SKKN sáng kiến kinh nghiệm mầm non sử dụng các trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá về môi trường xã hội ở trường mầm non - Pdf 39

MỤC LỤC

1


1. Đặt vấn đề
Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai, vì thế chúng ta phải coi trọng công tác chăm
sóc và giáo dục trẻ tạo mọi điều kiện để trẻ có thể phát triển tốt nhất. Trong công tác
chăm sóc và giáo dục trẻ thì Bộ Giáo dục luôn đưa ra những đổi mới về chương trình
để phù hợp với thực tiễn.
Giáo dục mầm non là một bậc học trong hệ thống giáo dục Việt Nam với chỉ thị
153/CP của Hội Đồng Chính Phủ ra ngày 12/8/1966 về “ Công tác giáo dục Mầm non
nhằm giáo dục trẻ bằng cách tổ chức vui chơi, giáo dục các cháu những đức tính tốt,
chăm sóc sức khỏe, tập cho cháu vừa chơi vừa học để chuẩn bị cho cháu vào trường
phổ thông”. Căn cư Quyết định của thủ tướng chính phủ “ Một số chính sách phát triển
giáo dục Mầm non” 161/2001/QĐ-TT điều 3: Xây dựng chương trình giáo dục mầm
non tại cơ sở để trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình
thành những yếu tố đầu tiên về nhân cách cho trẻ mẫu giáo.
Theo nhà giáo dục xô viết vĩ đại A.X Macarenco đã viết “ Trò chơi có một ý
nghĩa quan trọng trong đời sống trẻ em, có ý nghĩa giống như ý nghĩa của hoạt động
công tác và sự phục vụ của người lớn lên trong công tác phầ lớn trẻ em như thế ấy. Do
đó việc giáo dục những nhà hoạt động tương lai bắt đầu từ trò chơi”. Vì thế sử dụng
các trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo rất quan
trọng đối với trẻ. , thông qua các tro chơ học tập, trẻ được làm quen tiếp xúc với nhieu
trò chơi với những hình thức khác nhau, nhằm phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn
tinh thần.Các trò chơi học tập luôn chiếm vị trí đặc biệt trong đời sống tuổi thơ mỗi
người. Trò chơi học tập là hoạt động chủ đạo ở trường mầm non , được người lớn tổ
chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu vui chơi và nhận thức đồng thời giáo
dục và phát triển thể chất toàn diện cho trẻ ở lứa tuổi này. Với trẻ mẫu giáo thì học
bằng chơi chơi mà học. “ Nghĩa là trong quá trình cho trẻ mẫu giáo hoạt động vui chơi
ta dần giúp trẻ xây dựng những nhận thức, ý thức cho trẻ đồng thời qua đó xây dựng

hoạt động khám phá về môi trường xã hội ở trường mầm non ”.
2. Lý luận chung về vấn đề nghiên cứu
2.1. Một số vấn đề về trò chơi học tập của trẻ mầm non
2.1.1. Khái niệm trò chơi học tập
Trò chơi học tập là loại trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ
chơi. Đó là loại trò chơi đòi hỏi trẻ phải thực hiện một quá trình hoạt động trí tuệ để
giải quyết nhiệm vụ học tập được đặt ra như nhiệm vụ chơi, qua đó mà trí tuệ của trẻ
được phát triển.
2.1.2. Đặc điểm trò chơi học tập
Trò chơi học tập là loại trò chơi mà nhiệm vụ trí lực được thực hiện dưới hình
thức nhiệm vụ vui chơi thoải mái. Nội dung học tập được lồng ghép vào nội dung
chơi, động cơ học tập hòa quyện vào động cơ chơi. Việc thực hiện các thao tác chơi,
hành động chơi chính là việc thực hiện các nhiệm vụ trí dục. Như vậy giữa chơi và học
co quan hệ chặt chẽ với nhau. Do vậy “học mà chơi, chơi mà học” được xem là
phương thức học tập độc đáo của trẻ lứa tuổi mầm non.
- Nội dung chơi: Là nhiệm vụ nhận thức mà trẻ phải giải quyết trong quá trình
chơi và phải có kết quả.
- Hành động chơi: Là những thao tác mà trẻ phải thực hiện nhiệm vụ mà trò
chơi đặt ra.hành động chơi càng phong phú bao nhiêu thì trò chơi càng lí thú bấy
nhiêu.Hệ thống các thao tác trong hành động chơi do nhiệm vụ chơi quy định và được
3


