Giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh - Pdf 49

Lời cảm ơn
Để hoàn thành bài Khóa luận tốt nghiệp này tôi đã nhận được rất nhiều sự
giúp đỡ vô cùng quý giá. Người mà tôi biết ơn nhất đó chính là giảng viên hướng
dẫn Ths. Phạm Thị Yến. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của
mình tới cô: “Em cảm ơn cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và truyền lửa đam mê
nghiên cứu cho em trong suốt thời gian qua”.
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của mình tới Ban lãnh đạo Khoa cùng các
giảng viên trong Khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non đã tạo mọi điều kiện để giúp
đỡ tôi hoàn thành Khóa luận.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các giáo viên cùng các cháu trường
Mầm non Bảo Ninh đã hợp tác và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu đề tài.
Cảm ơn mọi người trong gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên làm chỗ
dựa tinh thần giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đạt kết quả.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, 5/ 2018
Tác giả: Trần Thùy Dung


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là thành quả của
riêng tôi. Các số liệu và kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố ở
một công trình nào khác.

Đồng Hới, tháng 5, năm 2018
Tác giả: Trần Thùy Dung


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................................1


1.5. Cơ hội GD KN GQVĐ cho trẻ thông qua hoạt động KP MTXQ ..........................33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ................................................................................................35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO
TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG
XUNG QUANH Ở TRƯỜNG MẦM NON ..................................................................36
2.1. Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu ...........................................................36
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng ...................................................................................38
2.3. Kết quả điều tra thực trạng .....................................................................................41
2.3.1. Đánh giá của GV về vai trò của việc GD KN GQVĐ cho trẻ 5 - 6 tuổi .............41
2.3.2. Các hình thức và biện pháp mà giáo viên đã sử dụng để GD KN GQVĐ cho trẻ
thông qua hoạt động KP MTXQ ...................................................................................45
2.2.3. Thực trạng hiệu quả GD KN GQVĐ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động KP
MTXQ ...........................................................................................................................47
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ................................................................................................54
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
VÀ KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM .................................................................55
3.1. Các biện pháp GD KN GQVĐ cho trẻ thông qua hoạt động KP MTXQ ..............55
3.1.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp GD KN GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
qua hoạt động KP MTXQ..............................................................................................55
3.1.2. Đề xuất một số biện pháp rèn luyện KN GQVĐ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động
KP MTXQ .....................................................................................................................57
3.1.3. Mối quan hệ của các biện pháp GD KN GQVĐ cho trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt động
KP MTXQ .....................................................................................................................67
3.2. Tổ chức thử nghiệm ................................................................................................68
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ................................................................................................83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................................84
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................87


Kĩ năng sống

5

KP

Khám phá

6

MTXQ

Môi trường xung quanh

7

GV

Giáo viên

8

MG

Mẫu giáo

9

GDMN


Bảng 3.1: Mức độ biểu hiện các tiêu chí đánh giá của trẻ trước thử nghiệm................70
Bảng 3.2: Khả năng phát hiện tình huống có vấn đề, nhiệm vụ cần giải quyết ............72
Bảng 3.3: Sự tập trung chú ý khi giải quyết nhiệm vụ ..................................................74
Bảng 3.4: Mức độ biểu hiện sự hợp tác với bạn để cùng GQVĐ .................................76
Bảng 3.5: Mức độ biểu hiện khả năng giải quyết tình huống có hiệu quả ....................77
Bảng 3.6: Mức độ biểu hiện trung bình của các tiêu chí ...............................................79


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Mức độ biểu hiện trung bình của các tiêu chí ..............................................71
Biểu đồ 2: Mức độ biểu hiện khả năng phát hiện tình huống có vấn đề, nhiệm vụ cần
giải quyết .......................................................................................................................73
Biểu đồ 3: Mức độ biểu hiện sự tập trung chú ý của trẻ ...............................................74
Biểu đồ 4: Mức độ biểu hiện sự hợp tác với bạn để cùng GQVĐ ................................76
Biểu đồ 5: Mức độ biểu hiện khả năng giải quyết tình huống có hiệu quả ...................77
Biểu đồ 6: Mức độ biểu hiện trung bình của các tiêu chí ..............................................80


