TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
٭٭٭٭٭٭
NGUYỄN PHƯƠNG LINH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG NGHE DÂN CA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hà Nội, năm 2016
LỜI CẢM ƠN
1
1
1
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ vô cùng quý
báu của các tập thể và cá nhân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sỹ Lê Thu Trang, người đã tận tâm
hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể Khoa Giáo Dục Mầm Non, Trường Đại Học
Sư Phạm Hà nội là cơ sở đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt 4 năm học tập,
nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và tập thể giáo viên trường mầm
non Thị Trấn Lâm – Nam Định đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực nghiệm đề tài.
Xin biết ơn gia đình đã luôn là điểm tựa vững chắc để tôi có được công trình này.
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
MN
: Mầm non
MGL
: Mẫu giáo lớn
TB
: Trung bình
STT
:Số thứ tự
TV
: Ti vi
2
2
2
SL
TĐ
3
: Số lượng
: Tổng điểm
3
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
độ trẻ được nghe chưa nhiều và trẻ không được hứng thú lắm. Bên cạnh đó, trẻ được
tiếp cận nhiều xu hướng âm nhạc khác nhau như là hip hop, rock… hay các bài hát
tiếng anh cho trẻ hơn nên dân ca rất dễ bị mai một. Vì vậy việc giữ gìn bản sắc dân tộc
là vấn đề rất được quan tâm hiện nay.
Bản thân tôi đang sinh sống và học tập tại thủ đô Hà Nội và tôi rất mong muốn
4
4
4
cho trẻ tiến gần hơn tới âm nhạc dân gian nói chung và dân ca Bắc Bộ nói riêng để giữ
gìn bản sắc dân tộc. Nhiều câu ca dao là những câu nói về quan hệ giữa anh em, bạn
bè; ca ngợi tình yêu lao động, trân trọng những giá trị của sự lao động. Ví dụ khi nghe
bài hát “cò lả”, trẻ có thể liên tưởng đến những cánh đồng lúa chín trải dài bất tận,
những cánh cò bay lả rập rờn, bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng…
Chính vì vậy, xuất phát từ những lí do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt
động nghe dân ca”
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi trong hoạt động nghe dân ca nhằm góp phần hình thành ở trẻ sự yêu thích nghe
nhạc nói riêng, yêu thích nghe nhạc dân ca nói chung. Từ đó hình thành ở trẻ tình yêu
văn hóa – nghệ thuât của quê hương mình.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy trẻ 5-6 tuổi nghe nhạc ở trường mầm non.
Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động
Đọc sách, báo, tài liệu có liên quan đến đề tài, từ đó nghiên cứu, phân tích, tông
hợp, hệ thống hóa để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Dự giờ một số hoạt động âm nhạc của trẻ MG 5-6 tuổi ở
trường mầm non.
Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra giáo viên nhằm tìm hiểu cách tổ chức và
mức độ nhận thức của giáo viên trong việc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nghe dân ca miền
5
5
5
Bắc và các phương pháp họ sử dụng.
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với giáo viên để thấy được các biện pháp mà giáo
viên thường sử dụng và tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của giáo viên và trẻ để tìm ra
các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động nghe nhạc cách phù hợp.
- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả
thi, tính hiệu quả của các biện pháp.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu.
7. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về thể loại nhạc dân ca sẽ được lựa chọn và sử dụng: Dân ca Bắc Bộ.
- Địa điểm nghiên cứu:
+Trường mầm non xã Yên Ninh
+Trường mầm non Thị Trấn Lâm
+ Trường mầm non Vinschool Nguyễn Chí Thanh
8. Cấu trúc khóa luận
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Phần nội dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1.
Sơ lược vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghe nhạc là một bộ phận quan trọng xuyên xuốt quá trình giáo dục âm nhạc
cho mọi lứa tuổi đặc biệt là trẻ mầm non. Chính vì thế vấn đề dạy trẻ nghe nhạc luôn
được các nhà giáo dục, các nhà khoa học nghiên cứu và quan tâm.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến vai trò của việc cho
trẻ nghe nhạc và đã đi sau vào nghiên cứu dạy trẻ nghe nhạc như thế nào thì mới mang
lại hiệu quả cao:
“ Nghệ thuật âm nhạc với trẻ mầm non” của tác giả Hoàng Văn Yến.
