TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
٭٭٭٭٭٭
NGUYỄN PHƯƠNG LINH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG NGHE DÂN CA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hà Nội, năm 2016
1
1
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
ĐBBB
GD
3
: Đồng bằng Bắc Bộ
: Giáo dục
GDMN
: Giáo dục mầm non
: Tiêu chí 3
TC4
: Tiêu chí 4
GV
: Giáo viên
MG
: Mẫu giáo
MN
: Mầm non
MGL
: Mẫu giáo lớn
TB
: Trung bình
STT
:Số thứ tự
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Âm nhạc là loại hình nghệ thuật gắn bó mật thiết với cuộc sống con
người từ lúc lọt lòng mẹ tới lúc giã từ cõi đời. Đối với trẻ thơ, âm nhạc là
nguồn sữa nuôi dưỡng thế giới tinh thần và có vai trò quan trọng trong giáo
dục trẻ ở trường mầm non. Với trẻ thơ, thế giới xung quanh chứa đựng vô
vàn điều mới lạ, hấp dẫn. Ngay trong những sự kiện tưởng như rất bình
4
thường, ở trẻ lại phát hiện ra những điều lí thú. Cuộc sống tinh thần trong thế
giới cái đẹp khơi dậy ở trẻ nhu cầu muốn làm cho mình trở nên đẹp, nhu cầu
khám phá cái đẹp xung quanh.
Hoạt động âm nhạc là một nhu cầu của cuộc sống. Đặc biệt, đối với trẻ
mầm non, những giai điệu mượt mà hay vui tươi của âm nhạc làm cho tâm hồn
ngây thơ, trong trẻo của trẻ được đầy thêm tình yêu với thế giới xung quanh.
Qua đó, giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách . Để giáo dục cho trẻ có tâm hồn
dân tộc, giáo dục nghệ thuật cổ truyền trong đó có dân ca là rất quan trọng.
Những cái hay, cái đẹp, những nét đặc sắc của dân tộc phải được đến sớm với
tuổi thơ.Bằng ngôn ngữ đặc thù riêng của mình là những âm thanh biểu cảm,
dân ca không chỉ mang lại những cảm xúc, những xúc động mạnh mẽ, niềm vui
sướng trong đời sống tinh thần của trẻ mà còn giúp trẻ mở rộng thêm tầm hiểu
biết về thế giới, về con người.
Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc với nền văn hóa lâu đời, do vậy dân
ca Việt Nam bao gồm nhiều vùng miền, nhiều thể loại vô cùng phong phú: dân
ca Quan họ Bắc Ninh, hát Ví, hát Dặm (Nghệ An), hát Xoan (Phú Thọ), hát
Trống quân ở nhiều làng quê Bắc Bộ, hát Dô (Hà Tây), hò Huế, lý Huế ở
Trung Bộ, Nam Bộ có các điệu Lý, điệu Hò… dân ca của các dân tộc miền núi
trong hoạt động nghe dân ca”
Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động nghe dân ca nhằm góp phần hình thành ở
trẻ sự yêu thích nghe nhạc nói riêng, yêu thích nghe nhạc dân ca nói chung.
3.
3.1.
3.2.
4.
Từ đó hình thành ở trẻ tình yêu văn hóa – nghệ thuât của quê hương mình.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy trẻ 5-6 tuổi nghe nhạc ở trường mầm non.
Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong
hoạt động nghe dân ca.
Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi trong hoạt động nghe dân ca thì sẽ kích thích hứng thú nghe nhạc dân
ca cho trẻ, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục âm nhạc, hình thành nhân cách
toàn diện cho trẻ mầm non, hình thành tình yêu đối với nền văn hoá truyền
5.
5.1.
5.2.
thống.
-
ở trường mầm non.
Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra giáo viên nhằm tìm hiểu cách
6.2.
tổ chức và mức độ nhận thức của giáo viên trong việc cho trẻ mẫu giáo 5-6
-
tuổi nghe dân ca miền Bắc và các phương pháp họ sử dụng.
Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với giáo viên để thấy được các biện pháp
mà giáo viên thường sử dụng và tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của giáo viên
và trẻ để tìm ra các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động nghe nhạc
-
cách phù hợp.
Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng
7.
tính khả thi, tính hiệu quả của các biện pháp.
Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu.
Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về thể loại nhạc dân ca sẽ được lựa chọn và sử dụng: Dân ca Bắc Bộ.
- Địa điểm nghiên cứu:
+Trường mầm non xã Yên Ninh
+Trường mầm non Thị Trấn Lâm
+ Trường mầm non Vinschool Nguyễn Chí Thanh
8
•
“ Âm nhạc và phương pháp giáo dục âm nhạc cho lứa tuổi mẫu giáo” của trung
tâm nghiên cứu đào tạo bồi dưỡng giáo viên mầm non ( hệ trung học) – tác giả
•
•
Hoàng Thông.
“ Nghiên cứu âm nhạc dành cho tuổi mẫu giáo” của tác giả Phạm Thị Hòa.
Trong giáo trình “ Giáo dục âm nhạc - Tập 2 ” của tác giả Phạm Thị Hòa đã
giới thiệu và hướng dẫn cho giáo viên các phương pháp để giáo dục âm nhạc
ch trẻ ở trường Mầm non
Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp cũng
nghiên cứu về vấn đề nghe nhạc như:
•
Luận văn tốt nghiệp đại học “Một số biện pháp nâng cao tính tích cực của trẻ
5-6 tuổi trong hoạt động múa thông qua âm nhạc dân gian ” của tác giả
Nguyễn Thị Vân đã xây dựng một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn tích cực
•
thực hiện một số động tác múa với âm nhạc dân gian.
“Nâng cao một số biện pháp dạy hát cho trẻ mẫu giáo lớn” của tác giả Thái Thị
khác.
Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền, qua việc truyền khẩu,
truyền ngón các bài dân ca, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác tự do, góp
phần sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn. Do vậy họ gần
như là “đồng tác giả” với những người sáng tác mà người sáng tác ban đầu
không rõ là ai. Một bài dân ca thường tồn tại với một bản coi như bản gốc, gọi là
lòng bản và nhiều bản được ứng tấu thêm hay sửa đổi gọi là dị bản. Những bài
dân ca được nhiều người yêu thích sẽ được truyền bá đi khắp nơi. Hiện nay các
nhạc sĩ đã sáng tác thêm những lời ca mới dựa trên các làn điệu đã có tạo nên sự
đa dạng và phong phú cho dân ca . Các dịp biểu diễn thường là lễ hội, hát làng
nghề ngoài ra thường ngày cũng được hát lên trong lao động để động viên nhau,
hay trong tình yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa người và người. Tuy nhiên mỗi
tỉnh thành, dân ca Việt Nam lại có phát âm, giọng nói và các từ khác nhau nên
cũng có thể phân theo tỉnh cho dễ gọi vì nó cũng có tính chung của miền Bắc,
miền Trung và miền Nam ( Trích Wikipedia).
Theo GS.TS Trần Quang Hải làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên
cứu khoa học về Sơ lược về dân ca Việt Nam: “Dân ca là những bài hát, khúc
ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một
tác giả nào. Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua
nhiều người từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân
tộc… Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng bền vững
với thời gian”.
Để tiện cho việc nghiên cứu, ta có thể hiểu khái niệm về dân ca tạm thời
như sau: Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác được lưu
1.2.2.
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Dân ca Bắc Bộ
10
Vì thế đã nảy sinh ra biết bao nhiêu bài dân ca với đầy đủ mầu sắc. Và chính đó
11
là kho tằng quý giá của dân tộc mà ta gọi là “dân ca”. Dân ca là lời ca tiếng hát ở
đầu môi chót lưỡi của người dân với nếp sống bình dị, hiền hòa, đơn sơ.
•
Dân ca là những bài ca giản dị
Đa số những bài dân ca là những bài ca giản dị, hát mà không cần đến nhạc
khi phụ họa hay giữ nhịp một cách khắt khe, đôi khi cón được một nhạc khí đơn
sơ cho có màu mè, chứ không cần đến một dàn nhạc năm bảy thứ nhạc khí hòa
đệm như những loại nhạc chuyên nghiệp nhạc lễ, nhạc sân khấu…. Đây là
những bài ca không chuyên, tùy khả năng của người hát, lại có khi tùy hứng
khởi, không cần đến cao độ chính xác.
