ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM SƯ
PHẠM MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NHẰM PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO TRẺ
MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG
HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU
TƯỢNG SỐ LƯỢNG
- Đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng GQVĐ
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu
tượng số lượng
- Nguyên tắc xây dựng một số biện pháp phát triển khả năng
GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu
tượng số lượng
- Biện pháp được xây dựng phù hợp với mục tiêu GDMN.
Ở trường MN thì người lớn hay GV là chủ thể tác động lên
nhận thức của trẻ. Do vậy việc xây dựng một số biện pháp phát
triển khả năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động
hình thành BTSL cần phải đảm bảo mục tiêu GDMN.
Từ mục tiêu GDMN và những đòi hỏi bức thiết của xã hội,
chúng tôi cho rằng việc phát triển khả năng GQVĐ cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi trong hoạt động hình thành BTSL giúp trẻ có những
năng lực sau đây:
+ Trẻ hình thành thói quen nỗ lực thực hiện công việc đến
cùng, không nản chí.
+ Trẻ có tính tự lập, chủ động và dám chịu trách nhiệm.
+ Trẻ phát huy tính sáng tạo, linh hoạt thực hiện hành động,
lựa chọn giải pháp.
trẻ, GV không được mang tính áp đặt lên sự nhận biết của trẻ mà
cần dựa trên sự khai thác vốn kinh nghiệm, sự hiểu biết vốn có của
trẻ để dẫn dắt trẻ đến những kiến thức mới. Hơn nữa mỗi trẻ là một
cá thể riêng biệt với vốn kinh nghiệm khác nhau, đặc điểm nhận
thức khác nhau. Bên cạnh đó vấn đề sống ở những vùng khác nhau,
điều kiện và hoàn cảnh sống khác nhau, phong tục tập quán khác
nhau thì có vốn kinh nghiệm riêng cũng khác nhau. Tóm lại, các
biện pháp hình thành BTSL cho trẻ phải khai thác những đặc điểm
riêng ở mỗi trẻ như vốn kinh nghiệm ,tri thức, sự nhận biết, biểu
hiện … để có sự tác động phù hợp tới việc hình thành BTSL.
Trong quá trình hình thành BTSL, GV cần chú trọng tới việc
tổ chức các hoạt động tích cực, độc lập, xuất phát từ mong muốn,
niềm yêu thích của trẻ để trẻ tự nhận biết được những kiến thức,
kỹ năng mới.
Tóm lại, biện pháp hình thành BTSL là quá trình giáo viên
tổ chức và hướng dẫn các hoạt động có mục đích học tập cho trẻ
nhằm lôi cuốn mọi trẻ tự giác tham gia, tích cực, mong muốn, tự
tin. Từ những tình huống, hoạt động sát với cuộc sống, từ sự nhận
thức của trẻ, GV giúp đỡ để trẻ tự phát hiện, xác định những dấu
hiệu đặc trưng của số lượng, các mối liên hệ số lượng. GV cần chọn
lọc, hướng tới kiến thức, kỹ năng mới thông qua việc mở rộng,
chính xác hóa, hệ thống và khái quát hóa những biểu tượng đã có,
từ đó hình thành ở trẻ thói quen tự phát hiện và GQVĐ trong học
tập cũng như trong cuộc sống, phát triển từng bước tính chủ động,
sáng tạo trong học tập ở trẻ.
- Biện pháp phải làm sao để tất cả các trẻ đều được cung cấp
kinh nghiệm, được trải nghiệm trực tiếp, được tự làm và tạo cơ
hội được làm để tìm hiểu để giải quyết.
Trẻ hình thành khả năng GQVĐ thông qua hoạt động, các
tình huống hoạt động của trẻ càng phong phú và đa dạng thì sẽ
nảy sinh vấn đề không chỉ tạo hứng thú cho trẻ, kích thích trẻ hoạt
động mà còn đáp ứng nhu cầu khám phá cũng như tạo cơ hội cho
trẻ nhận ra và GQVĐ. Nếu giáo viên chuẩn bị môi trường hoạt
động như tổ chức sắp xếp, bố trí làm sao các đồ dùng, đồ chơi,
thiết bị xung quanh trẻ làm xuất hiện vấn đề cho trẻ giải quyết thì
khả năng GQVĐ của trẻ được phát triển, làm tăng hiệu quả giáo
dục khả năng GQVĐ cho trẻ ở trường mầm non.