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa
đòi hỏi mọi cá nhân phải được trang bị nhiều kiến thức và kỹ năng khác nhau khi gia
nhập cuộc sống xã hội. Điều này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho nền giáo dục (GD) của
các quốc gia và đã tạo ra một làn sóng cải cách GD mạnh mẽ ở các nước trên thế giới
nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (NQ
29-NQ/TW) trong phần đánh giá tình hình giáo dục và đào tạo, Nghị quyết đã chỉ ra
những yếu kém, hạn chế là: “….chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với
yêu cầu, ….; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành”. Có nghiều nguyên nhân dẫn đến yếu
kém, hạn chế. Trong đó, Nghị quyết cũng chỉ rõ “Việc xây dựng, tổ chức thực hiện
chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng yêu

phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của
nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một: hình thành và phát triển ở trẻ những chức
năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những KNS cần thiết phù
hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng
cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Giáo dục kĩ năng
GQVĐ không những giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách chắc chắn hơn mà còn giúp
trẻ rèn luyện tốt các kỹ năng trong đó có kỹ năng GQVĐ, một kỹ năng sẽ đi cùng trẻ
trong suốt các cấp học về sau và trong cả cuộc đời. Chính vì vậy, việc GD KN GQVĐ
cho trẻ là vấn đề được các nhà GD cũng như các bậc cha mẹ đặc biệt quan tâm. Điều
quan trọng là GD KN GQVĐ cho trẻ bằng cách nào?
Hiện nay, giáo viên đã chú trọng hơn đến việc GD các KN cho trẻ thông qua các
hoạt động ở trường. Nhưng trên thực tế, việc GD các KN đặc biệt là KN GQVĐ chưa
đạt hiệu quả với tầm quan trọng của nó. Có thể thấy việc thiếu KN nói chung và thiếu
KN GQVĐ nói riêng đang diễn ra phổ biến ở học sinh Việt Nam đặc biệt là lứa tuổi
MN. Vì vậy nhu cầu cấp thiết của xã hội là phải GD, rèn luyện các KN này cho các
em. Tuy nhiên đây cũng là một vấn đề mới chưa có sự hướng dẫn cụ thể của Bộ Giáo
dục - Đào tạo, ít nguồn tài liệu nên GV và phụ huynh chưa có nhiều điều kiện để triển
khai và thực hiện.
Trẻ mẫu giáo (MG) 5 - 6 tuổi có nhu cầu cao trong mọi hoạt động, mong muốn
được hoạt động và tự giải quyết các vấn đề của bản thân. Cùng với nhu cầu đó trẻ ở
lứa tuổi này đã có khả năng giải quyết một số vấn đề. Đó là sự phát triển tư duy trực
quan hình tượng, sự phát triển của ý thức. Đây là tiền đề của việc hình thành KN
GQVĐ cho trẻ và cũng là cơ hội không thể bỏ lỡ để GD cho trẻ KN này. Như vậy GD
các KN cho trẻ ở giai đoạn này là thích hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất, giúp trẻ rèn

2


luyện các KN nói chung và KN GQVĐ nói riêng một cách tốt nhất để trẻ tự tin bước
vào cuộc sống sau này.


3


- Khảo sát, đánh giá thực trạng của việc GD KN GQVĐ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua
hoạt động KP MTXQ ở trường MN
- Xây dựng một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng GD KN
GQVĐ cho trẻ MG 5 - 6 tuổi qua hoạt động KP MTXQ ở trường MN và thử nghiệm
sư phạm.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên 60 trẻ MG và 20 GV ở trường MN Bảo Ninh, TP.
Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình.
6.2. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu việc GD KN GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi và biểu hiện KN đó
qua hoạt động KP MTXQ ở trường MN Bảo Ninh, TP. Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình
6.3. Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 11/2017 – 5/2018
7. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống
hóa những nguồn tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:
Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa
những nguồn tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
- Mục đích: Xác định thực trạng việc tổ chức hoạt động của GV, thực trạng KN
GQVĐ của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động KP MTXQ
- Biện pháp: Dự giờ, quan sát cách tổ chức hoạt động cho trẻ 5 - 6 tuổi KP
MTXQ và quan sát trẻ giải quyết vấn đề trong hoạt động KP MTXQ

