Hình thành kỹ năng bảo vệ môi trường biển cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh - Pdf 42

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác.

Người Cam đoan

Châu Thanh Nhã

1


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội.
Đặc biệt là những thầy cô đã tận tình giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian học.
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn đến
PGS.TS.Hoàng Thị Phương, người đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ tận tình, hướng
dẫn nghiên cứu tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên trường Mầm non Thạnh Yên
1, huyện U Minh Thượng đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát để hoàn thành luận văn
này.

Xin chân thành cảm ơn quí thầy cô trong hội đồng đánh giá luận
văn, đã cho tôi những đóng góp quí báu để tôi hoàn thành luận văn

Tác giả

Châu Thanh Nhã

2




........................................................................................................................52

2.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường
biển cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ.

................................................................................................................52
2.2. Một số biện pháp hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho trẻ MG
5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ.
.........................................................................................................................55
2.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường
biển cho trẻ 5- 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
..........................................................................................................................74
Chương 3. THỰC NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KĨ NĂNG
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CHO TRẺ MG 5- 6 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH.

............................................................................................................77
3.1. Mục đích thực nghiệm.............................................................................77
3.2. Nội dung thực nghiệm.............................................................................77
3.3. Cách tiến hành thực nghiệm...................................................................78
3.4. Kết quả thực nghiệm.........................................................................80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……………………………………….101
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………...104
PHỤ LỤC ……………………………………………………………….....107

4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


Hoạt động khám phá môi trường xung quanh.

GV

Giáo viên

MN

Mầm non

GVMN

Giáo viên mầm non

ĐC

Đối chứng

TN

Thực nghiệm

TNTTN

Thực nghiệm trước thực nghiệm

TNSTN

Thực nghiệm sau thực nghiệm

hoạ khôn lường cho cuộc sống của chính con người.
1.2. Bảo vệ môi trường biển là nhiệm vụ chung của toàn thế giới, Việt Nam ta
cũng đã và đang có những việc làm thiết thực góp phần vì một môi trường biển cả
xanh – sạch – đẹp. Một trong những giải pháp chống ô nhiễm môi trường và bảo vệ
môi trường hiệu quả thì giáo dục được xem là công cụ quan trọng nhất. Sự cần thiết
của việc giáo dục bảo vệ môi trường đã được Thủ tướng Chính phủ thể hiện trong
Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17-10-2001 về việc phê duyệt Đề án “Đưa các
nội dung giáo dục môi trường ( trong đó, có bảo vệ môi trường biển) vào hệ thống
giáo dục quốc dân” và ngành Giáo dục Mầm non được xem là giai đoạn quan trọng
nhất đặt nền móng cho giáo dục bảo vệ môi trường biển.
6


Việc giáo dục hành vi bảo vệ môi trường biển nên bắt đầu từ lứa tuổi mầm non
bởi lẽ tuổi mầm non là giai đoạn rất nhạy cảm để phát triển ý thức về sự tôn trọng
và chăm sóc môi trường thiên nhiên, biển đảo xung quanh. Những vấn đề liên
quan đến cuộc sống hiện thực luôn là tâm điểm thu hút trẻ quan tâm tìm hiểu cho
nên thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh trong trường mầm non
và cuộc sống hằng ngày trở thành nội dung giáo dục hết sức phù hợp để đáp ứng
nhu cầu nhận thức của trẻ. Chúng không chỉ là đối tượng nghiên cứu mà còn là
phương tiện tác động, nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn trẻ. Không những thế, những
kinh nghiệm đút kết trong quá trình khám phá môi trường xung quanh với môi
trường biển ở giai đoạn này có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển ý thức bảo vệ môi
trường biển trong những giai đoạn tiếp theo.
1.3. Thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh chúng ta có thể
hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường biển một cách thuận lợi và đạt nhiều hiệu quả
hơn. Trẻ sẽ tự hoạt động khám phá môi trường xung quanh theo sở thích và khả
năng của trẻ, cô sẽ là người hướng dẫn, điều tiết trẻ theo đúng mục đích đưa ra là
hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường biển. Khi cho trẻ khám phá môi trường xung
quanh trẻ sẽ tự học hỏi, đút kết kinh nghiệm cá nhân, tích cực hoạt động, tìm tòi,