+ Nội dung và cách tiến hành
-Tạo môi trường lớp học xung quanh trẻ
Môi trường học tập tốt có hiệu quả là môi trường gây hứng
thú cho trẻ, khơi dậy được các tố chất tiềm ẩn tốt đẹp cho trẻ. Do
vậy phải làm sao tạo ra các dụng cụ, đồ chơi hấp dẫn bố trí, xếp
đặt quanh lớp. Thí dụ cắt những nhân vật của chuyện cổ tích dán
lên tường, tạo hình các con vật được ưa thích ở trong rừng và
trong gia đình, chủ điểm giao thông,..v.v.. nói chung trang trí theo
chủ đề gắn liền với các ngày lễ, cho trẻ đếm và tham gia các môn
khác.
Tạo dựng thành khu vực riêng biệt trong lớp để trẻ có thể tự
làm việc một mình hay nhóm nhỏ theo hứng thú, nhu cầu riêng, tự
khám phá cái mới,hoạt động.
Trẻ nhỏ luôn tò mò, thích khám phá, thích cái đẹp, trí tưởng
tượng phong phú do vậy môi trường hoạt động đóng vai trò quan
trọng kích thích đứa trẻ tư duy và sáng tạo. Trẻ ưa thích thoải mái,
không bị chói buộc, cần tạo lớp học như gia đình của bé để trẻ
Trong buổi hoạt động làm quen với toán, phần mở đầu hấp
dẫn, mới lạ lôi cuốn sự chú ý của trẻ, làm tăng sự hứng thú của
trẻ, tinh thần không bị ép buộc khi tiếp nhận nội dung học.
Ví dụ: Trong chủ đề “bản thân”,khi dạy trẻ nhận biết chữ số
6, tạo nhóm có 5 đối tượng,. Tôi đã nghĩ ra chủ đề xuyên suốt giờ
học đó là “sinh nhật búp bê tròn 7 tuổi”. Mở đầu tiết dạy, tiếng
nhạc “Chúc mừng sinh nhật” vang lên, trẻ được lên đốt nến và
thổi nến, nói những lời chúc mừng sinh nhật có ý nhĩa, trẻ được
đếm số nến, tặng quà cho búp bê. Sau đó trẻ sẽ được bày cỗ mừng
sinh nhật búp bê ( mỗi món quà sẽ bày số lượng là 7, đúng bằng
với tuổi của búp bê ). Trẻ sẽ cảm thấy thích thú và nhiệt tình tham
gia, kích thích trí tò mò ham học hỏi của trẻ. Việc đặt ra các tình
huống có vấn đề để cô và trẻ cùng giải quyết sẽ gây cho trẻ được
trí tò mò và thích thú.
Hay ví dụ khác: Trẻ ở lứa tưổi này rất thích các con vật như
khủng long, khủng long bạo chúa,.…Mở đầu tiết dạy cô tạo tình
huống cho bạn khủng long đến thăm lớp,bạn khủng long sẽ chia sẻ
về các thành viên trong gia đình nhà mình; có khủng long bố, khủng
long mẹ và 4 chú khủng long con, trẻ sẽ rất hứng thú với cách mở
bài này. Nhiệm vụ của trẻ là sẽ đếm xem gia đình long có mấy
thành viên và lấy số ghế để mời các thành viên trong gia đình khủng
long ngồi, số ghế đúng bằng với số thành viên trong gia đìn khủng
long.
Như vậy việc đặt ra các tình huống có nhiều vấn đề sẽ kích
thích trí tò mò ở trẻ và trẻ thích thú và đưa ra nhiều cách thức
GQVĐ khác nhau.