diễn ra theo một luật chơi. Các hành động chơi như là họa tiết của chủ đề chơi, những
hành động ấy càng phong phú, đa dạng bao nhiêu thì trẻ tham gia vào trò chơi càng
nhiều bấy nhiêu và bản thân trò chơi cung hấp dẫn bấy nhiêu. Thật vậy, hành động
chơi càng phong phú đa dạng điều đó có nghĩa là đứa trẻ tham gia vào trò chơi rất tích
cực. Tính tích cực của trẻ bộc lộ đã tạo cho cô giáo có cơ hội được hình thành mối
quan hệ qua lại giữa các trẻ với nhau, trẻ biết hành động theo thứ tự, theo lượt phù hợp
với trò chơi, biết tính đến mong muốn của người khác và biết giúp đỡ bạn bè lúc khó



trí nhớ. Các biểu tượng tri thức được lòng vào nội dung của trò chơi sẽ giúp trẻ có ấn
tượng sâu sắc hơn.
Trò chơi học tập giúp trẻ phát huy tính tự giác tích cực, chủ động của trẻ. Khi
hứng thú trẻ đã được kích thích thì ter sẽ hào hứng chủ động với nhiệm vụ học tập là
cơ sở giúp trẻ dễ dàng ghi nhớ các kiến thức.
Tóm lại, trò chơi học tập ảnh hưởng sâu sắc tới trẻ . Trẻ hứng thú với với hoạt
động, trẻ tham gia hoạt động một cách tích cực. Trò chơi với chúng là học tập, trò chơi
với chúng là lao động, cũng có khi trod chơi với chúng là một hình thức giáo dục
nghiêm túc.
2.1.3. Cách tiến hành trò chơi học tập
- Trò chơi học tập được thực hiện theo quy trình 3 bước sau :
Bước 1: Giới thiệu tên trò chơi.
+ Giới thiệu trò chơi mới.
+ Hỏi lại trò chơi cũ.
- Nội dung, hành động và nêu ra luật chơi.
- Xác định số lượng tham gia vào trò chơi.
- Xác định vị trí của cô giáo và các trẻ khác trong trò chơi.
Bước 2: Trẻ chơi.
- Nếu là trò chơi mới sau khi hướng dẫn trò chơi cô tổ chức cho trẻ chơi theo
từng nhóm, cô theo dõi trẻ chơi.
- Đối với những trò chơi có hành động chơi phức tạp thì cô có thể chơi cùng trẻ
1-2 lần (nhất là để gây hứng thú cho trẻ ).
- Nếu là trò chơi cũ thì sau khi cho trẻ ghi nhớ nội dung, luật chơi cô phân
nhánh để trẻ tiến hành chơi. Cô theo dõi trẻ chơi đúng luật hay không, theo dõi thái độ
của trẻ với nhau.
- Cô kịp thời khen ngợi, động viên trẻ.
- Nếu trẻ chơi sai luật thì chơi xong một lượt , cô gợi ý cho các trẻ khác nhận
xét, trên cơ sở đó cô giúp trẻ nhớ lại luật chơi để thực hiện cho đúng.

tích, danh lam thắng cảnh... rất cần thiết cho sự tưởng tượng.
+ Tính “ có vấn đề” của tư duy.
Trên thực tế không phải hoàn cảnh nào cũng thúc đẩy con người tư duy. Muốn
kích thích được tư duy phải đồng thời có ba điều kiện sau đây:
- Trước hết phải gặp hoàn cảnh (tình huống có vấn đề).
- Thứ hai, hoàn cảnh có vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đày đủ, được
chuyển thành nhiệm vụ của cá nhân, tức là cá nhân phải phân tích cái gì đã biết, đã
cho, và cái gì còn chưa biết phải tìm, đồng thời phải có nhu cầu (động cơ) tìm kiếm nó,
giải quyết vấn đề..
- Thứ ba,cá nhân phải có những tri thức, công cụ cần thiết để giải quyết vấn đề.
+ Tính gián tiếp của tư duy.
Tính gián tiếp của tư duy được thực hiện qua việc sử dụng các công cụ vật chất
như: Đồng hồ, nhiệt kế, máy móc…và các tài liệu do nhận thức cảm tính cung cấp và
6