quả thực tiễn của các biện pháp đó đối với việc việc GD KN GQVĐ cho trẻ mẫu giáo
5 - 6 tuổi qua hoạt động KP về MTXQ.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
- Mục đích: Vận dụng toán thống kê xử lý số liệu kết quả thu được từ các phương
pháp trên, từ đó đưa ra kết quả xác thực của việc GD KN GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi qua hoạt động KP MTXQ
- Biện pháp: Sử dụng một số công thức toán học để xử lý các số liệu thu được từ
khảo sát thực trạng và thực tiễn.
8. Đóng góp mới của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận về KN GQVĐ của trẻ MG 5 - 6 tuổi
và GD KN GQVĐ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động KP MTXQ.

5


- Xác định được thực trạng GD KN GQVĐ cho trẻ MG 5 - 6 tuổi qua hoạt động
KP MTXQ.
- Xây dựng một số biện pháp nhằm GD KN GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
qua hoạt động KP MTXQ.
9. Cấu trúc của khóa luận
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh
Chương 3: Các biện pháp giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh và kết quả thử nghiệm sư
phạm
Kết luận và kiến nghị

6

quan trọng. Hai tác giả đã xếp KN GQVĐ là kĩ năng xã hội (social skill) thứ 7 trong
10 kỹ năng xã hội không thể thiếu trong cuộc sống. Từ đó, Bedoll và Lennox đã
nghiên cứu và đưa ra 7 bước để GQVĐ (Nhận thức về vấn đề, định nghĩa vấn đề, liên
7


hệ những phương án, đánh giá những giải pháp, ra quyết định, thực hiện giải pháp,
kiểm tra hiệu quả của phương án) [19].
Khi đa phần các nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu về kỹ năng GQVĐ trên các
đối tượng người trưởng thành thì Sharon L.Foster và Marcelle Crain (2002) (Đại học quốc
tế Alliant – Sant Diego) tập trung nghiên cứu việc hình thành và rèn luyện kỹ năng
GQVĐ cho trẻ em và kết luận trẻ em được học tập, bồi dưỡng về kỹ năng GQVĐ càng
sớm sẽ càng tự tin, dễ hoà nhập với bạn bè và môi trường mới [16]. Kết quả này của
Foster và Crain đã có tác động mạnh mẽ đến các nhà GD và các bậc phụ huynh cần
quan tâm rèn luyện KN GQVĐ cho trẻ ngay từ lúc nhỏ. Một giá trị lớn nữa trong
nghiên cứu của mình là hai tác giả đã xây dựng một chương trình GD KN GQVĐ một
cách chi tiết. Tuy nhiên, 10 nghiên cứu của hai tác giả chỉ dừng lại ở trẻ độ tuổi từ 5 10 tuổi.
Như vậy, có thể thấy trên thế giới KN GQVĐ đã được nghiên cứu từ rất lâu trên
nhiều khách thể khác nhau . Các tác giả đã rất quan tâm đến KN GQVĐ và đề cao việc
GD KN GQVĐ. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về GD KN GQVĐ cho
trẻ dưới 5 tuổi.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam
Việc GD KN GQVĐ cho trẻ ở trường MN là một nội dung trong GD các KNS cho
trẻ cũng đang được quan tâm. Các công trình nghiên cứu có liên quan như:
- Lê Bích Ngọc có những nghiên cứu về giáo kỹ năng sống cho trẻ độ tuổi mẫu giáo
[9]. Trên cơ sở đó tác giả đã biên soạn tài liệu hướng dẫn các bậc cha mẹ GD KNS cho trẻ
5 – 6 tuổi tại trung tâm học tập cộng đồng.
- Lê Xuân Hồng – Lê Thị Khang – Hồ Lai Châu – Hoàng Mai: “Những kĩ năng sư
phạm mầm non - Phát triển những kĩ năng cần thiết cho trẻ mầm non”. Trong đó các tác
giả đã đề cập đến những kĩ năng xã hội cần thiết của trẻ MN

