌC

HÀ NỘI – 2013

i


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-------o0o-------


THPT Hoàng Văn Thụ , Hà Nội cùng các thầy cô giáo dạy môn Sinh học
của trường đã tạo điều kiện thuận lợi và hợp tác cùng chúng tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và thực nghiệm đề tài.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên,
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2013

Tác giả

Dƣơng Thị Tuyết

iii


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT


HS

6

Kiểm tra - Đánh giá

KT-ĐG

7

Nhóm học sinh điểm cao

NH

8

Nhóm học sinh điểm trung bình

M

9

Nhóm học sinh điểm thấp

NL

10

Phó giáo sƣ, Tiến sĩ



DANH MỤC CÁC BẢNG

Tên bảng

Trang

Bảng 1.1: Phân loại mục tiêu theo thang bậc nhận thức Bloom

26

Bảng 1.2: Bảng số liệu giá trị TB về mức độ sử dụng các hình
thức câu hỏi để KT-ĐG của GV

36

Bảng 1.3: Bảng số liệu về mức độ sử dụng TNTL và TNKQ của
GV

37

Bảng 1.4: Bảng số liệu về mục đích KT-ĐG của GV

38

Bảng 2.1: Bảng chuẩn kiến thức, kỹ năng của Phần Sinh học tế
bào, Sinh học 10

41



Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tên hình

Trang

Hình 1.1: Các phƣơng pháp trắc nghiệm

21

Hình 3.1: Hình ảnh số liệu trong sheet1 file ptkq_SH.xls

61

Hình 3.2: Cách lập bảng kết quả kiểm định độ khó, độ phân biệt
của Đề KT 15 phút số 1

62

vi

Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

2.1.1. Quy trình xây dựng câu nhiễu đúng một phần của câu hỏi TNKQ
nhiều lựa chọn Phần Sinh học Tế bào, Sinh học 10, THPT ..........................40
2.1.2. Xây dựng, sưu tầm và chỉnh sửa các câu TNKQ nhiều lựa chọn dạng
câu nhiễu đúng một phần...............................................................................46
2.1.3. Kiểm định bộ câu hỏi ...........................................................................50
2.2. Sử dụng bộ câu hỏi TNKQ dạng câu nhiễu đúng một phần để KT-ĐG
Phần Sinh học Tế bào, Sinh học 10, THPT ...................................................52
2.2.1. Quy trình sử dụng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu đúng
một phần để KT-ĐG Phần Sinh học Tế bào, Sinh học 10, THPT .................52
2.2.2. Ví dụ về vận dụng quy trình .................................................................55
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ......................................................60
3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................60
3.2. Nội dung thực nghiệm ............................................................................60
3.3. Phƣơng pháp thực nghiệm ......................................................................60
3.3.1. Đối tượng thí nghiệm ...........................................................................60
3.3.2. Bố trí thí nghiệm ..................................................................................61
3.4. Xử lý số liệu............................................................................................61
3.4.1. Kiểm định bộ câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu đúng một
phần ...............................................................................................................61
3.5. Kết quả thực nghiệm...............................................................................64
3.5.1. Kết quả kiểm định bộ câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu
đúng một phần ...............................................................................................64

một khâu có ý nghĩa quyết định lớn trong việc nâng cao chất lƣợng và hiệu
quả giáo dục. Trang bị cho giáo viên những kĩ thuật kiểm tra đánh giá là một
việc làm cần thiết trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay. Kiểm tra là hình
thức và là phƣơng tiện góp phần vào quá trình đánh giá. Thông qua kết quả
3