Điều kiện sử dụng
+ Không gian lớp rộng đủ để có thể tổ chức các hoạt động,
GQVĐ trong quá trình hoạt động về khả năng GQVĐ ở trường
mầm non.
Khuyến khích, động viên trẻ đưa ra các cách GQVĐ khác
nhau trên cùng một vấn đề của hoạt động hình thành BTSL qua
đó phát triển khả năng GQVĐ của trẻ.
Nội dung và cách tiến hành:
GV xây dựng bài tập hình thành BTSL có nhiều cách
GQVĐ và cung cấp các cách giải quyết vấn đề bằng các cách
thức khác nhau nhằm tác động đến tri thức, kỹ năng thái độ, kích
thích sự hứng thú, tính tích cực của trẻ khi tham gia GQVĐ.
Ví dụ: Tôi chuẩn bị cho trẻ 7 chiếc lá xếp thành 2 hàng, trên
4 dưới 3
Với bài tập này, tôi đặt câu hỏi “Có tất cả bao nhiêu chiếc
lá?” thì tôi nhận ra rằng cùng là một kết quả nhưng trẻ sẽ có
những cách thức GQVĐ khác nhau: Có trẻ đếm lần lượt từ trái
sang phải hay ngược lại, từ trên xuống dưới, đếm theo cặp...
nhưng cũng có trẻ thì lại thêm bớt luôn là 4 thêm 3 bằng 7 hoặc
có trẻ tính nhẩm trong đầu là 4 cộng 3 bằng 7.
Kết quả thực nghiệm cho thấy trẻ có thể có những cách làm
khác nhau để xác định số lượng chiếc lá. Từ đếm tuần tự từ trái
sang phải, từ trên xuống dưới, hay trẻ đếm từ phải sang trái, một
số trẻ sử dụng phép toán như hàng trên có bốn chiếc lá, hàng dưới
có 3 chiếc lá, có tất cả 7 chiếc lá”,..Kết quả cho thấy trẻ có khả
năng đếm đúng tương đối cao, cùng là một tình huống có vấn đề
đưa ra, trẻ có nhiều cách thứu GQVĐ khác nhau.
GV xây dựng bài tập hình thành BTSL có nhiều cách
GQVĐ và cung cấp các cách giải quyết vấn đề bằng các cách
nhau. Mỗi cách sẽ có những ưu điểm và khuyết điểm khác nhau
nên nếu càng nhiều cách được đưa ra thì trẻ càng có cơ hội để lựa
chọn ra cách giải quyết tốt nhất. Vì vậy, ở giai đoạn này trẻ có thể
liệt kê tất cả những cách làm được hình dung để sau đó xác định
một giải pháp tối ưu.
Việc xác định thời điểm hay trường hợp để sử dụng câu hỏi
của giáo viên kích thích trẻ kịp thời, không để trẻ bỏ qua mà làm
cho đứa trẻ quan tâm đến vấn đề gặp phải. Sự việc,tình huống khó
khăn sẽ là vấn đề khi đứa trẻ quan tâm.
Nếu vấn đề chưa có trong kinh nghiệm của trẻ thì giáo viên
đưa thông tin liên quan giúp đứa trẻ liên tưởng để giải quyết,
trong quá trình khám phá tìm tòi giáo viên nhận biết các dấu hiệu
của trẻ tỏ ra lúng túng, lo lắng trước vấn đề gặp phải thì sử dụng
câu hỏi giúp trẻ bình tĩnh, cố gắng mạnh dạn tìm cách giải quyết
khác nhau.
Để trẻ kích thích tri giác, trải nghiệm, hoạt động trực tiếp
khi đứa trẻ nhút nhát, sợ làm, chờ đợi cô giáo thì GV nên sử dụng
câu hỏi làm cho trẻ nhìn, sờ, đếm, so sánh, thử.
Các câu hỏi sẽ kích thích trẻ tư duy giúp trẻ so sánh, phán
đoán, suy luân, các câu hỏi làm sống dậy kinh nghiệm của trẻ để
tìm ra mối liên hệ phù hợp. Câu hỏi đặt ra khi trẻ đã có trải
nghiệm như tri giác, tiếp xúc, thử nghiệm câu hỏi phải phù hợp
với khả năng của trẻ, khái quát và gợi mở.