1.2.1.1. Khái niệm kĩ năng
Kỹ năng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học và GD học quan tâm.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về KN. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu nhiều
tài liệu khác nhau chúng tôi quy về hai quan điểm chính sau:
+ Quan điểm thứ nhất
Quan điểm thứ nhất xem xét KN từ gốc độ kỹ thuật của hành động, của thao tác
mà ít quan tâm đến kết quả của hành động.
- V.A. Kruchetxki cho rằng: “Kỹ năng là thực hiện một hành động hay một hoạt
động nào đó nhờ sử dụng những kỹ thuật, những phương thức đúng đắn” [25, tr78].
- Từ điển tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa “Kĩ năng là giai đoạn
của việc nắm vững một phương thức hành động mới - cái dựa trên một quy tắc (tri

9


thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức
đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo” [8, tr 376].
- PGS Trần Trọng Thủy cho rằng: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con
người nắm được hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng” [14, tr49].
Như vậy, theo quan điểm này KN là phương tiện thực hiện hành động phù hợp
với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững. Theo các tác giả
trên, người có KN hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động đó và
thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả của
hành động.
+ Quan điểm thứ 2:
Quan điểm xem xét KN từ gốc độ không đơn thuần chỉ là mặt kỹ thuật của hành
động mà còn là biểu hiện của năng lực của chủ thể hành động và nhấn mạnh đến kết
quả của hành động.
- Các tác giả K.K. Platonop và G.G.Golubev cho rằng: “Kỹ năng là năng lực của
con người thực hiện công việc có kết quả là một chất lượng cần thiết trong những điều

năng lực.
Như vậy có thể coi KN vừa là năng lực cá nhân, vừa đòi hỏi mặt kĩ thuật và phải
dựa trên sự vận dụng kiến thức một cách linh hoạt vào thực tiễn. Trên cơ sở đó, chúng
tôi xây dựng khái niệm “kĩ năng” như sau:
Kĩ năng là năng lực thực hiện có kết quả một hành động, công việc nào đó của
cá nhân dựa trên việc vận dụng kiến thức thu nhận được áp dụng vào thực tiễn.
1.2.1.2. Khái niệm kĩ năng giải quyết vấn đề
* Vấn đề
Theo quan điểm triết học, “vấn đề” được xem là phạm trù logíc biện chứng của
quá trình nhận thức đi từ cái đã biết đến cái chưa biết. Do đó, có thể xem “vấn đề” như
là một sự biến dạng của câu hỏi mà sự giải đáp đã không chứa đựng trong kiến thức có
sẵn, phải có những hoạt động tư duy tương ứng để tiếp thu những kiến thức mới.
C.Mac viết “Vấn đề chỉ xuất hiện khi nào đã hình thành điều kiện để giải quyết
chúng”.
Có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “Vấn đề”
+ Dưới góc độ triết học:
“Vấn đề” được coi là trạng thái của sự vật, hiện tượng trong quá trình đấu tranh
và giải quyết mâu thuẫn mà chủ thể hoạt động có thể nhận thức được. Như vậy, nào
chủ thể nhận thức được mâu thuẫn tồn tại trong thực tế khách quan thì mâu thuẫn đó sẽ
trở thành “vấn đề” của chủ thể.
+ Dưới góc độ tâm lý học:

11


“Vấn đề” là sự phản ánh mâu thuẫn trong quá trình nhận thức khách thể của chủ
thể nghĩa là mâu thuẫn trong tư duy. Vì vậy, trong tâm lý học, vấn đề là hiện tượng
chủ quan tồn tại trong ý thức của mỗi người, trong ý nghĩ cũng như trong bất cứ một
phán đoán nào khi nó chưa hoàn tất về mặt logic và chưa được biểu thị (bằng ngôn
ngữ âm thanh hoặc chữ viết)” [7].