“ Âm nhạc và phương pháp giáo dục âm nhạc cho lứa tuổi mẫu giáo” của trung tâm
nghiên cứu đào tạo bồi dưỡng giáo viên mầm non ( hệ trung học) – tác giả Hoàng
Thông.
“ Nghiên cứu âm nhạc dành cho tuổi mẫu giáo” của tác giả Phạm Thị Hòa.
Trong giáo trình “ Giáo dục âm nhạc - Tập 2 ” của tác giả Phạm Thị Hòa đã giới thiệu
và hướng dẫn cho giáo viên các phương pháp để giáo dục âm nhạc ch trẻ ở trường
Mầm non
Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp cũng nghiên cứu
về vấn đề nghe nhạc như:
Luận văn tốt nghiệp đại học “Một số biện pháp nâng cao tính tích cực của trẻ 5-6 tuổi
trong hoạt động múa thông qua âm nhạc dân gian ” của tác giả Nguyễn Thị Vân đã
xây dựng một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn tích cực thực hiện một số động tác
múa với âm nhạc dân gian.
“Nâng cao một số biện pháp dạy hát cho trẻ mẫu giáo lớn” của tác giả Thái Thị Hằng.
“Một số biện pháp hướng dẫn trẻ mẫu giáo lớn thể hiện tác phẩm âm nhạc mang tính
chất hành khúc” của tác giả Lê Tuấn Đức.
Các đề tài trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động nghe
nhạc, thể hiện tác phẩm ở một số thể loại nhạc như hành khúc, nhạc cổ điển…, hay đề
tài của tác giả Nguyễn Thị Vân cũng đã đi vào khai thác âm nhạc dân gian tuy nhiên
chưa đi sâu về vấn đề cho trẻ nghe nhạc.
khác nhau nên cũng có thể phân theo tỉnh cho dễ gọi vì nó cũng có tính chung của
miền Bắc, miền Trung và miền Nam ( Trích Wikipedia).
Theo GS.TS Trần Quang Hải làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu
khoa học về Sơ lược về dân ca Việt Nam: “Dân ca là những bài hát, khúc ca được
sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Đầu
tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người từ đời
này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca
được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng bền vững với thời gian”.
Để tiện cho việc nghiên cứu, ta có thể hiểu khái niệm về dân ca tạm thời như
sau: Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác.
1.2.2. Dân ca Bắc Bộ
Dân ca Bắc Bộ là những bài hát cổ truyền do nhân dân miền Bắc sáng tác, được
lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ngày nay, khi khảo sát một bài dân ca được phổ biến ở một vùng nào đó, muốn
biết được xuất xứ của chúng, người ta thường dựa vào một vài đặc điểm có trong đó ví
dụ như tiếng địa phương, những địa danh. Đây là cách dễ nhận biết nhất để nhận ra
xuất xứ của một bài dân ca.
Nói chung trong các bài dân ca miền Bắc thường có những từ đệm như: “rằng,
thì, chứ...” và các dấu giọng như: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng được dệt bới những nốt
nhạc sao cho việc phát âm được rõ nét. Một số phụ âm được phát âm một cách đặc thù
8
8
8
•
Dân ca là những bài ca truyền khẩu
Dân ca xuất hiện từ rất sớm, dù không được ghi lại bằng giấy trắng mực đen
nhưng dân ca có thể tự tồn tại vì được khắc ghi vào long người dân, và truyền lại cho
đời sau nhờ “ truyền miệng” rất độc đóa và hữu hiệu.
Những câu hát hay thường được người nghe cố gắng học thuộc long, cố nhớ để
có dịp hát lên cho mọi người nghe hay thưởng thức, tỉ tê một mình theo điệu hát. Và
cứ thế, dân ca đã trải qua biết bao thời, biết bao thế hệ. Đây là con đường sinh tồn duy
nhất của dân ca.
Ngày nay, chúng ta có được những bảo vật quý giá “ bài dân ca được kí âm” là
nhờ những sáng kiến ghi chép những bài hát trong dân chúng của khoa văn minh học,
nhân chủng học và âm nhạc học gợi ra.