công cụ tâm lý như: quy tắc, công thức, quy luật…của lòai người va kinh nghiệm của
cá nhân mình. Ngoài ra, tính gián tiếp của tư duy còn thể hiện ở chỗ nó được biểu hiên
trong ngôn ngữ. Con người luôn dùng ngôn ngữ để tư duy. Nhờ đặc điểm gián tiếp này
mà tư duy đã mở rộng không giới hạn những khả năng, những nhận thức của con
người.
+ Tính trừu tượng và khái quát của tư duy.
- Nhờ có tính trừu tượng và khái quát cua tư duy mà con người không chỉ giải
quyết những nhiệm vụ cua hiện tại mà còn có thể giải quyết những nhiệm vụ của
tương lai, rút ra được quy luật, phương pháp chung.
+ Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ:
Tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ. tư duy phải dùng ngôn ngữ để
làm công cụ, phương tiện để giải quyết vấn đề. Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư
duy không diễn ra được, các sản phẩm của tư duy cũng không được chủ thể và người
khác chấp nhận.

- Đặc điểm phát triển ngôn ngữ: Đến tuổi Mẫu giáo Lớn hầu hết trẻ đã biết sử
dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thục trong sinh hoạt hằng ngày Ngôn ngữ trở thành
phương tiện chủ yếu để trẻ giao tiếp với những người xung quanh và là cơ sở để cải tổ
các quá trình tâm lí, giúp cho đời sống tinh thần của trẻ có một chất lượng mới phong
phú, sâu sắc hơn và hòa nhập với xã hội tốt hơn, là phương tiện làm cho tư duy của trẻ
nâng lên một trình độ mới so với độ tuổi trước.
- Đặc điểm phát triển về trí nhớ: Trí nhớ bắt đầu có chủ định và có tính lôgic bắt
đầu phát triển.Những gì trẻ hiểu, trẻ thích, có ý nghĩa, có ấn tượng mạnh mẽ với trẻ
thường được ghi nhớ bền vững hơn. Tuy vậy, trí nhớ máy móc vẫn giữ vai trò quan
trọng trong đời sống của trẻ.
- Đặc điểm phát triển về tư duy: Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh
và xuất hiện một kiểu tư duy mới- tư duy trực quan sơ đồ.
- Đặc điểm phát triển về trí tưởng tượng: Trẻ có trí tưởng tượng rất phong
phú.Tưởng tượng có chủ định được hình thành.
- Sự tự ý thức(ý thức bản ngã): Trẻ đã hiểu được mình là người như thế nào? có
những phẩm chất gì? những người xung quanh đối xử với mình ra sao ? Tại sao lại
thế?
Mặt khác trẻ có thể đánh giá được sự thành công, thất bại của mình, đánh giá
được ưu điểm,nhược điêm của mình đó là cơ sở để quá trình tâm lí chuyển dần sang
quá trình có chủ định, qua đó phẩm chất ý chí được hình thành và nhân cách của trẻ
phát triển mạnh bởi nó có khả năng điều chỉnh của bản thân trẻ.
* Sinh lí:
- Đặc điểm thời kì này là biến đổi về chất lượng hơn là số lượng.
+ Trẻ chậm lớn hơn so với thời kì bú mẹ, cường độ của quá trình chuyển hóa
năng lượng yếu đi, chuyển hóa cơ bản giảm hơn.
+ Các chức năng chủ yếu của cơ thể dần hoàn thiện, đặc biệt là vận động phối
hợp động tác,cơ lực phát triển nhanh, vì vậy thực hiện động tác khéo léo hơn,gọn gàng
hợn, có thể làm được những việc khó, phức tạp và tự phục vụ bản thân mình.
+ Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đã
biến hóa, chức năng phân tích tổng hợp của võ não đã hoàn thiện, số lượng các phản