trừu tượng hóa, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,... mỗi KN cần có sự nỗ lực và hợp
tác.
Theo đó, GQVĐ là một quá trình đòi hỏi người giải quyết phải nắm bắt được chi
tiết vấn đề để từ đó thực hiện những hành động theo một kế hoạch nhất định nhằm đạt
được những mục tiêu đã đặt ra từ trước.
Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm “Giải quyết vấn đề” như sau:
Giải quyết vấn đề là những hành động diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau thuộc
về cách cư xử và nhận thức nhằm khắc phục những tình huống khó khăn đã có để đạt
được mục đích.
* Kĩ năng giải quyết vấn đề
Từ khái niệm KN và KN GQVĐ, chúng tôi đã xây dựng được khái niệm KN
GQVĐ như sau:
Kĩ năng giải quyết vấn đề là năng lực thực hiện có kết quả những hành động
diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau thuộc về cách cư xử hoặc nhận thức nhằm khắc
phục những tình huống khó khăn đã có để đạt được mục đích.
1.2.1.3. Khái niệm giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Giáo dục (theo nghĩa rộng – nghĩa xã hội học) là một quá trình toàn vẹn hình
thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch thông qua các
hoạt động và các quan hệ giữa người GD và người được GD nhằm truyền đạt và chiếm
lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người” [2].
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là bộ phận của quá trình sư phạm (quá trình GD) là
quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng động cơ tình cảm, thái độ, những nét tính cách,
những hành vi, và thói quan cư xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng
chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm mĩ và vệ sinh,...[2].
Trong mối quan hệ với khái niệm GD theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp nêu trên, tác
giả Nguyễn thị Diệu Hà trong đề tài: “Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu
giáo lớn qua hoạt động vui chơi” đã trình bày GD KNS là quá trình tác động có định
hướng, có chủ đích phù hợp với tâm lý đối tượng nhằm bồi dưỡng hoặc làm thay đổi
những phẩm chất và năng lực của đối tượng.
KN GQVĐ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là khả năng trẻ vận dụng những kiến thức

mang tính nền tảng, những KNS cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển
tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và
cho việc học tập suốt đời. GD KN GQVĐ không những giúp trẻ tiếp thu kiến thức một
cách chắc chắn hơn mà còn giúp trẻ rèn luyện tốt các KN trong đó có KN GQVĐ, một
kỹ năng sẽ đi cùng trẻ trong suốt các cấp học về sau và trong cả cuộc đời.
14


1.2.3. Bản chất quá trình giải quyết vấn đề của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
GQVĐ là những hành động diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau, điều này cho thấy
quá trình GQVĐ có cơ sở tâm lí liên quan đến quá trình hình thành hành vi. Theo
thuyết hệ thống chức năng của Anokhin, quá trình hình thành hành vi được chia làm
ba giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Tổng hợp hướng tâm
Não có nhiệm vụ thu thập thông tin, tổng hợp các xung thần kinh hướng tâm để
đưa ra mốc khởi đầu và tình huống ban đầu. Đồng thời, các phân tích quan ở não bộ
thu lượm thông tin từ MTXQ và rút các thông tin được lưu trữ trong các phần khác
nhau của não bộ. Vì vậy, tổng hợp hướng tâm bao gồm cả thu lượm lẫn rút thông tin ra
từ trí nhớ để tạo thành sự tổng hợp ban đầu, nhờ vậy mà tri giác trong giai đoạn này rất
quan trọng, luôn mang tính vật chất và toàn diện.
+ Giai đoạn 2: Đưa ra cách giải quyết
Hình thành được mục đích và chương trình hành động nên giai đoạn này diễn ra
ở não bộ. Não bộ đưa ra cách giải quyết ban đầu nhưng hợp lí hay không hợp lí phải
được kiểm nghiệm qua thực tế, tức là khi cơ quan thừa hành tham gia vào phản ứng.
+Giai đoạn 3: Hình thành kết quả và thông tin ngược chiều.
Quá trình thông tin ngược chiều chỉ thực hiện được khi các cơ quan thừa hành
thực hiện phản ứng. Kết quả của phản ứng chính là mức độ bị hoạt hóa của các cơ
quan thụ cảm nằm trong cơ quan thừa hành, luồng thông tin xuất hiện từ đây sẽ được
truyền tới não để thông báo về mức độ hợp lí hay không hợp lí của phản ứng hành vi
đã xảy ra.

