TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA GIỜ KỂ
CHUYỆN Ở TRƢỜNG MẦM NON HOA PHƢỢNG,
THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục
Sơn La, tháng 5 năm 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA GIỜ KỂ
CHUYỆN Ở TRƢỜNG MẦM NON HOA PHƢỢNG,
THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Vân Anh
Sơn La, tháng 5 năm 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa Tiểu học – Mầm non
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Thông tin chung
Tên đề tài: Đề xuất một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
thông qua giờ kể chuyện ở Trường Mầm non Hoa Phượng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn
La.
Sinh viên thực hiện:
1. Nguyễn Vân Anh
2. Lường Thị Hải
3. Lò Thị Thu Nga
4. Hà Thị Dình
Lớp: K56 ĐHGD Mầm non
Khoa: Tiểu học – Mầm non
Năm thứ: ba
Số năm đào tạo: 4 năm
Người hướng dẫn: Ths. Khổng Cát Sơn
2. Mục tiêu đề tài
- Xác định các câu chuyện đang được thực hiện ở trường mầm non.
- Triển khai hình thức tổ chức hoạt động câu chuyện qua việc soán giáo án nhằm phát
triển ngôn ngữ, qua đó hình thành kỹ năng nói của trẻ mẫu giáo lớn 5 -6 tuổi.
………………………………………………………….…………………………
Ngày…..tháng…..năm 2018
Xác nhận của Khoa
(kí và ghi rõ họ, tên)
Ngƣời hƣớng dẫn
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa: Tiểu học – Mầm non
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. SƠ LƢỢC VỀ SINH VIÊN
Họ về tên: Nguyễn Vân Anh
Sinh ngày 18 tháng 06 năm 1997
Nơi sinh: Ngã Ba – Mường Cơi – Phù Yên – Sơn La
Lớp: K56 ĐHGD Mầm non
Khóa: 2015- 2019
Khoa: Tiểu học – Mầm non
Địa chỉ liên hệ: Ngã Ba – Mường Cơi- Phù Yên – Sơn La
Số điện thoại: 01663673027
Email:
2. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ nhất năm
đang học )
* Năm thứ 1:
Hoa Phượng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện cho chúng em thực hiện
và hoàn thành đề tài.
Xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, những người luôn động viên, giúp đỡ chúng
em thực hiện đề tài này.
Sơn La, tháng 5 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Vân Anh
Lường Thị Hải
Lò Thị Thu Nga
Hà Thị Dình
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ..........................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...........................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................3
3.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ...............................................................................................3
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ................................................................................3
4.1. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................3
4.2. Đối tượng nghiên cứu ...............................................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................4
5.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận ...............................................................................4
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn ...........................................................................4
5.3. Phương pháp thể nghiệm sư phạm ...........................................................................4
6. Giả thuyết khoa học .....................................................................................................4
7. Cấu trúc của đề tài .......................................................................................................4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ..............6
1.1. Cơ sở lí luận..............................................................................................................6
3.1.3. Tiến hành thực nghiệm ........................................................................................47
3.3. Kết quả thể nghiệm .................................................................................................48
Tiểu kết chương 3 ..........................................................................................................51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................................................................52
1. KẾT LUẬN ...............................................................................................................52
2. KIẾN NGHỊ ...............................................................................................................53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong đời sống con người. Nhờ ngôn ngữ mà con
người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm,
tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín.
Ngôn ngữ tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội. Bằng
ngôn ngữ, con người có thể nắm được tri thức, kĩ năng, thành tựu khoa học,lịch sử con
người. Nhờ ngôn ngữ mà con người khác so với động vật. Ngôn ngữ được mở rộng
trong quá trình sống. Ngôn ngữ liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống nên được
biểu hiện ở nhiều góc độ khác nhau. Nhờ có ngôn ngữ mà con người gần gũi, hòa nhập
hơn.
Ngôn ngữ là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy. Trẻ em có nhu
cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh. Đặc biệt, sự phát triển ngôn ngữ
trong những năm đầu đời của trẻ có vai trò rất quan trọng đối với khả năng tư duy,
nhận thức và giao tiếp cũng như toàn bộ quá trình phát triển sau này của trẻ.Ngôn ngữ
là phương tiện để trẻ điều khiển thái độ, hành vi, đạo đức giúp trẻ lĩnh hội giá trị đạo
đức mang tính chuẩn mực.