biệt chưa làm nổi bật chủ điểm về thế giới động vật trong việc tổ chức học tập cho trẻ
mẫu giáo vì vậy kết qua đạt được còn rất thấp.
3.2. Hệ thống trò chơi học tập
3.2.1. Trò chơi 1: Hái quả
- Chuẩn bị : Các loại quả bằng bìa, hoặc tranh lô tô về các loại quả(cam, táo,
na...). Số hình nhiều hơn số lượng trẻ tham gia chơi, mỗi loại quả này có số lượng
nhiều hơn số lượng cô yêu cầu trẻ hái. Treo các loại quả này lên một cành cây.
.
- Luật chơi: Chỉ hái những quả cùng loại.
9


- Cách chơi : Cô gọi 2-3 trẻ lên. Mỗi trẻ hái một loại quả theo cùng một số
lượng mà cô yêu cầu,trẻ thi đua xem ai hái nhanh, đủ, đúng.Trẻ khác hát: Nhanh nhanh
bạn ơi và kiểm tra xem bạn hái có đúng không .
3.2.2. Trò chơi 2: Hãy làm lại như cũ
- Chuẩn bị : Một số đồ vật : cây,gấu,thỏ,gà,lợn hoặc ô tô,búp bê,bóng...
- Luật chơi : Không được mở mắt khi đang chuyển chỗ đồ chơi.
- Cách chơi : Cô giơ đồ chơi cho trẻ gọi tên, gọi một số trẻ lên bày đồ chơi theo
yêu cầu của cô.
Trẻ nhắm mắt, cô đổi chỗ 1-2 đồ chơi. Trẻ mở mắt xem có gì thay đổi, thay đổi
thế nào.Gọi một trẻ lên xếp lại như cũ.
Trẻ nhắm mắt lại,cô thay thế đồ chơi này bằng đồ chơi khác, trẻ mở mắt ra, nói
xem cái gì đã được thay thế,ở vị trí nào ?.
Lúc đầu chỉ đổi chỗ 1-2 đồ chơi, sau đó tăng dần.
3.2.3. Trò chơi 3 : Đoán xem ai vào
- Chuẩn bị : Khăn bịt mắt.
- Luật chơi:
+ Không được kéo khăn ra khi chưa có hiệu lệnh.
+ Đi vào phải thật nhẹ nhàng.

thì sẽ phải bịt mắt một lần nữa.
3.2.6. Trò chơi 6: Con này ăn gì
- Chuẩn bị : Các bức tranh con vật và các loại thức ăn: cỏ, thịt,lúa, gạo, sữa, cá
- Luật chơi : Khi hết thời gian mà ai chưa nối xong sẽ phải nhảy lò cò.
- Cách chơi : Cô phát một tờ giấy, trong đó có hình vẽ con vật và thức ăn của
chúng và yêu cầu trẻ nối hình con vật với thức ăn của chúng. Có thể tiến hành dưới
nền nhạc trong vòng 2 phút, dưới hình thức thi đua: Ai tìm đúng và xong trước thì
thắng.
3.2.7. Trò chơi 7: Tìm chỗ sai
- Chuẩn bị : Các tờ giấy A4 hoặc to hơn, trên đó có hình vẽ 4-5 con vật gắn sai
các bộ phận.
Ví dụ: Con gà chân có màng, con vịt chân không có màng, mỏ của con gà gắn
nhầm vào mỏ của con vịt.
- Luật chơi : Ai khoanh không đúng sẽ phải kêu tiếng của con vật đó.
- Cách chơi :
+ Chơi theo nhóm hoặc cá nhân.
+ Cô đưa bức tranh và nói với trẻ: bác họa sĩ vẽ nhầm một số bộ phận của các
con vật. Bây giờ các cháu (các đội) hãy tìm nhanh giúp bác các chỗ sai để bác sửa lại,
tìm được chỗ nào sai thì các cháu khoanh tròn giúp bác. Khi trẻ tìm xong cô có thể trò
chuyện, hỏi trẻ: "Vì sao cháu cho là sai?" để trẻ giải thích, trẻ nào (nhóm nào) tìm
được nhiều nhất, nhanh nhất vả đúng nhất thì thắng cuộc.
3.2.8. Trò chơi 8 : Hãy kể nhanh
- Chuẩn bị : Một quả bóng
- Luật chơi :Không trả lời được phải hát một bài.
- Cách chơi :
11


+ Cô và trẻ ngồi theo vòng tròn. Cô nói hiện tượng và ném bóng đến trẻ nào, trẻ
đó nói hành động, công việc và thái độ cần thể hiện đối với cây cối.