thực hành của trẻ, giúp trẻ thực hiện kế hoạch và đánh giá kết quả.
Như vậy, bản chất quá trình GQVĐ là quá trình diễn ra các hành động theo một
trình tự cơ bản của hoạt động nhận thức như sau:
- Tổng hợp thông tin: bao gồm việc tái hiện lại những kiến thức, dữ liệu đã có,
xác định cái đích cần đạt được và các điều kiện ban đầu có liên quan đến vấn đề cần
giải quyết.
- Đề xuất giải pháp: bao gồm việc làm rõ mục tiêu và xây dựng kế hoạch hành
động để đạt tới mục tiêu.
- Thực hiện giải pháp: bao gồm việc thực hiện kế hoạch hành động và đánh giá
kết quả. Nếu hành động thành công thì dừng lại, nếu thất bại thì quay trở lại tổng hợp
thông tin hoặc đề xuất giải pháp khác.
1.2.4. Đặc điểm kỹ năng giải quyết vấn đề của trẻ giai đoạn 5 - 6 tuổi
Trẻ 5 - 6 tuổi đã có những tiền đề cần thiết của sự chín muồi về các mặt tâm sinh
lý, nhận thức, trí tuệ ngôn ngữ và tâm thế để trẻ có thể thích nghi bước đầu với điều
kiện học tập mới cũng như tiếp nhận các hình thức dạy học phong phú hơn.
16


Bên cạnh đó, có thể nhận định rằng để trẻ tham gia mọi hoạt động thì điều đầu
tiên đứa trẻ cần có đó là KN GQVĐ. Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn [14, tr72] thì
“Không cần phải đợi đến khi trẻ biết nói hay đã đến trường thì mới bộc lộ kỹ năng
GQVĐ. Nếu quan tâm và chú ý, các bậc cha mẹ sẽ phát hiện ra kỹ năng GQVĐ của
con mình thông qua những hành động mà chúng ta vẫn cho rằng đó là những biểu hiện
thông thường của trẻ” và “Kỹ năng này được thể hiện ngay từ những năm tháng đầu
đời thông qua những khả năng về ghi nhớ, chú ý, ngôn ngữ…”. Cũng theo ông, trẻ
MN với nềm say mê KP mạnh mẽ luôn thấy cuốn hút với việc GQVĐ và phát triển kỹ
năng này. Khi đứa trẻ được 3 tuổi, khả năng GQVĐ của của chúng còn rất hạn chế,
chúng không hiểu rằng có nhiều cách khác nhau để GQVĐ. Nhưng đến khi trẻ được 4
tuổi, trẻ trở nên biết kiên nhẫn và nhận ra sự tồn tại của các khả năng khác. Trẻ biết
suy nghĩ và thương lượng, tìm cách GQVĐ của mình và của người khác. Và cứ như

Theo Trang habits.edu.vn, KN GQVĐ là một KN mềm được bao gồm các KN
nhỏ và cũng chính là các bước của một quá trình GQVĐ:
1. Tiếp nhận vấn đề
2. Nhìn nhận và phân tích vấn đề
3. Đề ra mục tiêu giải quyết
4. Tìm ra giải pháp
5. Hành động
6. Đánh giá
Còn theo trang thông tin Careerlink.vn, tác giả Thúy Lộc cũng đã nhận định, để
rèn luyện tốt KN GQVĐ thì phải rèn luyện các KN cần thiết sau:
1. Hiểu rõ nguồn gốc vấn đề
2. Phân tích vấn đề
3. Đơn giản hoá mọi việc
4. Lật ngược vấn đề
5. Nhìn nhận vấn đề từ nhiều khía cạnh khác nhau
6. Chọn giải pháp
7. Đề ra mục tiêu
8. Thực hiện
9. Đánh giá lại kết quả vấn đề
Theo trang thông tin kynang.edu.vn đã nhận định rằng GQVĐ (Problem solving)
là một kỹ năng rất cần thiết trong học tập, làm việc và cuộc sống… Để giải quyết một
vấn đê về cơ bản có các bước sau:
1. Nhìn nhận và phân tích
2. Xác định chủ sở hữu của vấn đề
3. Hiểu vấn đề
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status