Dân ca là những bài hát không rõ tác giả
9
9
9
Những bài hát dân ca hiện có chúng ta khó có thể biết ai là tác giả. Nếu có cũng
chỉ biết được tên người sưu tầm haowcj tên người hát, người ký âm lại mà thôi. Đối
với những bài hát dân ca cải biên thì có tên tác giả của nó. Những bài hát dân ca này
cũng được gọt giũa và ký âm theo cốt cách của những bài dân ca truyền khẩu từ xa
xưa của dân tộc. Điều này cũng không làm cho chúng ta phải ngạc nhiên vì dân ca vốn
có từ rất lâu đời, lại không được ghi chép bằng văn bản để lưu lại hậu thế, thì dù có tên
tác giả, cũng đương nhiên có thể bị thất lạc và quên lãng.
• Dân ca là những bài ca không biết thời gian ra đời
Dân ca là tác phẩm mà người ta không thể phẩm định “tuổi tác” của nó được.
Vì trước hết, người ta không biết ai là người sáng tác nó, sáng tác vào thời nào? Kế đó,
dân ca chỉ là những âm thanh được truyền lại và sự hiện diện của nó rất vô hình khi ẩn
hiện qua bia miệng mà thôi. Dân ca là những đứa con sinh ra trong “ mai danh ẩn tích”
ngư nghiệp ở các vùng nông thôn. Cũng có thể bắt nguồn từ một cá nhân có năng
khiếu dệt nhạc vào một bài ca dao (thơ dân gian). Từ môi trường nông ngư nghiệp đó,
dân ca có nhiều chức năng trong các hoạt động của cuộc sống. Chức năng hỗ trợ các
thao tác lao động trên cạn như: ru em, xay lúa, giã gạo, tát nước, kéo gỗ…, trên sông
nước thì có hò chèo thuyền, kéo lưới… làm bớt đi sự căng thẳng mệt mỏi trong quá trình
lao động, đồng thời khiến cho tinh thần của người lao động hưng phấn hơn, giúp cho quá
trình lao động được năng xuất hơn, đạt kết quả cao hơn.
• Chức năng sinh hoạt
Được sản sinh trong môi trường diễn xướng, qua những buổi lao động sinh hoạt
cộng đồng trên đồng ruộng, bãi lúa, ven sông, những buổi hội làng, tính ngẫu hứng
đầy thẩm mỹ của dân ca thực sự chỉ được thể hiện trọn vẹn khi đưa vào môi trường
diễn xướng dân ca. Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, ngoài lao động người dân còn
tổ chức hội hè đình đám trong, những lúc nông nhàn. Có thể thấy rõ chức năng sinh
hoạt trong các thể loại hát Ví, hát Quan họ, Trống quân, Giặm, hát Lý, hát Đúm…
Ví dụ: hát Trống quân phổ biến ở Bắc bộ thường được tổ chức vào những
tuần tháng bảy, tháng tám âm lịch, ngoài ra còn được tổ chức hát thi vào những
ngày hội. Trong những ngày mùa, người thợ gặt ở nơi khác đến thường tổ chức hát
với trai hoặc với gái trong làng hay giữa họ với nhau vào buổi tối lúc nghỉ việc.
Còn những điệu Ví, Giặm chủ yếu là các cuộc hát đối đáp trong các sự kiện
sinh hoạt cộng đồng với quy mô và không gian đa dạng. Hát Giặm có thể kể đầu đuôi
một câu chuyện na ná như vè nhưng chủ yếu là sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
• Chức năng nghi lễ
Dân ca nghi lễ thường gắn liền với lễ hội. Để phục vụ cho nghi thức lễ hội,
nhiều địa phương đã sáng tạo nên những điệu hát múa cho phù hợp như hát Chầu văn,
hát Cửa đình (cửa đền) đây là hình thức hát ca trù phục vụ cho nghi lễ thờ phụng thánh
thần ở các đình hay đền làng sở tại. Có thể nói hát cửa đình là hình thái được ưa
chuộng nhất trong xã hội thời phong kiến do các tập tục tế lễ thánh thần là một nhu
cầu quan trọng không thể thiếu trong đời sống của các cộng đồng cư dân nông nghiệp.
Trải qua thời gian thứ âm nhạc trong nghi thức, nghi lễ đó đã dần nâng tầm nghệ thuật.
Nhà Nghiên cứu âm nhạc dân tộc Bùi Trọng Hiền ở bài Không gian Văn hóa - Các
Theo từ điển Giáo dục học, Nhà xuất bản Từ điền bách khoa, trang 26: “Biện
pháp là cách tác động có định hướng, có chủ đích phù hợp với đối tượng giáo dục”.