nội dung của nó chứa đựng tất cả những điều cần thiết để cụ thể hoá biểu tượng
giáo dục của trẻ và giáo dục tình cảm cho trẻ. Xuất phát từ những lý do trên và đặc
biệt là trách nhiệm của giáo viên đang làm việc tại trường Mầm non thuộc vùng
biển U Minh Thượng, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Hình thành kĩ năng
bảo vệ môi trường biển cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám
phá môi trường xung quanh” .
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường
biển cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung
quanh nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường cho trẻ ở trường
mầm non.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
8


3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi ở
trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu đề xuất được một số biện pháp hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường biển
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi dựa trên việc sử dụng có hiệu quả môi trường tự nhiên
gần gũi xung quanh trẻ để tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường biển hấp dẫn,
thu hút sự tham gia tích cực của trẻ thì mức độ hình thành kĩ năng bảo vệ môi
trường biển của trẻ 5 – 6 tuổi sẽ được nâng cao hơn.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành kĩ năng bảo vệ môi
trừơng biển cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường
xung quanh.

7.2.1. Phương pháp quan sát
Chúng tôi sẽ tiến hành quan sát hành vi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong các
hoạt động và sinh hoạt ở trường mầm non. Trao đổi, trò chuyện trực tiếp với trẻ để
tìm hiểu mức độ nhận thức và việc thực hiện kĩ năng bảo vệ môi trường biển của
trẻ.
Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ kết hợp quan sát hoạt động của giáo viên mầm non
trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ để có cơ sở đánh giá thực trạng
hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho trẻ ở trường mầm non hiện nay. Kết
hợp đàm thoại với giáo viên để nắm bắt kịp thời những khó khăn và thuận lợi trong
quá trình hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
7.2.2. Phương pháp điều tra
10


Chúng tôi sẽ tiến hành điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến, đối với 50 giáo
viên của 02 trường mầm non thuộc địa bàn Huyện U Minh Thượng – Tỉnh Kiên
Giang
Chúng tôi tiến hành điều tra mức độ hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường
biển của trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non. Dự kiến việc điều tra được tiến hành trên
60 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thuộc hai lớp Lá của trường Mầm Non Thạnh Yên 1 vào
thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 02/2017.
7.2.3. Phương pháp đàm thoại
Tiến hành đàm thoại với giáo viên mầm non về những vấn đề liên quan đến
các biện pháp mà giáo viên đã sử dụng trong quá trình hình thành kĩ năng bảo vệ
môi trường biển cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nhằm thu thập những thông tin cần thiết
cho việc triển khai đề tài.
7.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Nghiên cứu và đúc kết những kinh nghiệm giáo dục bảo vệ môi trường biển
cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non trong thực tiễn giáo dục mầm non trong những
năm gần đây.

Chương 3. Thực nghiệm một số biện pháp hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường
biển cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung
quanh ở trường mầm non.
Phần kết luận và khuyến nghị.
Tài liệu tham khảo

12


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
HÌNH THÀNH KĨ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CHO TRẺ
MẪU GIÁO 5- 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MTXQ.

1.1. Cơ sở lý luận của việc hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
1.1.1. Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về việc hình thành kĩ năng bảo vệ môi
trường biển ở nước ngoài.
Hướng thứ nhất, nghiên cứu về sự cần thiết, cách tiếp cận, mục tiêu, nội dung,
phương pháp giáo dục môi trường trong nhà trường
Vấn đề về giáo dục môi trường (GDMT) không phải là vấn đề mang tính mới mẻ
trong giai đoạn hiện nay. Hàng ngày, hàng giờ, GDMT luôn được đặt lên hàng đầu và là
nội dung trọng tâm trong các hội nghị quốc tế, trong các chương trình nghị sự toàn cầu,
trong chiến lược và sách lược của mỗi quốc gia trên thế giới. Các chuyên gia nhấn mạnh:
biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ tác động nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất và môi trường
trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệm vụ lâu dài của GDMT là khuyến khích hoặc củng cố
hành vi, thái độ mang tính đạo đức mới, nếu như muốn đạt các mục tiêu bảo tồn thì hành vi
cư xử của một xã hội đối với sinh quyển bắt buộc phải thay đổi.. Nhiều nước và đề ra được
nhiều chiến lược, sách lược quan trọng về vấn đề BVMT như sau:

cá nhân liên quan đến việc hình thành văn hóa sinh thái từ tuổi mầm non”, “Mục tiêu của
giáo dục môi trường của trẻ mầm non - bắt đầu hình thành nền văn hóa sinh thái” qua việc
cho chính trẻ trải nghiệm trong môi trường sống, tích cực nhận thức về MT để hiểu và tôn
trọng MT, từ đó có những hành vi văn hóa với MT.
+ Ở Anh và nhiều nước phát triển, giáo dục không chỉ phó thác cho nhà trường mà
là sự chung tay góp sức của nhiều tổ chức, cá nhân, xã hội.. Hàng loạt các hoạt động ngoài
trời được tổ chức cho tất cả các lứa tuổi của học đường từ tổ chức trải nghiệm thiên nhiên
đến các hoạt động phiêu lưu, khám phá
14


+Ở Hàn Quốchướng sự quan tâm của trẻ đối với môi trường thiên nhiên, GDMT cho
sự phát triển của trẻ mẫu giáo và BVMT tự nhiên thông qua các hoạt động và kinh nghiệm
của trẻ, hình thành một thái độ thực tế đối với môi trường.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu về việc hình thành kĩ năng bảo vệ môi
trường biển ở trong nước.
Thứ nhất, nghiên cứu về sự cần thiêt, , mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo
dục môi trường trong nhà trường
Cùng chung tầm nhìn với tất cả các quốc gia trên thế giới, “vấn đề MT và GDMT đã
thực sự trở thành chương trình nghị sự của Chính phủ Việt Nam. Nước ta coi GDMT là
nhiệm vụ của toàn dân”. Công tác GDMT trong nhà trường phổ thông đã được cụ thể
trong các văn bản pháp quy, là cơ sở vững chắc cho việc triển khai các nội dung GDMT
trong từng cấp học. Năm 1993, Luật BVMT ra đời đã chỉ rõ “Nhà nước có trách nhiệm tổ
chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến
thức khoa học và pháp luật về BVMT”. Trong chỉ thị số 36/CT/TW ngày 25/6/1998
của Bộ Chính Trị về việc “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường biển trong thời
kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa dất nước” đã đưa ra những giải pháp cơ bản để
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển như “thường xuyên giáo dục, tuyên
truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng bảo vệ môi trường
biển” và các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học

vào trường MN (Trường CĐSP Nhà trẻ -MG TW1); Đề tài: “Xây dựng nội dung BVMT
cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong trường MN” (Trung tâm nghiên cứu GDMN – Viện Khoa
học GD 1998-2000)..
+ Biên soạn các sách về GDMT, GD biến đổi khi hậu, hướng dẫn thực hiện các hoạt
động GDBVMT cho trẻ mầm non gồm có: Bộ sách rèn kỹ năng sống cho học sinh của tác
giả Nguyễn Khánh Hà. Nhóm tác giả Nguyễn Hồng Thu, Nguyễn Thị Hiếu, Trần Thị
Trang đã biên soạn sách Giáo dục trẻ mầm non ứng phó với biến đổi khí hậu qua trò chơi,
thơ ca, truyện kể câu đố có nội dung về môi trường và một số hiện tượng về biến đổi khí
hậu; Tài liệu “Giáo dục môi trường cho trẻ MN” tác giả Hoàng Thị Phương dùng để hướng
16