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

của các loại bài kiểm tra, giáo viên sẽ có những thông tin cần thiết để xác
định thành tích học tập của học sinh đồng thời phát hiện những mặt đã đạt
đƣợc và những mặt chƣa đạt đƣợc từ đó điều chỉnh qua kiểm tra nhằm thúc
đẩy quá trình dạy và học .
Phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan là một trong những phƣơng
pháp và kỹ thuật đánh giá đƣợc sử dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc bởi phƣơng
pháp này khắc phục đƣợc những nhƣợc điểm của phƣơng pháp tự luận, đáp
ứng đƣợc yêu cầu cung cấp thông tin một cách chi tiết ở từng nội dung và
mức độ kiến thức khác nhau trong một thời lƣợng nhất định.
Ở Việt Nam, từ năm 2006 Bộ Giáo dục đã thực hiện chuyển đổi từ
hình thức thi tự luận sang hình thức thi trắc nghiệm khách quan trong kì thi
tốt nghiệp THPT, kì thi Đại học và Cao đẳng ở một số môn Vật lý, Hóa học,
Sinh học, Tiếng Anh. [5]
Do đó, hƣớng nghiên cứu của đề tài nhằm nghiên cứu, xây dựng và sử
dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu đúng

kiểm tra đánh giá, câu hỏi trắc nghiệm khách quan, thiết kế và sử dụng câu
hỏi trắc nghiệm khách quan dạng câu nhiễu đúng một phần của giáo viên
trong kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh để làm cơ sở xây dựng
phần lý luận của đề tài nghiên cứu.
- Thiết kế và sử dụng phiếu điều tra giáo viên về: tình hình sử dụng câu hỏi
trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu đúng một phần trong
kiểm tra đánh giá kết quả học tập.

5


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

- Thiết kế câu hỏi tự luận ngắn để kiểm tra học sinh làm cơ sở xây dựng câu
nhiễu cho câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu
đúng một phần.
- Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu
đúng một phần để kiểm tra – đánh giá học sinh sau khi học xong bài mới.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Thiết kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
dạng câu nhiễu đúng một phần để kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của
học sinh Phần Sinh học Tế bào (Chƣơng I,II), Sinh học 10, THPT.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

phần đƣợc xây dựng trong bộ câu hỏi để kiểm tra sau mỗi bài học hoặc kiểm
tra 15 phút trƣớc khi vào bài mới để xác định chất lƣợng lĩnh hội tri thức của
học sinh.
- Tổ chức thực nghiệm đánh giá kết quả học tập của học sinh phần Sinh học
tế bào, Sinh học 10, THPT:
Sau khi học hết phần Sinh học Tế bào, tổ chức cho học sinh thực hiện
bài kiểm tra 45 phút bằng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu
đúng một phần đƣợc thiết kế trong bộ câu hỏi để kiểm tra - đánh giá kết quả
học tập của học sinh.

7


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

7. Những đóng góp mới của luận văn
- Xây dựng nguyên tắc, quy trình sƣu tầm, chọn lọc, thiết kế, bổ sung hệ
thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu đúng một phần cho nội
dung kiến thức Phần Sinh học Tế bào, Sinh học 10, THPT làm cơ sở cho
kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh.
- Xây dựng bộ câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu đúng một phần
đảm bảo các tiêu chuẩn để kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh
phần Sinh học Tế bào, Sinh học 10, THPT.
- Đề xuất nguyên tắc, quy trình sử dụng TNKQ nhiều lựa chọn dạng câu

trắc nghiệm đã không ngừng phát triển và đƣợc áp dụng rộng rãi trong nhiều
lĩnh vực, trong đó có Giáo dục và đào tạo.
Các phƣơng pháp đo lƣờng và trắc nghiệm lần đầu tiên đƣợc tiến hành
vào thế kỷ XVII-XVIII trong lĩnh vực Vật lý và Tâm lý học, sau đó lan dần
sang ngành Động vật học ở châu Âu. Ban đầu, các nhà nghiên cứu chú trọng
đến các phép đo liên quan đến thính giác, thị giác, thị giác, tốc độ phản xạ,
sau đó mới nghiên cứ đến thời gian nhận thức, tốc độ nhận thức.
Vào thế kỉ XIX, ngƣời ta bắt đầu quan tâm đến đo về những khác biệt
cá nhân. Francis Galton, một trong những ngƣời đã cống hiến đời mình cho
việc nghiên cứu cá nhân con ngƣời, là ngƣời đầu tiên quan tâm đến đặc tính
cá nhân có di truyền hay không nhằm chọn lọc những ngƣời làm cha mẹ tốt
nhất. Từ đó, ông triển khai các trắc nghiệm để đo các đặc điểm con ngƣời và
gọi đó là các trắc nghiệm về trí tuệ.
Ở Mỹ, lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh vào thời kỳ trƣớc và sau
thế chiến thứ hai. Đầu thế kỷ XIX, Edward Thorndike là ngƣời đầu tiên
9