Câu hỏi kích thích trẻ biểu đạt, sử dụng khi trẻ đang tìm
hiểu hoặc sau tìm hiểu. Giúp trẻ nói lên sự tò mò, quan tâm, mong
muốn mang lại kết quả và đánh giá kết quả.
Điều kiện sử dụng:
-Biện pháp này được sử dụng tốt nhất khi ngôn ngữ của trẻ
mang lại cho trẻ sự hứng thú, sự tò mò và lòng ham hiểu biết ở
trẻ, động viên khích lệ trẻ tự trả lời và đưa ra các cách thức giải
quyết vấn đề theo cách riêng của mình.
Nội dung và cách tiến hành
Việc tận dụng các tình huống có vấn đề nảy sinh trong quá
trình hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi một cách có chủ đích cần
đảm bảo những yêu cầu sau:
- Các tình huống có vấn đề được sử dụng phải hướng đến
việc thực hiện nội dung hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi và đảm
bảo được vai trò chủ thể tích cực của trẻ.
- Tình huống có vấn đề phải phù hợp với tư duy của trẻ 5-6
tuổi, có sự hấp dẫn và lôi cuốn trẻ, kích thích trẻ giải quyết các
tình huống dựa trên sự hiểu biết, kỹ năng, kinh nghiệm mà trẻ đã
tích lũy được.
- Phù hợp với đặc điểm nhận thức số lượng đặc biệt là đặc
điểm tư duy của trẻ.
Trong quá trình dạy học, giáo viên đưa ra các tình huống có
vấn đề liên quan đến nội dung bài học có tính hấp dẫn, lôi cuốn
trẻ, khích lệ trẻ tích cực tìm hiểu, khám phá, thể hiện suy nghĩ,
cách giải quyết của mình. Qua đó giúp trẻ tiếp thu được kiến thức
mới, hình thành và phát triển năng lực sáng tạo, suy nghĩ độc lập,
tính tích cực trong quá trình hình thành BTSL của trẻ.
Ví dụ: Gà mẹ dắt 8 gà con đi chơi nhưng bị lạc mất 3 bạn
gà con. Các con hãy tìm và đếm cho đủ 8 gà con để giúp gà mẹ
nhé?
Khi GV đưa trẻ vào các tình huống có vấn đề là GV đã yêu
cầu trẻ tiếp nhận và đưa ra cách giải quyết các nhiệm vụ nhận
thức. Kết quả giải quyết của trẻ chính là tri thức mới mà trẻ nhận
Điều kiện sử dụng:
Các tình huống tạo ra phải phù hợp với khả năng, vốn kinh
nghiệm, sự hiểu biết và hứng thú của trẻ để trẻ có thể tự mình tiếp
thu tri thức và giải quyết được các tình huống.
Các tình huống tạo ra không gò bó, áp đặt trẻ.
Trẻ phải có hiểu biết nhất định về bản thân, về người khác,
về thế giới xung quanh.
Giáo viên phải biết thiết kế nội dung hình thành BTSL trong
đó có chứa đựng các tình huống có vấn đề.
- Biện pháp 4: Tăng dần mức độ phức tạp, độ khó của tình
huống có vấn đề.
Mục đích, ý nghĩa:
Thông qua hệ thống trò chơi học tập mà kích thích hứng thú
cho trẻ để tăng mức độ phát triển khả năng GQVĐ cho trẻ qua hoạt
động hình thành BTSL.
Trong quá trình chơi, để thực hiện hành động chơi, giải
quyết nhiệm vụ chơi, trẻ phải sử dụng các giác quan, ngôn ngữ,
phải phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá và trừu tượng
hoá...khiến cho các giác quan của trẻ phát triển trở nên nhạy bén
hơn, ngôn ngữ mạch lạc hơn, tư duy trực quan - hình tượng phát
triển mạnh. Các hành động khả năng GQVĐ không ngừng được
phát triển và tình cảm trí tuệ được hình thành.