Biện pháp là một trong những thành tố của quá trình giáo dục, có quan hệ mật
thiết và có tính biện chứng với các thành tố khác, đặc biệt là với phương pháp học.
Theo từ điển Tiếng Việt – Việt ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên (2004) : “ Biện
pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”.
Theo từ điển Tâm lí học: “Biện pháp là cách thức tiến hành, giải quyết một vấn
đề cụ thể”.
Các nhà giáo dục học khẳng định: Biện pháp giáo dục là các tác động riêng biệt
của GV trong mỗi phương pháp giáo dục cụ thể.
Biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động nghe dân
ca là cách làm, cách giải quyết vấn đề về cho trẻ nghe dân ca. Từ đó đưa ra một số
biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hứng thú trong hoạt động nghe dân ca cho trẻ MG
5-6 tuổi.
1.3.2 Nghe nhạc
Khái niệm nghe nhạc (nghe âm nhạc) ở nước ta được đề cập tới trong một số
công trình, tác phẩm.
12
12
12
Nghe các bài hát, bản nhạc (gọi là nghe nhạc) vốn dĩ từ trước đến nay đã được
coi là một hoạt động đọc lấp, là một phần không thể thiếu của một tiết hoạt động giáo
dục âm nhạc Mầm non. Tuy nhiên, để tổ chức một tiết dạy trẻ nghe nhạc là hoạt động
chủ đạo thì lại là khá mới mẻ và khiến không ít giáo viên còn lúng túng khi triển khai
nội dung này
Tiến sĩ Ngô Thị Nam có nhận định: “Nghe nhạc là mức độ phát triển cao của tai
13
13
13
chính xác, tự nhiên, diễn cảm, thể hiện đúng phong cách tác phẩm.
- Phương pháp nghe qua phương tiện
Là giáo viên đàn giai điệu bài hát, nghe đài, băng đĩa, video… Nghe qua phương tiện
sẽ mở rộng phạm vi trực quan cho trẻ: trẻ làm quen với lối trình diễn dàn dựng công
phu, hài hòa giữa hát và nhạc, âm sắc các nhạc cụ và cách hòa tấu. khi nghe qua
phương tiện, giáo viên nên kết hợp cho trẻ xem tranh, các con rối, động tác múa minh
họa nội dung âm nhạc. Biện pháp này giúp trẻ tích lũy các ấn tượng âm nhạc, dễ dàng
ghi nhớ tác phẩm.
Việc lựa chọn và sử dụng phương pháp gồm hai giai đoạn, đó là nắm chắc nội
dung dạy, xác định yêu cầu cụ thể cần đạt và lựa chọn trình tự cũng như biện pháp, thủ
thuật dạy cụ thể.
1.4.2 Các hình thức dạy trẻ 5-6 tuổi nghe nhạc
Để việc cho trẻ nghe đạt hiệu quả cao cần giáo dục cho trẻ nghe có hệ thống,
liên tục, có mục đích.
Các hình thức dạy trẻ 5-6 tuổi nghe nhạc bao gồm:
- Nghe kết hợp được hiểu là loại tiêt học âm nhạc có hát hoặc vận động là trọng
tâm. Nghe ở đây mang tính chất củng cố bài đã được nghe, hoặc giới thiệu bài hát sắp
nghe. Với bài đã nghe, tập cho trẻ nhận biết qua sự diễn tấu của nhạc cụ, trao đổi kĩ
hơn nội dung âm nhạc. Cũng có thể cho trẻ nghe tiết tấu để đoán nhận bài hát đã nghe.
- Nghe là tiết trọng tâm: nghe tác phẩm âm nhạc đòi hỏi sự tích cực của trẻ về
sự chú ý thính giác và tri giác, suy nghĩ và tưởng tượng, gợi lên ở trẻ sự đồng cảm với
hình tượng nghệ thuật, sự phản ánh các ấn tượng thu được vào trong lời nói
1.4.3 Các bước tiến hành dạy trẻ nghe nhạc
Dạy trẻ nghe nhạc gồm ba bước:
- Tiếp tục cho trẻ nghe lại tác phẩm bằng những hình thức biểu diễn khác nhau:
biểu diễn trên đàn, hát bằng một âm “ la”…
- Trò chuyện với trẻ để cùng ôn lại tên tác giả, tác phẩm, về hình tượng âm
nhạc, tính chất, giai điệu, tiết tấu âm nhạc… của tác gải đã được nghe.