dẫn sinh viên tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường cho trẻ MN ; Hướng dẫn tích hợp
nội dung giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo vào chương trình giáo dục
mẫu giáo 5 tuổi (của Vụ GD Việt Nam)...đã cho thấy rằng, công tác GDMT cho trẻ từ độ
tuổi mầm non đã và rất đang được quan tâm.
+ Nghiên cứu về các phương pháp, biện pháp GDMT cho trẻ trong trường MN gồm
có các công trình nghiên cứu của các tác giả như PGS.TS Hoàng Thị Phương , TS. Lê
Thanh Vân , Bùi Thị Thanh Đào, Phạm Thị Thanh Vân.... Các kết luận của các tác giả
phần nào đã làm sáng tỏ quan điểm về GDMT trong nhà trường MN, xác định những
nguyên tắc đề xuất các biện pháp GD hành vi BVMT cho trẻ và giới thiệu được nhiều
nhóm phương pháp GDMT cho trẻ thông qua các hoạt động GD trẻ ở trường mầm non.
Tóm lại, vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường nói chung, giáo dục bảo vệ môi trường
cho trẻ MN nói riêng ngày càng được nhà nước, ngành giáo dục đào tạo, trong đó có giáo
dục MN quan tâm nghiên cứu và đã đạt được hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, nghiên cứu
chuyên sâu về giáo dục bảo vệ MT biển cho trẻ MN đến thời điểm hiện nay ở nước ta bắt
đầu được quan tâm. Do vây, chưa có tài liệu chính thức công bố về giáo dục kĩ năng bảo vệ
MT biển cho trẻ MN. Các nhà giáo dục MN cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề này do tính
cấp thiết của nó trong thực tiễn hiện nay.
1.1.2. Môi trường biển tỉnh Kiên Giang và việc bảo vệ môi trường biển ở

rộng lớn hơn rất nhiều. Môi trường biển: Là loại môi trường bao gồm nước , các
sinh vật thủy , hải sản , rêu rong tảo ... hợp thành.
Chúng tôi sử dụng khái niệm sau đây:
“ Môi trường biển là vùng bao gồm các đại dương và các vùng ven biển tạo
thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy trì sự sống toàn cầu
và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững”.
 Khái niệm “Bảo vệ môi trường biển”
Khái niệm “Bảo vệ”
Theo từ điển Tiếng Việt, “bảo vệ là gìn giữ, chống lại sự xâm phạm để khỏi
bị hư hỏng”; “Bảo vệ thiên nhiên là hệ thống những biện pháp của Quốc gia, xã
hội và quốc tế để đảm bảo sử dụng hợp lí, tái tạo, tăng bội và bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên khỏi sự hủy hoại của ô nhiễm và cạn kiệt”. [TL số, tr 111]
19


Bảo vệ môi trường biển chính là bảo vệ môi trường thiên nhiên
Từ các khái niệm “môi trường biển”, “Bảo vệ” chúng tôi xác định khác niệm
“Bảo vệ môi trường biển như sau:
Bảo vệ môi trường biển là việc ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của các
hoạt động của con người và của tự nhiên đến các vùng đại dương và ven biển,
làm ô nhiễm và suy thoái môi trường.
1.1.2.2. Đặc điểm môi trường biển Tỉnh Kiên Giang.
 Vị trí địa lí vùng biển Tỉnh Kiên Giang.
Kiên Giang là tỉnh có vùng biển rộng khoảng 63.290km2, với 5 quần đảo,
trong đó có 09 huyện, thị, thành phố ven biển, đảo (gồm 2 huyện đảo: Phú Quốc,
Kiên Hải và 07 đơn vị hành chính cấp huyện ven biển) có 51/145 xã, phường, thị
trấn có đảo hoặc có bờ biển; với hơn 200 km bờ biển, khoảng 137 hòn/đảo nổi lớn,
nhỏ, có ranh giới quốc gia trên biển, giáp với các nước Campuchia, Thái Lan và
Malaysia, là tỉnh ven biển có hệ sinh thái vùng ngập mặn ven bờ phong phú và đa
dạng, có nhiều tiềm năng để phát triển nông - lâm nghiệp, thủy sản và du lịch...