•
Dân ca là những bài ca truyền khẩu
Dân ca xuất hiện từ rất sớm, dù không được ghi lại bằng giấy trắng mực đen
nhưng dân ca có thể tự tồn tại vì được khắc ghi vào long người dân, và truyền lại
cho đời sau nhờ “ truyền miệng” rất độc đóa và hữu hiệu.
Những câu hát hay thường được người nghe cố gắng học thuộc long, cố nhớ
để có dịp hát lên cho mọi người nghe hay thưởng thức, tỉ tê một mình theo điệu
hát. Và cứ thế, dân ca đã trải qua biết bao thời, biết bao thế hệ. Đây là con
đường sinh tồn duy nhất của dân ca.
Ngày nay, chúng ta có được những bảo vật quý giá “ bài dân ca được kí âm” là
nhờ những sáng kiến ghi chép những bài hát trong dân chúng của khoa văn minh
1.2.4. Chức năng của dân ca trong tác phẩm âm nhạc dành cho trẻ mầm non
•
Chức năng giáo dục
Dân ca giáo dục tình yêu quê hương đất nước, trân trọng giá trị nghệ thuật
của con người ở mỗi vùng quê. Dân ca giáo dục tình cảm và thẩm mĩ cho trẻ. Đó
là những điều hay lẽ phải, cách ứng xử giao tiếp với ông bà, cha mẹ, thầy cô
giáo, bạn bè và những người xung quanh. Ngoài ra còn là nền tảng phát triển
đạo đức, những bài hát có ca từ dễ thuộc, giai điệu mềm mại, trữ tình có
ảnh hưởng nhất định tới trẻ tạo những cảm xúc tương ứng. Những bài dân ca có
giai điệu nhẹ nhàng bay bổng cũng tạo cho trẻ biết cách diễn đạt ngôn ngữ hơn còn
những bài có tiết tấu sinh động, rộn ràng, lời ca rắn rỏi, mạnh mẽ sẽ tạo cho trẻ phát
huy những tình cảm thẩm mĩ và lành mạnh.
Âm nhạc nói chung và dân ca nói riêng tác động tới con người từ khi mới
sinh ra với tiếng ru của mẹ cho đến khi từ giã cõi đời. Tuy không trực tiếp nuôi
dưỡng con người như cơm ăn nước uống hàng ngày nhưng âm nhạc lại làm cho
con người ta thêm yêu cuộc sống và nhận thức được cuộc sống. Nhờ ngôn ngữ
biểu cảm đặc biệt của âm thanh mà con người từ khắp mọi phương trời không
cùng ngôn ngữ, không chung phong tục tập quán nhưng lại có thể hiểu thêm
13
được văn hóa của nhau. Sự gắn kết bằng cảm xúc đã trở thành phương tiện giao
tiếp hết sức nhạy cảm mà không cần dùng đến ngôn ngữ.
•
Chức năng lao động
Dân ca là một thể loại ca hát dân gian, chủ yếu bắt nguồn từ môi trường
•
Chức năng nghi lễ
Dân ca nghi lễ thường gắn liền với lễ hội. Để phục vụ cho nghi thức lễ
hội, nhiều địa phương đã sáng tạo nên những điệu hát múa cho phù hợp như hát
Chầu văn, hát Cửa đình (cửa đền) đây là hình thức hát ca trù phục vụ cho nghi lễ
thờ phụng thánh thần ở các đình hay đền làng sở tại. Có thể nói hát cửa đình là
hình thái được ưa chuộng nhất trong xã hội thời phong kiến do các tập tục tế lễ
thánh thần là một nhu cầu quan trọng không thể thiếu trong đời sống của các
cộng đồng cư dân nông nghiệp. Trải qua thời gian thứ âm nhạc trong nghi thức,
nghi lễ đó đã dần nâng tầm nghệ thuật. Nhà Nghiên cứu âm nhạc dân tộc Bùi
Trọng Hiền ở bài Không gian Văn hóa - Các chức năng văn hóa xã hội và
những hình thức biểu hiện của nghệ thuật ca trù - Phần III có viết “Đứng về mặt
chức năng xã hội, các hình thức nghi lễ này mang tính thực hành xã hội chứ
không phục vụ nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật đơn thuần”.