- Dùng biện pháp so sánh, câu hỏi giúp trẻ nhớ lại nội dung âm nhạc, khái niệm
về các phương pháp diễn tả âm nhạc.
- Kiểm tra trí nhớ âm nhạc của trẻ bằng biện pháp sinh động: đố trẻ nhận ra tác
phẩm đã biết chỉ qua phần tiết tấu hoặc riêng phần giai điệu. Cho trẻ nhắc lại một nét
giai điệu hoặc tiết tấu nào đó trong tác phẩm đã được nghe.
Như vậy, với từng tác phẩm khác nhau, nội dung, hình thức nghe nhạc trong từng
tiết học khác nhau cho phù hợp với nhóm trẻ và đạt yêu cầu đề ra. Tuy nhiên, hiệu quả
của tiết dạy nghe nhạc phụ thuộc không ít vào sự chuẩn bị chu đáo của giáo viên.
1.5 Vai trò của nghe nhạc đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ 5-6
tuổi
1.5.1 Nghe nhạc là phương tiện giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ là giáo dục cho trẻ nhận biết cái đẹp, hiểu được cái
đẹp, cảm thụ được cái đẹp và biết tạo ra cái đẹp. Các bộ môn nghệ thuật trong đó có
âm nhạc được coi là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để giáo dục thẩm mỹ
cho trẻ.
Được nghe nhạc là một nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ mẫu giáo. Bản thân
âm nhạc có sức truyền cảm rất mạnh mẽ, nó có khả năng tác động đến ọi đối tượng
con người, Với trẻ thơ, âm nhạc là thế giới kỳ điệu đầy màu sắc, thông qua đường nét
giai điệu, tiết tấu, âm sắc, nhịp độ… đã tác động đến tâm hồn ngây thơ trong sáng của
trẻ, mở rộng tầm hiểu biết, làm phong phú kinh nghiệm sống cho trẻ, mang lại cho trẻ
những cảm xúc và sự xúc động do các hiện tượng, sự vật của cuộc sống thực mang lại.
15
15
15
Ngoài ra khi cho trẻ làm quen với một số bài hát ru, bài hát dân ca của các dân
tộc không những giúp trẻ mở mang hiểu biết về các dân tộc mà con giáo dục trẻ thái
độ, tình cảm yêu mến, đoàn kết các dân tộc, thái độ sống khiêm tốn, hòa nhập trong
cộng đồng.
Các tiết học âm nhạc ở trường mầm non bao giờ cũng được tiến hành với từng
nhóm trẻ theo độ tuổi. Trong khi được cùng nhau thưởng thức các tác phẩm âm nhạc
cùng với những cảm xúc sẽ tạo cho trẻ sự thoải mái, tự tin, mạnh dạn hơn trong mọi
hoạt động và hòa nhập với cộng đồng. Giữa trẻ với nhau cũng xuất hiện sự cảm thông,
16
16
16
quan tâm hơn đến nhau. Hơn nữa, hoạt động nghe nhạc còn ảnh hưởng tốt đến hành vi
văn hóa của trẻ: Nội dung các bài hát khác nhau giúp trẻ có hành vi đúng đắn, phù
hợp, sự thay đổi luân phiên các hoạt động ( hát, nghe, vận động) tạo cho trẻ có tính kỷ
luật, chấp hành trật tự nhất định, tính tổ chức… nó đòi hỏi ở trẻ sự chú ý, độ nhanh
nhạy, giáo dục trẻ biết kiềm chế, dần điều khiển vận động cho phù hợp với âm nhạc.
Như vậy, hoạt động nghe nhạc đã tạo ra những điều kiện cần thiết đối với sự
hình thành những phẩm chất đọa đức nhân cách của trẻ, đặt những cơ sở ban đầu cho
văn hóa chung của người công dân tương lai.