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

dùng trắc nghiệm nhƣ một phƣơng pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo
trình độ kiến thức của học sinh dùng với một số môn học và sau đó là đối
với một số lĩnh vực kiến thức khác. Nhƣ vậy, khoa học đo lƣờng trong Giáo
dục đƣợc cho rằng thực sự bắt đầu cách đây chỉ khoảng một thế kỷ. Năm

nhiều công trình khác cũng lần lƣợt đƣợc công bố. [27, tr.214-218]
Tại Mỹ, với việc thành lâp một số tổ chức dịch vụ trắc nghiệm đã hình
thành nên một ngành công nghiệp trắc nghiệm và đã đem lại cho nền kinh tế
Mỹ hàng trăm triệu USD mỗi năm. Chẳng hạn nhƣ ETS (Educational
Testing Service) là một tổ chức dịch vụ trắc nghiệm nổi tiếng ở Mỹ với các
sản phẩm nhƣ TOEFL, SAT, GMAT… phục vụ cho nhu cầu đánh giá giáo
dục cho cá nhân, trƣờng học và các cơ quan ở gần 200 quốc gia. Hàng năm
ETS thiết kế và tổ chức triển khai hơn 12 triệu lƣợt trắc nghiệm trên khắp
thế giới. Bên cạnh đó còn có nhiều nghiên cứu, khảo sát về kỹ thuật đo
lƣờng trong giáo dục bằng TNKQ kết hợp xử lý trên máy tính các số liệu thu
đƣợc nhằm đánh giá chính xác kết quả học tập. nhiều công trình đã đƣợc
công bố trong đó các tác giả đi sâu phân biệt rõ từng loại trắc nghiệm, ƣu –
nhƣợc điểm, vai trò, tiêu chí, nguyên tắc phân biệt của câu hỏi trắc nghiệm,
độ giá trị, độ tin cậy của bài tắc nghiệm.
Sự phát triển về khoa học đo lƣờng và đánh giá không chỉ dừng lại ở
Hoa Kỳ, Châu Âu mà ở các nƣớc Châu Á cũng rất phát triển. Trong những
năm gần đây, trắc nghiệm đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong quá trình giảng
dạy ở phổ thông cũng nhƣ ở Đại học. Phƣơng pháp này từng bƣớc đƣợc
nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng. Để nâng cao năng lực tự học,
tự kiểm tra trong thi cử, nhiều trƣờng đại học đã cài đặt chƣơng trình TNKQ
vào máy vi tính để sinh viên tự kiểm tra, đánh giá kết quả trƣớc khi bƣớc
vào kỳ thi chính thức. Ở các trƣờng phổ thông, phƣơng pháp trắc nghiệm