•
Chức năng nghệ thuật
Trên thực tế các chức năng đều chứa đựng yếu tố nghệ thuật. Tuy nhiên,
trải qua thời gian với sự sàng lọc tinh hoa của dân tộc, một số thể loại dân ca đã
phát triển vượt ra khỏi khuôn khổ đất nước Việt Nam ta như Hò Huế, Ca trù,
Quan họ Bắc Ninh, thể loại sân khấu Tuồng, Chèo, cải lương để đến với thế giới
và được bạn bè quốc tế yêu thích. Ngoài ra cũng đã có những điệu dân ca đã
được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại như: dân
ca Ví giặm của tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Dân ca Quan họ của Bắc Ninh…
Có thể nói, âm nhạc nói chung và dân ca nói riêng tác động tới con người
từ khi mới sinh ra với tiếng ru của mẹ cho đến khi từ giã cõi đời. Tuy không trực
dân ca cho trẻ MG 5-6 tuổi.
1.3.2 Nghe nhạc
Khái niệm nghe nhạc (nghe âm nhạc) ở nước ta được đề cập tới trong một
số công trình, tác phẩm.
Nghe các bài hát, bản nhạc (gọi là nghe nhạc) vốn dĩ từ trước đến nay đã
được coi là một hoạt động đọc lấp, là một phần không thể thiếu của một tiết hoạt
động giáo dục âm nhạc Mầm non. Tuy nhiên, để tổ chức một tiết dạy trẻ nghe
nhạc là hoạt động chủ đạo thì lại là khá mới mẻ và khiến không ít giáo viên còn
lúng túng khi triển khai nội dung này
Tiến sĩ Ngô Thị Nam có nhận định: “Nghe nhạc là mức độ phát triển cao
của tai nghe con người. Tai nghe âm nhạc có sự phân biệt rất rõ rệt với tai nghe
16
bình thường. Người ta có thể nghe rất thính: nghe thấy mọi tiếng động, tiếng nói
nhưng chưa chắc đã nghe được và phân biệt được âm thanh âm nhạc với cùng
mức độ. Người có tai nghe âm nhạc là người có khả năng phân biệt được phẩm
chất âm thanh có tính nhạc như: cao độ, trường đọ, cường độ, âm sắc, các mối
quan hệ của các phương tiện diễn tả ngôn ngữ âm nhạc.” {25, tr.110}
Thông qua trích dẫn trên, chúng tôi xin được đưa ra khái niệm về nghe âm
nhạc như sau:
Nghe âm nhạc (nghe nhạc, nghe hát) là khả năng phân biệt được cao độ,
trường độ, âm sắc, các mối quan hệ của những phương tiện diễn tả âm nhạc.
Qua đó, giúp trẻ làm quen với tác phẩm âm nhạc, có cảm nhận ban đầu về âm
thanh, giai điệu, sắc thái tình cảm, nội dung, tính chất của tác phẩm âm nhạc,
nhằm góp phần hình thành thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc.
Hoạt động nghe nhạc của trẻ 5-6 tuổi ở trường Mầm non
1.4.1 Các phương pháp dạy trẻ nghe nhạc
1.4
Để việc cho trẻ nghe đạt hiệu quả cao cần giáo dục cho trẻ nghe có hệ
thống, liên tục, có mục đích.
Các hình thức dạy trẻ 5-6 tuổi nghe nhạc bao gồm:
- Nghe kết hợp được hiểu là loại tiêt học âm nhạc có hát hoặc vận động là trọng
tâm. Nghe ở đây mang tính chất củng cố bài đã được nghe, hoặc giới thiệu bài
hát sắp nghe. Với bài đã nghe, tập cho trẻ nhận biết qua sự diễn tấu của nhạc cụ,
trao đổi kĩ hơn nội dung âm nhạc. Cũng có thể cho trẻ nghe tiết tấu để đoán nhận
bài hát đã nghe.
- Nghe là tiết trọng tâm: nghe tác phẩm âm nhạc đòi hỏi sự tích cực của trẻ về sự
chú ý thính giác và tri giác, suy nghĩ và tưởng tượng, gợi lên ở trẻ sự đồng cảm
với hình tượng nghệ thuật, sự phản ánh các ấn tượng thu được vào trong lời nói
1.4.3 Các bước tiến hành dạy trẻ nghe nhạc
Dạy trẻ nghe nhạc gồm ba bước:
Bước 1: Giới thiệu tác phẩm
18
Tùy vào nội dung, hình thức âm nhạc sẽ cho trẻ nghe có thể lựa chọn các
phương pháp, biện pháp sau:
- Giáo viên dùng lời giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm, tác giả, trích đoạn
tác phẩm.