1.5.3 Nghe nhạc là phương tiện thúc đẩy sự phát triển trí tuệ ở trẻ
Các công trình nghiên cứu khoa học cho thấy: cảm thụ âm nhạc gắn bó chặt chẽ
với sự phát triển trí tuệ, nó đòi hỏi trẻ phải chú ý, quan sát nhạy bén. Trẻ biết tập trung
nghe nhạc, so sánh các âm thanh tiến hành cao thấp, mạnh nhẹ, nhanh chậm khác
nhau, làm quen với ý nghĩa biểu cảm của các âm thanh, ghi nhớ các đặc điểm, tính
chất các hình tượng âm thanh.
những phản ứng gắn với sự thay đổi nhịp tim mạch, sự trao đổi máu…
Trong tiết học vận động theo nhạc, việc nghe nhạc không chỉ giúp trẻ tập phối
hợp các động tác, đi lại vững vàng, chạy được nghẹ nhàng theo giai điệu, theo nhịp
của bài hát mà tất cả những vận động của tay, chân, lưng, đầu, vai, toàn thân… cũng là
nhờ có sự phụ họa của âm nhạc, sự chú ý lắng nghe âm nhạc nên vận động mới trở nên
chính xác, nhịp nhàng hơn. Cường độ, nhịp độ của tác phẩm âm nhạc đòi hỏi trẻ phải
tập trung lắng nghe nhận biết sự thay đổi của âm nhạc để thay đổi tốc đọ của vận động,
biên độ của vận động. Sự thay đổi tính chất âm nhạc ở các câu, đoạn cũng kéo theo
mức độ căng thẳng, sự thay đổi hướng và đội hình của vận động. Vận động theo nhạc
tạo cho trẻ sự hoạt bát, nhanh nhẹn, có tư thế đẹp, duyên dáng.
Như vậy, hoạt động nghe nhạc ở trường mầm non đã tạo điều kiện phát triển
chung cho nhân cách trẻ. Sự nhạy cảm và tai nghe âm nhạc phát triển trong những
mức độ phù hợp sẽ giúp trẻ hưởng ứng với những tình cảm và hành vi tốt đẹp, đẩy
mạnh hoạt động trí tuệ, thường xuyên hoàn thiện mọi vận động thể chất cho trẻ.
1.5.5 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi có liên quan đến khả năng nghe nhạc
1.5.6 Đặc điểm tâm lý
Các nhà tâm lí học cho rằng, sự nhạy cảm và nghe ở trẻ phát triển từ rất sớm.
Đây cũng là thời điểm mạnh mẽ tình cảm thẩm mỹ dễ rung động trước cái đẹp. Hướng
phát triển tình cảm của trẻ ngày càng phong phú bền vững và sâu sắc hơn chính vì thế
trẻ cảm nhận âm nhạc cũng sâu sắc hơn.
Nghiên cứu về tri giác của trẻ về âm nhạc cho thấy: Độ tinh về ngôn ngữ thấp hơn
độ tinh về âm nhạc. Nghĩa là trẻ có khả năng phân biệt tốt hơn những khác biệt về cao độ
của âm thanh so với khả năng phân biệt các âm của ngôn ngữ, nó giúp cho trẻ ghi nhớ âm
nhạc tốt hơn, lâu hơn. Do ở trẻ mẫu giáo tính hình tượng phát triển mạnh nên những thuộc
tính cụ thể, cảm tính sinh động của âm thanh có tác động mạnh mẽ lên giác quan và ghi
dấu ấn đậm trong tâm trí trẻ.
Trẻ 5-6 tuổi trí nhớ có chủ định phát triển mạnh mẽ, chỉ cần sử dụng câu hỏi,
gợi ý, hướng dẫn, tổ chức phù hợp là trẻ có thể tiếp thu vấn đề nhanh chóng. Âm nhạc
cũng thông qua các hình thức, phương pháp đó nên trẻ cũng rấ dễ tiếp thu tri thức âm
quan thính giác. Trẻ phản ứng nhanh nhạy với âm thanh. Ngay từ 6-7 tháng, trẻ đã có
khả năng phản ững với âm thanh bằng cách vận động toàn thân. Lúc sơ sinh phản ứng
với âm thanh qua cử động chớp mắt, rùng mình… Trẻ có thể nghe thấy âm thanh mà
người lớn không nghe thấy. Chính điều này giúp trẻ tiếp nhận âm thanh một cách nhẹ
nhàng tự nhiên. Càng lớn, khả năng phẩn ứng với âm thanh càng tăng. Trẻ đi vào cảm
nhận tính chất âm nhạc của tác phẩm, đi sâu vào tìm hiểu tính hình tượng trong các tác
phẩm âm nhạc, nó giúp cho trẻ cảm nhận tác phẩm sâu sắc hơn, tinh tế hơn.