Hình thành và rèn luyện ở trẻ kỹ năng vận dụng những kiến
thức BTSL đã có vào các hoàn cảnh khác nhau để GQVĐ.
Giáo dục ở trẻ thói quen tìm hiểu và định hướng thế giới
xung quanh một cách đầy đủ và lôgic, tích cực, độc lập, sáng tạo.
- Có trẻ đếm bằng ngón tay
- Có trẻ tính nhẩm
- Có trẻ đếm lần lượt :1,2,3...8
- Có trẻ đếm theo cặp: 2,4,6,8
- Có trẻ cộng luôn 5 + 3 = 8
Ở tình huống này, có sự khác biệt trong câu trả lời của trẻ,
có nhiều trẻ sử dụng “phép cộng” trong phạm vi 10, phần lớn trẻ
vẫn sử dụng cách làm quen thuộc là đếm từ trái sang phải, từ trên
xuống dưới để xác định số lượng bóng của tất cả hai tập hợp. Có
một số ít trẻ không đưa ra cách làm, có đa số trẻ có cách làm
đúng. Như vậy qua cách đặt câu hỏi GV nhằm mục đích tăng dần
mức độ khó của tình huống có vấn đề.
Nội dung hình thành biểu tượng số lượng của trò chơi phải
hướng lên “vùng phát triển gần nhất” của trẻ, không quá khó hoặc
quá dễ làm trẻ chán nản và phải luôn có yếu tố mới lạ, hấp dẫn...
Ví dụ : Tôi chuẩn bị bức tranh (gồm 8 quả dâu tây) như hình
1. Câu hỏi: “Theo con có tất cả bao nhiêu quả dâu tây trong bức
tranh?” Tôi quan sát và ghi lại cách thức và kết quả trẻ phản hồi.
Kết quả thực nghiệm cho thấy trẻ có thể có những cách làm
khác nhau để xác định số lượng dâu tây. Từ đếm tuần tự từ trái
sang phải, từ trên xuống dưới, hay trẻ đếm từ phải sang trái, một
số trẻ sử dụng phép toán như hàng trên có bốn quả dâu tây, hàng
dưới có bốn quả dâu tây, có tất cả tám quả”,..Kết quả cho thấy trẻ
có khả năng đếm đúng tương đối cao , chỉ một số ít trẻ chưa có
kết quả, sau khi được GV hướng dẫn, trẻ đã có cách GQVĐ của
riêng mình.
Ví dụ:
+Trò chơi: “Cửa hàng hoa”
giáo viên có thể hướng dẫn cho trẻ phân tích xem các bánh
trong khay có những hình dạng gì, sau đó g ợi ý tr ẻ so sánh
hình dạng của chúng để nhặt bánh cùng hình dạng cho vào
đĩa có hình dạng phù hợp.
Động viên trẻ đứng ra tổ chức trò chơi, chỉ đạo trò chơi
của các bạn cùng lứa nhưng không tham gia chơi. Chủ trò là
người tổ chức trò chơi, xướng luật, thậm chí đổi luật khi các
bạn chơi chán nản. Chủ trò còn là người thúc giục tốc độ
chơi, làm cho cuộc chơi sôi động hơn. Ví dụ: Khi tr ẻ làm chủ
trò trong trò chơi “Gắn hoa cho cây” các hiệu lệnh lúc đầu
được đọc chậm, lúc sau đọc nhanh, khi trẻ chơi thành thạo
thì càng nhanh hơn...
Để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong suy
nghĩ của những trẻ có khả năng làm chủ trò độc lập, giáo
viên gợi ý hai trẻ đứng ra tổ chức trò chơi với những quan
điểm không giống nhau, những trẻ chơi thích chơi luật chơi
của chủ trò nào thì tự do tham gia vào nhóm chơi đó. Tr ẻ
được chơi theo sở thích của mình sẽ hứng thú và tích cực tư
duy hơn. Nhờ vậy các thao tác tư duy của trẻ được hình thành