11


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu

12


dạy tại lớp cao học và tiến sĩ giáo dục học tại trƣờng Đại học Sài Gòn. Nhƣ
vậy, khoa học đo lƣờng trắc nghiệm chính thức đƣợc đƣa vào chƣơng trình
đào tạo Giảng viên.
Trong lĩnh vực Sinh học, từ năm 1971 đã có nhiều công trình nghiên
cứu về TNKQ nhƣ: tác giả Trần Bá Hoành với công trình “Thử dùng
phương pháp test điều tra tình hình nghiên cứu của học sinh về một số
khái niệm trong chương trình sinh vật học đại cương lớp 9”. Năm 1974, ở
miền Nam đã tổ chức thi tú tài bằng phƣơng pháp TNKQ dạng nhiều lựa
chọn với việc lựa chọn đề thi từ nhà khảo thí (vụ tuyển sinh) chuyên phát
hành đề thi (trực thuộc Bộ Giáo dục Sài Gòn).
Ở miền Bắc, TNKQ đƣợc nghiên cứu và triển khai muộn hơn so với
miền Nam. Trong dạy học, Giáo sƣ Trần Bá Hoành là ngƣời đầu tiên sử
dụng thuật ngữ “Test” để nói đến TNKQ. Năm 1971, Giáo sƣ đã biên soạn
các câu hỏi và áp dụng trắc nghiệm vào việc kiểm tra của học sinh và thu
đƣợc một số kết quả.
Năm 1986, tại khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp thuộc trƣờng Đại
học sƣ phạm Hà Nội đã tổ chức hội thảo với nội dung “Phƣơng pháp xây
dựng hệ thống câu hỏi lựa chọn đa phƣơng án” do Tiến sĩ P.Herath trình bày
và hƣớng dẫn. Sau hội thảo này, có nhiều giảng viên triển khai xây dựng và
áp dụng trắc nghiệm vào KTĐG nhƣ: Lê Đình Trung (1988) “Nghiên cứu
quy trình và những kết quả bƣớc đầu xây dựng câu hỏi dạng MCQ về một số
nội dung kiến thức Sinh học ở trƣờng Đại học Sƣ phạm”, Lê Đình Trung và
Nguyễn Thị Kim Giang (1988) “Xây dụng câu hỏi dạng MCQ về nội dung
vật chất di truyền và biến đổi vật chất di truyền trong chƣơng trình di truyền
học ở trƣờng Đại học Sƣ phạm”.

13

giỏi, ôn thi Tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh Cao đẳng, Đại học theo hƣớng
TNKQ nhƣ: “1111 câu hỏi trắc nghiệm Sinh học”, “Tuyển tập 1000 câu hỏi
và bài tập”, “Chuyên đề luyện thi đại học”…
Năm 2008, GS.TS Lâm Quang Thiệp đã xuất bản cuốn “Trắc nghiệm
và ứng dụng”, cuốn sách nhằm phổ cập rộng rãi cho công chúng về khoa học
trắc nghiệm và cũng gợi ý cho các trƣờng Đại học, các viện nghiên cứu, các

14


nhà xuất bản cũng nhƣ các cơ quan quản lý giáo dục lƣu ý đến việc đào tạo
chuyên gia và có biện pháp thúc đẩy sự phát triển của khoa học này để áp
dụng vào thực tiễn giáo dục ở nƣớc ta.
Một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ khoa học nghiên cứu về quy
trình xây dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ trong kiểm tra đánh giá và quy
trình xây dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ trong dạy học nhƣ luận văn của
Nguyễn Thị Kim Giang (1997), Nguyễn Kỳ Loan (2000), luận văn Tiến sĩ
của Vũ Đình Luận (2005), Phạm Thị Thu Hiền (2007). Đặc biệt, năm 2012,
luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Hƣơng Trà nghiên cứu về “Xây dựng và sử
dụng câu nhiễu của câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để
đánh giá chất lượng lĩnh hội kiến thức chương cơ chế di truyền và biến dị
Sinh học 12 THPT”, đây có thể coi là luận văn thạc sĩ đầu tiên đi sâu
nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng câu nhiễu của câu hỏi TNKQ để kiểm
tra-đánh giá chất lƣợng lĩnh hội kiến thức của học sinh. Tiếp theo đó là hàng
loạt luận văn Thạc sĩ và luận án Tiến sĩ ở trƣờng ĐH Sƣ phạm Hà Nội nhƣ
Nguyễn Thị Thanh Huyền, Phan Thị Hồng The cũng đề cập tới việc xây
dựng và sử dụng MCQ trong dạy học Sinh học. [29]
Qua nghiên cứu tổng quan những vấn đề trắc nghiệm ở Việt Nam cho
thấy phần lớn các nghiên cứu, ứng dụng đều đề cập đến việc sử dụng câu hỏi
TNKQ trong kiểm tra đánh giá, tự đánh giá, ôn tập, tuy nhiên rất ít tác giả đi