- Luật chơi: Không mở mắt khi bạn rung chuông.

12


- Cách chơi: Cô cầm chuông, một trẻ bịt mắt đứng bên cạnh. Cô rung chuông
khi thì ở trên đầu, khi thì ở phía trước hoặc phía sau, bên phải, bên trái. Trẻ xác định
hướng chuông reo bằng cách chỉ tay về hướng đó và nói bằng lời. Nếu trẻ đoán sai
phải đổi chỗ cho bạn khác và trò chơi tiếp tục.
3.2.13. Trò chơi 13:Trò chơi thi xem ai nhanh
- Chuẩn bị: Mỗi trẻ một đồ chơi, mỗi đồ chơi có những màu sắc khác nhau.
- Luật chơi: Những trẻ có đồ chơi theo đúng yêu cầu thì chạy lê với cô.
- Cách chơi: Cho trẻ ngồi theo hình chữ U. Cô phát cho trẻ mỗi trẻ một đồ chơi
và yêu cầu xem đồ chơi đó là hình gì, cái gì?
3.2.14. Trò chơi 14: Con gì biến mất
- Chuẩn bị: 3 – 4 con vật đồ chơi quen thuộc mà trẻ vẫn chơi hằng ngày.
- Luật chơi: KhônG mở mắt khi cô dấu đồ chơi.
- Cách chơi: Trẻ ngồi theo hình chữ U. Cô cầm đồ chơi vừa xếp lần lượt lên bàn
theo hang ngang hoặc vòng tròn vừa hỏi trẻ: “ Đố các cháu biết cô có những con gì?’’.
Cô xếp đến tên con nào trẻ nói tên con ấy. Cô hỏi tiếp: “ Bây giờ các cháu hãy nhắm
mắt lại xem con gì biến mất nhé.
3.2.15. Trò chơi 15: Về đúng nhà của mình
- Chuẩn bị:
+ 3 thẻ : 1 thẻ có 5 chấm tròn, 1 thẻ có 4 chấm tròn, một thẻ có 3 chấm tròn.
+ Tranh lô tô : 5 tranh gia đình có 5 người (bố, mẹ, và 3 con), 4 tranh gia đình
có 4 người (bố, mẹ, và 2 con), 3 tranh gia đình có 3 người (bố, mẹ, và 1con).
+ Vẽ 3 vòng tròn bằng nhau và để vào mỗi vòng tròn một thẻ. Có chấm tròn.
- Luật chơi: Trẻ phải tìm đúng nhà của mình.
- Cách chơi: Phát cho mỗi cháu một tranh lô tô về gia đình, cháu xem lô tô và
nhận nhà có số chấm tròn bằng số người trong gia đình , cho trẻ đi xung quanh, vừa đi


15


PHỤ LỤC

16


GIÁO ÁN
LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC (KHÁM PHÁ XÃ HỘI)
Chủ điểm: Các loại phương tiện giao thông
Chủ đề: Phân nhóm các loại phương tiện giao thông
Độ tuổi: 5 - 6 tuổi
Thời gian: 25 -30p
Người soạn,dạy: Nguyễn Thị Bích Nhi
Ngày dạy: 15/3/2016
I. Mục tiêu
1. Kiến thức.
- Trẻ biết tên, đặc điểm đặc trưng của các nhóm phương tiện giao thông đường
bộ, đường thủy, đường hàng không.
- Biết phân loại phương tiện giao thông theo môi trường hoạt động, công dụng
và lợi ích.
2. Kĩ năng.
- Phát triển khả năng phán đoán, so sánh, phân loại phương tiện giao thông,
phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
3.Giáo dục.
- Giáo dục trẻ biết cách cháp hành luật lệ an toàn giao thông, biết một số hành
vi văn minh khi đi trên các phương tiện giao thông.
II. Chuẩn bị