còn lại 35 cửa sông/kênh thông ra biển cần tiếp tục đầu tư xây dựng cống để tiêu
thoát lũ, ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ sản xuất, dân sinh. Biển Kiên Giang có 143
hòn đảo, với 105 hòn đảo nổi lớn, nhỏ, trong đó có 43 hòn đảo có dân cư sinh
sống; nhiều cửa sông, kênh rạch đổ ra biển, tạo nguồn thức ăn tự nhiên phong phú
cung cấp cho các loài hải sản cư trú và sinh sản, là ngư trường khai thác trọng
điểm của cả nước. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu Biển Việt Nam, vùng biển ở
đây có trữ lượng cá, tôm khoảng 500.000 tấn, trong đó vùng ven bờ có độ sâu 2050m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả
năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên
200.000 tấn; bên cạnh đó còn có mực, hải sâm, bào ngư, trai ngọc, sò huyết,... với
trữ lượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi. Ngoài ra, tỉnh đã và đang thực hiện dự
án đánh bắt xa bờ tại vùng biển Đông Nam bộ có trữ lượng trên 611.000 tấn với
sản lượng cho phép khai thác 243.660 tấn chiếm 40% trữ lượng.
 Vấn đề bảo vệ môi trường biển Tỉnh Kiên Giang.
21


Tỉnh Kiên Giang đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng
về biển và khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, hải
đảo, nhất là tập trung thực hiện Quyết định số 373/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ, phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ, phát
triển bền vững biển, hải đảo Việt Nam; thành lập Ban chỉ đạo tỉnh, hoàn thiện, vận
hành thể chế quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên và môi trường biển, hải đảo.
Bên cạnh đó, đào tạo, huy động, sử dụng nguồn nhân lực cho điều tra, nghiên cứu
về biển, quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên và môi trường biển, hải đảo;
nghiên cứu áp dụng các cơ chế ưu tiên, đãi ngộ đặc biệt đối với các cán bộ thường
xuyên hoặc phần lớn thời gian phải hoạt động trên biển, hải đảo.
Tỉnh Kiên Giang tăng cường huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế,
nguồn vốn ODA và hỗ trợ của các nước triển khai những chương trình, đề tài, dự
án phát triển kinh tế biển; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ
cao trong điều tra cơ bản, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển,

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng. Những định nghĩa này
thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết.
Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kĩ năng được hình thành khi chúng
ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kĩ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại
một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kĩ năng luôn có chủ đích và định
hướng rõ ràng.
Hiện nay, trong Tâm lý học và Lý luận dạy học khi nghiên cứu về kỹ năng
có hai quan điểm
Quan điểm 1: xem kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác. Đại diện
cho quan điểm này có các tác giả: V.A. Kruchetxki, N.D. Levitov, Trần Trọng
Thủy, Hà Nhật Thăng…
Tác giả V.A. Kruchetxki cho rằng: “kỹ năng là thực hiện một hành động
hành động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những kỹ thuật, những phương
thức đúng đắn” [20,88].
23


Tác giả N.D. Levitov xem xét kỹ năng gắn liền với kết quả hành động. Theo
ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn
các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Ông nhấn mạnh,
muốn hình thành kỹ năng con người phải nắm vững lý thuyết về hành động, vừa
phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế [21].
Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành
động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ
năng [ 38, 65].
Quan điểm 2: kỹ năng nghiêng về mặt biểu hiện năng lực của con người
Các tác giả có cùng quan điểm này: Paul Herrey, Ken Blanc Hard, P.A.
Rudich, Vũ Dũng, Nguyễn Thị Thúy Dung, Huỳnh Văn Sơn,…
Từ điển Tiếng Việt (1997) định nghĩa: “kỹ năng là khả năng vận dụng những
kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế [31, 157]. Từ điển

sở nắm vững phương thức thực hiện và vận dụng kiến thức kinh nghiệm đã có phù
hợp với lứa tuổi trong các điều kiện nhất định
1.1.3.2. Các kĩ năng thành phần của kĩ năng bảo vệ môi trường biển của trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi.
Theo tác giả Reign (1991), kĩ năng bảo vệ môi trường bao gồm các kĩ năng
cụ thể sau:
-Kĩ năng nhận biết các vấn đề môi trường
-Kĩ năng xác định các vấn đề môi trường
-Kĩ năng thu thập thông tin về môi trường
-Kĩ năng tổ chức thông tin về môi trường
-Kĩ năng Phân tích thông tin về môi trường
-Kĩ năng đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường
-Kĩ năng phát triển kế hoạch hành động vì môi trường
-Kĩ năng thực hiện hành động vì môi trường
-Kĩ năng đánh giá kết quả bảo vệ môi trường
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status