Cùng với sự phát triển của hệ vận động, hệ thần kinh của trẻ cúng phát triển.
Khả năng tập trung chú ý của trẻ tăng lên 15-20 phút. Điều này làm tăng khả năng
nghe nhạc của trẻ, thời gian chú ý nghe dài hơn và liền mạch hơn. Bên cạnh đó việc
phát triển trí tuệ tạo điều kiện cho việc nghe nhạc của trẻ có chiều sâu, có sự tư duy,
phân tích, nâng cao hiệu quả nghe nhạc lên rất nhiều.
Cấu tạo cơ quan phát âm của trẻ có sự khác biệt với người lớn: khe âm thanh và
thanh đới ngắn nên giọng trẻ thường là giọng thanh. Giọng thanh giúp cho trẻ tiếp
nhận các cao độ của âm nhạc dễ dàng hơn. Trẻ không gặp khó khăn khi hát các nốt cao
và sự thay đổi cao độ bất thường của bản nhạc. Tuy nhiên, các bản nhạc sáng tác cho
trẻ thường là các bản nhạc đơn giản phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ.
19
19
19
1.6 Khả năng nghe nhạc của trẻ 5-6 tuổi
Sự nhạy cảm và nghe ở trẻ phát triển từ rất sớm và tiếp tục được phát triển trong
suốt quá trình giao tiếp và hoạt động âm nhạc. Dưới sự tác động ngôn ngữ của nhưng
người xung quanh, trai trẻ tinh hơn, trẻ phân biệt được các dấu trong tiếng nói, sắc thái
của âm thanh trong lời nói. Độ nhạy cảm về tai nghe giúp trẻ phân biệt độ cao, thấp của
•
Ru em – Dân ca Xê Đăng
20
20
20
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Trống cơm – Dân ca quan họ Bắc Ninh
Mưa rơi – Dân ca xá
Lí con sáo Gò Công – Dân ca Nam Bộ
Xe chỉ luồn kim – Dân ca quan họ Bắc Ninh
Cái bống – Lời đồng dao, nhạc Phan Trần Bảng
Bà còng đi chợ trời mưa – Lời đồng dao, nhạc Phạm Tuyên
học vỡ long về văn hóa dân tộc”. Thật vậy, các bài hát dân ca không chỉ cung cấp cho trẻ
những tri thức về giai điệu âm nhạc, về lời ca và nhịp điêuh dân tộc mà thông qua các bài
hát trẻ còn nhận ra được sự đùm bọc, che chở, nhận được tình cảm của bà, của mẹ, của
mọi người với niềm tin cậy thật sự để rồi từ đó tạo cho trẻ sự cân bằng, yên ổn về tâm lý,
góp phần to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân các một cách toàn diện.
21
21
21
•
Nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc cho trẻ
Tạo điều kiện cho trẻ có đời sống âm nhạc phong phú, nâng cao kỹ năng âm nahcj
cho trẻ. Hát, múa nhuần nhuyễn các bài hát, đặc biệt là những bài hát dân ca.
Trong việc giáo dục long yêu thích âm nhạc cho trẻ thì âm nhạc dân gian đóng vai
trò hết sức quan trọng. Trong đó, không thể kể đến nhạc dân ca. Dân ca thường bắt nguồn
từ tiếng nói chung của dân tộc. Có thể nói những bài hát dân gian của mỗi dân tộc được
sáng tác ra đều dựa trên đặc điểm riêng của từng tiếng nói khác nhau. Dân ca là tiếng nói
tình cảm đằm thắm và hồn nhiên của nhân dân. Những cái hay, cái đẹp của dân tộc từ đời
này sang đời khác theo các làn điệu dân ca đã tác động đến nhiều thế hệ, hun đúc, hình
thành cho các em một tâm hồn Việt.