hoạt động. Khi gián xong, chạy về đập tay bạn kế
tiếp, rồi di chuyển về phía cuối hàng.
- Luật chơi: Phương tiện nào đặt sai vị trí hoặc chưa
được bạn đập tay mà đã chạy lên dán thì sẽ không
được tính điểm.
+ Đội nấm vàng sẽ dán các phương tiện giao thông
đường bộ
+ Đội nấm đỏ sẽ dán các phương tiện giao thông
đường thủy
+ Đội nấm xanh sẽ dán các phương tiện giao thông
đường hàng không
- Tổ chức cho trẻ chơi
- Nhận xét , đánh giá kết quả
Hoạt động 3: Công dụng và lợi ích của các phương
tiện giao thông, so sánh tìm ra những điểm giống
và khác nhau của các phương tiện giao thông
- Vừa rồi các đội vừa trải qua phần thi “cùng chung
sức” vô cùng sôi động. Bây giờ, xin mời các đội chơi
hướng lên đây để cùng tham gia vào phần thi “Vượt
qua thử thách.
- Các đội hãy quan sát thật kĩ các bức tranh và trả lời
thật nhanh các câu hỏi mà ban tổ chức đưa ra nhé!
(Cô cho trẻ quan sát một số bức tranh về các phương
tiện giao thông. Nêu những đặc điểm đặc trưng nhất
của từng nhóm phương tiện giao thông, so sánh sự
khác nhau của từng phương tiện giao thông bằng cách
trả lời câu hỏi).
* Đường bộ:
- Phương tiện giao thông nào chạy bằng sức đạp của
con người và không tốn nhiên liệu khi chạy?

*Đường hàng không:
- Phương tiện giao thông đường hàng không nào
thường được nhiều người sử dụng nhất?
- Phương tiện giao thông nào thường được dùng trong
quân sự?
- Phương tiện gì bay trên bầu trời có hình dáng giống
như cái dù thường được sử dụng để phục vụ du lịch ?
=> Tất cả các loại phương tiện giao thông trên đều
giống nhau ở điểm gì?
- Chúng khác nhau ở điểm gì?

- Xe đạp
- Tàu hỏa
- Ô tô

- Xe máy

- Thuyền buồm
- Thuyền thúng
- Tàu thủy
- Máy bay
- Trực thăng
- Kinh khí cầu

- Đều dùng để chở người và
hàng hóa
- Khác nhau ở tên gọi, đặc
=>Cô chốt lại: các phương tiện giao thông tuy có điểm, cấu tạo và môi trường
khác nhau về tên gọi, đặc điểm cấu tạo và môi trường hoạt động.
hoạt động nhưng đều có đặc điểm chung là dùng để

đúng thì sẽ giơ bảng màu xanh lên. Nếu chọn sai thì
sẽ giơ bảng màu đỏ lên.
- Luật chơi: Khi câu hỏi chưa kết thúc đội nào có tín
hiệu trả lời thì sẽ bị phạm quy.
- Tổ chức cho trẻ chơi.
+ Xe đạp chạy bằng động cơ, đúng hay sai?
+ Ô tô là phương tiện giao thông đường thủy, đúng
hay sai?
+ Người đi trên xe máy phải đội mũ bảo hiểm, đúng
hay sai?
+ Tàu hỏa đi trên đường ray, đúng hay sai?
+ Khinh khí cầu là phương tiện giao thông đường
thủy, đúng hay sai?
+ Máy bay là phương tiện giao thông đường hàng
không, đúng hay sai?
+ Thuyền buồm hoạt động ở trên trời, đúng hay sai?
+ Tàu thủy là phương tiện giao thông đường thủy ,
đúng hay sai?
* Kết thúc.
- Vậy là cả 3 đội chơi vừa trải qua những phần thi vô
cùng hấp dẫn và thú vị. Sau 3 phần thi, ban tổ chức
quyết định :
+ Trao giải xuất sắc cho đội…
+ Trao giải phong cách cho đội…
+ Trao giải ấn tượng cho đội…
Mời các đội lên nhận quà của ban tổ chức, hội thi
“Bé với an toàn giao thông” đến đây là kết thúc, xin
chào và hẹn gặp lại.