- Giáo viên dùng lời hấp dẫn, sinh động để giới thiệu qua về hình tượng
âm nhạc, tính chất hoặc sắc thái tình cảm trong tác phẩm.
- Có thể trò chuyện với trẻ về nội dung tác phẩm dựa trên sự thống nhất
giữa âm nhạc và lời ca trong bài hát trẻ sắp nghe.
- Có thể dùng thơ, dùng tranh, dùng đồ chơi minh họa để dẫn dắt trẻ tới
tác phầm.
Bước 2: Cho trẻ nghe nhạc
- Giáo viên cần hát thật diễn cảm. Có thể diễn tả tình cảm kết hợp cử chỉ,
chu đáo của giáo viên.
1.5
Vai trò của nghe nhạc đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ
5-6 tuổi
1.5.1 Nghe nhạc là phương tiện giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ là giáo dục cho trẻ nhận biết cái đẹp, hiểu được
cái đẹp, cảm thụ được cái đẹp và biết tạo ra cái đẹp. Các bộ môn nghệ thuật
trong đó có âm nhạc được coi là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để
giáo dục thẩm mỹ cho trẻ.
Được nghe nhạc là một nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ mẫu giáo. Bản
thân âm nhạc có sức truyền cảm rất mạnh mẽ, nó có khả năng tác động đến ọi
đối tượng con người, Với trẻ thơ, âm nhạc là thế giới kỳ điệu đầy màu sắc, thông
qua đường nét giai điệu, tiết tấu, âm sắc, nhịp độ… đã tác động đến tâm hồn
ngây thơ trong sáng của trẻ, mở rộng tầm hiểu biết, làm phong phú kinh nghiệm
sống cho trẻ, mang lại cho trẻ những cảm xúc và sự xúc động do các hiện tượng,
sự vật của cuộc sống thực mang lại.
Quan hệ thẩm mỹ với âm nhạc là sự phản ánh âm nhạc trong ý thức của
trẻ, sự hình thành những quan hệ giữa trẻ với âm nhạc. Đó là một tập hợp những
mối liên hệ có lựa chon của riêng trẻ với các tác phẩm âm nhạc và các dạng hoạt
động âm nhạc như hát, nghe, vận động theo nhạc, trò chơi âm nhạc. Thường
20
xuyên được tiếp xúc với âm nhạc trẻ sẽ phát triển được khả năng cảm thụ cái
hay, cái đẹp, hoạt động độc lập và sáng tạo trong khi tiếp xúc với các dạng hoạt
động âm nhạc khác nhau.
Để thực hiện được chức năng giáo dục thẩm mỹ trong hoạt động nghe
nhạc trước hết cần phát triển ở trẻ những khả năng về âm nhạc. Đó là khả năng
hơn trong mọi hoạt động và hòa nhập với cộng đồng. Giữa trẻ với nhau cũng
xuất hiện sự cảm thông, quan tâm hơn đến nhau. Hơn nữa, hoạt động nghe nhạc
còn ảnh hưởng tốt đến hành vi văn hóa của trẻ: Nội dung các bài hát khác nhau
giúp trẻ có hành vi đúng đắn, phù hợp, sự thay đổi luân phiên các hoạt động
( hát, nghe, vận động) tạo cho trẻ có tính kỷ luật, chấp hành trật tự nhất định,
tính tổ chức… nó đòi hỏi ở trẻ sự chú ý, độ nhanh nhạy, giáo dục trẻ biết kiềm
chế, dần điều khiển vận động cho phù hợp với âm nhạc.
Như vậy, hoạt động nghe nhạc đã tạo ra những điều kiện cần thiết đối với
sự hình thành những phẩm chất đọa đức nhân cách của trẻ, đặt những cơ sở ban
đầu cho văn hóa chung của người công dân tương lai.
1.5.3 Nghe nhạc là phương tiện thúc đẩy sự phát triển trí tuệ ở trẻ
Các công trình nghiên cứu khoa học cho thấy: cảm thụ âm nhạc gắn bó
chặt chẽ với sự phát triển trí tuệ, nó đòi hỏi trẻ phải chú ý, quan sát nhạy bén.