quá trình dạy học chuyển dần sang những bƣớc mới.
Kiểm tra định kỳ: hình thức kiểm tra này đƣợc thực hiện sau khi học
xong một chƣơng lớn, một phần của chƣơng trình hoặc sau một học kỳ.Nó
giúp cho GV và HS nhìn lại kết quả dạy và học sau những kỳ hạn nhất định,
đánh giá trình độ HS năm một khối lƣợng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tƣơng
đối lớn, củng cố mở rộng những điều đã học, đặt cơ sở tiếp tục học sang
những phần mới.
Kiểm tra tổng kết: hình thức kiểm tra này đƣợc thực hiện vào cuối
mỗi giáo trình, cuối năm học nhằm đánh giá kết quả chung, củng cố mở rộng
chƣơng trình toàn năm của môn học, chuẩn bị điều kiện để tiếp tục học
chƣơng trình của năm học sau.
Theo cách phân loại hình thức kiểm tra nhƣ trên, kết hợp với thực tế
tình hình kiểm tra thi cử ở nhà trƣờng phổ thông hiện nay, cùng với tính chất
quan trọng của các hình thức kiểm tra khác nhau mà hai hình thức kiểm tra

16


thƣờng xuyên và kiểm tra định kỳ đƣợc gọi là kiểm tra, còn hình thức kiểm
tra tổng kết thƣờng đƣợc gọi là thi. [16]
Bất cứ một quá trình giáo dục nào tác động lên một con ngƣời cũng
nhằm tạo ra những biến đổi nhất định trong đối tƣợng đó. Muốn biết những
biến đổi đó xảy ra ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của đối tƣợng trong
một tình huống nhất định. Sự đánh giá cho phép chúng ta xác định, một là
mục tiêu giáo dục đƣợc đặt ra có phù hợp hay không và có đạt mục tiêu hay
không, hai là việc giảng dạy có thành công hay không, ngƣời học có tiến bộ
hay không. Có thể định nghĩa đánh giá nhƣ sau:
Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống
nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt đƣợc ở mức độ nào”. [12, tr. 3]
Đánh giá trong giáo dục, theo Dƣơng Thiệu Tống là quá trình thu thập

Do vậy, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS là hai khâu có quan hệ
mật thiết với nhau. Kiểm tra nhằm cùng cấp thông tin để đánh giá và đánh
giá thông qua kết quả của kiểm tra. Hai khâu đó hợp thành một quá trình
thống nhất là kiểm tra – đánh giá.
1.2.1.2. Chức năng của kiểm tra – đánh giá
a. Chức năng định hướng
KT-ĐG trong giáo dục đƣợc tiến hành trên cơ sở của mục tiêu giáo
dục. Nó tiến hành phán đoán độ sai lệch giữa hiện trạng thực tế và mục tiêu
đề ra trƣớc đó, làm cho khoảng cách này ngày một ngắn hơn.
Chính vì vậy, KT-ĐG có khả năng chỉ ra phƣơng hƣớng về mục tiêu,
tôn chỉ giúp các trƣờng lập kế hoạch dạy và học. Đồng thời đánh giá giáo
dục cũng chỉ ra phƣơng hƣớng phấn đấu cho giáo viên và học sinh, cho các
cơ sở giáo dục và đào tạo nói chung.
Chức năng định hƣớng của đánh giá tồn tại khách quan, không bị ý
chí cá nhân của con ngƣời chi phối. Ngoài ra đánh giá giáo dục còn có khả
năng tác động và đảm bảo tính thông suốt cho quá trình thực hiện mục tiêu,
chính sách giáo dục. [12, tr5-6]

18


b. Chức năng đốc thúc, kích thích, tạo động lực
Thông qua đánh giá, giáo dục có thể kích thích tinh thần học hỏi và
vƣơn lên không ngừng của những đối tƣợng đƣợc đánh giá, từ đó tạo ra một
môi trƣờng cạnh tranh cho ngƣời học.
Trong quá trình quản lý dạy và học, căn cứ vào đặc điểm công việc và
quy luật hoạt động của ngành giáo dục chúng ta có thể sử dụng KT-ĐG để
đôn đốc, tăng cƣờng tinh thần cạnh tranh giữa các đối tƣợng đƣợc đánh giá.
Từ đó có thể giúp cho những đối tƣợng này thực hiện đƣợc những mục tiêu
đề ra trong tƣơng lai. [12, tr5-6]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status