- Trẻ chơi

- Giáo dục trẻ yêu quý các loại hoa, biết chăm sóc và bảo vệ hoa, không hái bẻ cành.
II. Chuẩn bị
- Hoa thật: hoa cúc, hoa hồng...
- Rá nhựa.
- Bảng gián hoa, loto các loại hoa.
- Loa, nhạc.
III. Cách tiến hành
Hoạt động của cô

Hoạt động của trẻ

Hoạt động 1: Ổn định giới thiệu bài
- Các con ơi! Bây giờ cả lớp mình hãy đứng - Trẻ vận động cùng cô.
dậy và vận động cùng cô bài hát “Màu Hoa ”
nào!
- “Màu Hoa”: ạ.
- Bạn nào cho cô biết mình vừa vận động xong
bài hát gì nào?
-Trẻ lắng nge.
 Các con ạ! Thế giới loài hoa rất là phong
phú và đa dạng, mỗi loại hoa có những màu
sắc, tên gọi, vẻ khác nhau. Để giúp các con
hiểu biết thêm về một số loại hoa thì bây giờ
cô mời các con cùng cô khám phá thêm một
số loại hoa nữa nhé!
22


* Hoạt động 2: Khám phá một số loại hoa:
- Các con nhìn xem trên tay cô là gì đây? (Đưa

hoa cúc còn có màu trắng, màu tím nữa đấy.
* Quan sát hoa hồng:
- Các con ơi! Không chỉ hoa cúc mà còn nhiều
loại hoa nữa, bây giờ các con hãy lắng nge và
giải câu đố xem loại hoa gì nữa nhé!
“Thân cành có nhiều gai
Hương thơm tỏa sớm mai
Trắng hồng nhung nhiều loại

- Trẻ nghe

Đố bé biết hoa gì?”
- À đúng rồi !
- Cả lớp đọc cùng cô nào “Hoa hồng” 2 lần

- Trẻ trả lời “Hoa Hồng” ạ
(2 Trẻ trả lời)

* Cô cho trẻ quan sát.
- Hoa hồng có gai, cành hoa, lá
- Nhìn vào bông hoa các con có nhận xét gì
hoa, có màu đỏ.
không nào?
- To, hơi tròn ạ
- Cánh hoa hồng như thế nào
 À! Đúng rồi cánh hoa hồng to, hơi tròn khi
hoa hồng nở rộ sẽ có nhị hoa ở giữa.
+ Cành hoa hồng như thế nào?

- Dài thẳng ,và có gai ạ

mùi thơm ...
- Khi quan sát 2 loại hoa các con có nhận xét - Hoa Cúc có màu vàng,cánh hoa
gì ?
dài nhỏ, không có gai
- Cánh hoa cúc như thế nào?
- Cánh hoa hồng thì sao?

- Hoa Hồng có màu đỏ,cánh to hơi
tròn

- Cành hoa hồng có gì đặc biệt?

- Cành có gai

 Vừa rồi cô đã cho chúng ta làm quen với 2
loại hoa rồi bây giờ bạn nào đứng dậy nhắc lại - Hoa cúc, hoa hồng ạ.
cho cô và cả lớp biết loại hoa gì nào?
- Các con ơi! Các loại hoa được chăm sóc rất - Dạ
là cẩn thận vì thế các con nhớ phải biết yêu
quý không ngắt bẻ cành nhé!
* Hoạt động 3: Trò chơi “Thi ai nhanh nhất”
À! Nãy giờ cô thấy lớp mình học rất giỏi, cô
tuyên dương cả lớp. Bây giờ cô sẽ thưởng cho
24


lớp mình một trò chơi có tên là “Thi ai nhanh
nhất’’
Cách chơi: Cô chia lớp thành 2 đội, một đội cô - Trẻ nghe
chuẩn bị một rổ có rất nhiều loại hoa, cô yêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status