Trẻ biết tập trung nghe nhạc, so sánh các âm thanh tiến hành cao thấp, mạnh
nhẹ, nhanh chậm khác nhau, làm quen với ý nghĩa biểu cảm của các âm thanh,
ghi nhớ các đặc điểm, tính chất các hình tượng âm thanh.
Những thử nghiệm ban đầu thử đánh giá cái đẹp trong âm nhạc đòi hỏi trí
tuệ phải hoạt động tích cực. Đó chính là sự hoạt động của ba hình thức tư duy
( khoa học tâm lý đã nghiên cứu ở trẻ): tư duy trực quan hành động, tư duy trực
quan hình tượng và tư duy trực quan trừu tượng.Cả ba hình thức này có liên
quan mật thiết với nhau giúp trẻ không chỉ nhận biết mà còn phải tìm thấy sự
giống và khác nhau giữa các tác phẩm âm nhạc và trẻ có thể tự sắp xếp chúng
thành từng nhóm, từng thể loại qua giai điệu, tiết tấu của mỗi tác phẩm.
Thông qua những tác phẩm âm nhạc có nội dung phản ánh những hiện
tượng của cuộc sống xung quanh mà trang bị cho trẻ nhận biết về xã hội, thiên
22
nhiên, phong tục tập quán và truyền thống dân tộc. Hình thành ở trẻ những biểu
đẹp, đẩy mạnh hoạt động trí tuệ, thường xuyên hoàn thiện mọi vận động thể chất
cho trẻ.
1.5.5 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi có liên quan đến khả năng nghe nhạc
1.5.6 Đặc điểm tâm lý
Các nhà tâm lí học cho rằng, sự nhạy cảm và nghe ở trẻ phát triển từ rất
sớm. Đây cũng là thời điểm mạnh mẽ tình cảm thẩm mỹ dễ rung động trước cái
đẹp. Hướng phát triển tình cảm của trẻ ngày càng phong phú bền vững và sâu
sắc hơn chính vì thế trẻ cảm nhận âm nhạc cũng sâu sắc hơn.
Nghiên cứu về tri giác của trẻ về âm nhạc cho thấy: Độ tinh về ngôn ngữ
thấp hơn độ tinh về âm nhạc. Nghĩa là trẻ có khả năng phân biệt tốt hơn những
khác biệt về cao độ của âm thanh so với khả năng phân biệt các âm của ngôn
ngữ, nó giúp cho trẻ ghi nhớ âm nhạc tốt hơn, lâu hơn. Do ở trẻ mẫu giáo tính
hình tượng phát triển mạnh nên những thuộc tính cụ thể, cảm tính sinh động của
âm thanh có tác động mạnh mẽ lên giác quan và ghi dấu ấn đậm trong tâm trí
trẻ.
Trẻ 5-6 tuổi trí nhớ có chủ định phát triển mạnh mẽ, chỉ cần sử dụng câu
hỏi, gợi ý, hướng dẫn, tổ chức phù hợp là trẻ có thể tiếp thu vấn đề nhanh chóng.
Âm nhạc cũng thông qua các hình thức, phương pháp đó nên trẻ cũng rấ dễ tiếp
thu tri thức âm nhạc. Trẻ không thuộc bái hát, giai điệu một cách máy móc và
bắt chước nữa.
Chú ý của trẻ mang màu sắc xúc cảm và có liên quan đến hứng thú, trẻ
bộc lộ trực tiếp rõ ràng qua nét mặt và ánh mắt trước đối tượng mà chúng thích.
Nắm bắt đặc điểm này, chúng ta có thể tổ chức các hoạt động vui vẻ, sôi nổi để
gây sự chú ý và hứng thú cho trẻ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc.
Trong trò chơi tự do và sáng tạo, trẻ chú ý lâu hơn, điều này phù hợp với tính
chất hoạt động đặc thù của âm nhạc: vui vẻ thoải mái, tự nhiên bộc lộ cảm
xúc…
Những nét tâm lí đặc trưng của tuổi mẫu giáo là tiền đề cho việc tiếp thu,
giáo dục âm nhạc. Âm nhạc đã đem lại cho trẻ một thế giới âm thanh nhiều màu
Cấu tạo cơ quan phát âm của trẻ có sự khác biệt với người lớn: khe âm
thanh và thanh đới ngắn nên giọng trẻ thường là giọng thanh. Giọng thanh giúp
25