•
Phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn hiểu biết về môi trường xung quanh
Việc cho trẻ tiếp xúc với các bài hát dân ca góp phần rất quan trọng trong việc phát
triển ngôn ngữ nói chung và phát triển vốn từ nói riêng. Khi tiếp xúc với các bài hát dân
ngữ đặc thù riêng của mình là những âm thanh biểu cảm, dân ca không chỉ mang lại
những cảm xúc, những xúc động mạnh mẽ, niềm vui sướng trong đời sống tinh thần
của trẻ mà còn giúp trẻ mở rộng thêm tầm hiểu biết về thế giới, về con người.
Việc sử dụng các biện pháp tổ chức nhằm nâng cao hứng thú trong hoạt động
nghe dân ca trong GDAN trên hoạt động học của GV rất quan trọng để thực hiện mục
tiêu và nội dung đã đề ra dưới các hình thức khác nhau. Đây là vấn đề mà tôi quan tâm
và là cơ sở quan trọng để đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi trong hoạt động nghe dân ca.
23
23
23
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ MỨC ĐỘ HỨNG THÚ CỦA TRẺ 5-6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG NGHE DÂN CA
2.1. Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng dạy trẻ 5-6 tuổi nghe nhạc dân ca của giáo viên ở một số
trường mầm non, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú cho trẻ
trong hoạt động nghe dân ca.
2.2. Nội dung điều tra
- Tìm hiểu chương trình cho trẻ nghe nhạc dân ca ở trường mầm non.
- Những phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức của giáo viên trong hoạt
động nghe dân ca.
- Quan điểm của giáo viên về vai trò của hoạt động nghe nhạc nói chung và
nghe dân ca nói riêng.
- Những thuận lợi và khó khăn về trình độ, cơ sở vật chất trong quá trình dạy
nghe dân ca.
Trong suốt quá trình trẻ nghe nhạc dân ca đòi hỏi trẻ cần phải hứng thú và tích
cực tham gia. Và đây còn được hiểu là đòi hỏi trẻ phải tập trung, chú ý và tích cực hoạt
động trong suốt quá trình thì kết quả của hoạt động mới đạt hiệu quả cao và đạt được
-
tính mục đích đã đề ra.
Trẻ hứng thú trong suốt quá trình: 2 điểm (Giỏi)
Trẻ hứng thú khoảng 1/3 đến 2/3 thời gian hoạt động, đôi khi trẻ mất tập trung :1,5
-
điểm (Khá)
Trẻ hứng thú khoảng 1/3 thời gian hoạt động và mất tập trung nhiều lần: 1 điểm (TB)
Trẻ không hứng thú toàn bộ quá trình và cần có sự động viên, khuyến khích của giáo
viên: 0,5 điểm (Yếu)
Tiêu chí 3: Trẻ bộc lộ cảm xúc qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ ( 3đ)
- Trẻ hứng thú, bộc lộ cảm xúc của mình qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ: 3 điểm (Giỏi).
- Trẻ hứng thú nhưng chưa bộc lộ tốt cảm xúc của mình, chưa biết thể hiện cảm
xúc qua cử chi, điệu bộ: 2 điểm (Khá)
- Trẻ chú ý, bộc lộ cảm xúc chưa tốt, chưa thật sự hứng thú: 1điểm (TB)
- Trẻ không hứng thú, không bộc lộ được cảm xúc của mình: 0,5 (Yếu)
Tiêu chí 4: Trẻ biết nhận xét và cảm thụ tác phẩm thông qua tính chất âm
nhạc: mạnh - nhẹ, nhanh – chậm, âm sắc nhạc cụ, sắc thái của bản nhạc ( 3đ)
- Trẻ biết nhận xét và cảm thụ tác phẩm thông qua tính chất âm nhạc: mạnh nhẹ, nhanh – chậm, âm sắc nhạc cụ, sắc thái của bản nhạc: 3 điểm (Giỏi)
- Trẻ biết nhận xét và cảm thụ tác phẩm những chưa biết diễn đạt một cách đầy
đủ, trọn vẹn: 2 điểm (Khá)
- Trẻ cảm thụ âm nhạc nhưng chưa biết cách nhận xét, còn cần sự hướng dẫn,
gợi ý của cô: 1,5 điểm (TB)
- Trẻ không cảm thụ được tác phẩm, không biết thế nào là tính chất âm nhạc:
mạnh - nhẹ, nhanh – chậm, âm sắc nhạc cụ, sắc thái của bản nhạc: 0,5 điểm ( Yếu)