Trẻ càng lớn nhu cầu hiểu biết cành nhiều, đặc biệt là trẻ ở độ tuổi mẫu giáo
nhỡ (5 - 6 tuổi) trẻ đang cần được học một cách chính xác. Ở độ tuổi này trẻ rất thích
Zaporojets, M.M. konxova,…
* V. X MuKhina với Tâm lí học mẫu giáo: MuKhina nghiên cứu về tâm lí trẻ
em trong độ tuổi mẫu giáo, để thấy sự phát triển tâm lí trẻ em qua các giai đoạn trong
độ tuổi mẫu giáo nhằm giúp nhà nghiên cứu đưa ra biện pháp phát triển toàn diện cho
trẻ dựa trên cơ sở tâm lí của trẻ.
* Erik Erickson với Trẻ em và xã hội nghiên cứu về sự phát triển của trẻ em,
cách đối xử và giáo dục trẻ.
* John B. Watson với Chăm sóc sức khỏe cho trẻ sơ sinhvà trẻ nhỏ từ khi mới
sinh và cách chăm sóc chúng.
*A. B. Zaporojets với Cơ sở tâm lí học của giáo dục mẫu giáo những nghiên
cứu chuyên biệt của trẻ nhỏ từ mới sinh đến 6 tuổi.
* M. M. konxova với Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học đưa ra các hình thức
biện pháp để dạy trẻ nói trước khi vào tuổi đi học. Tác phẩm đã giúp các nhà nghiên
cứu, các bậc phụ huynh có những định hướng và chọn lựa cho mình biện pháp dạy nói
phù hợp với từng trẻ.
Ở Việt Nam vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng được đông đảo các nhà
giáo dục quan tâm và đi vào nghiên cứu.
2
Các tác giả Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với Phương
pháp phát triển ngôn ngữ, đưa ra các phương pháp giúp trẻ tăng vốn từ nhằm định
hướng để chúng ta đưa ra các biện pháp giúp trẻ phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ.
Các tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Hoàng Gia, Đoàn Thị Tâm với Tâm lí
của trẻ em lứa tuổi mầm non đã nghiên cứu sự phát triển tâm lí trẻ qua các giai đoạn
lứa tuổi để từ đưa ra biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Luận án Phó Tiến sĩ của Lưu Thị Lan: Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ
từ 1-6 tuổi.
Luận án TS. Nguyễn Thị Oanh với đề tài: Cơ sở của việc tác động sư phạm đến sự
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
Đọc sách báo và thu thập tài liệu liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu để xây
dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Dùng phiếu điều tra Anket để điều tra kết hợp trao đổi thông tin có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu với các giáo viên ở trường mầm non, nhằm phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mầm non thông qua giờ học kể chuyện.
- Sử dụng phương pháp quan sát nhằm quan sát những hoạt động của trẻ để đưa
ra các phương pháp hợp lí đối với sự phát triển tâm sinh lí cúa trẻ mẫu giáo.
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học.
5.3. Phƣơng pháp thể nghiệm sƣ phạm
Sử dụng phương pháp tác động đến 1 nhóm trẻ được chọn để thực nghiệm.
6. Giả thuyết khoa học
Qua việc khảo sát trên thực tế cùng với việc nghiên cứu lí luận chúng tôi nhận
thấy mức độ phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) ở trường mầm non
hiện nay đang từng bước phát triển. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế như: còn chưa
gây được hứng thú cho trẻ, eo hẹp về thời gian tổ chức hoạt động giờ học nên chưa đạt
được hiệu quả cao. Bởi vậy, các biện pháp trong đề tài mang tính khả thi sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua giờ học kể chuyện,
góp phần vào sự nghiệp đổi mới giáo dục.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung đề tài
gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn vấn đề nghiên cứu
Chương này chúng tôi đề cập đến những cơ sở lí luận về ngôn ngữ của trẻ mẫu
giáo, cụ thể là trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi), đặc biệt phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông
qua giờ học kể chuyện.
Chương II: Tổ chức hoạt đông vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
4
biên về nghĩa vì nó trực tiếp gọi tên các sự vật hiện tượng thực tế, còn ngữ âm phụ
thuộc vào ngoại biên về chất liệu vì nó trực tiếp được tích lũy bởi các giác quan của
con người. So với ngữ âm và từ vựng thì ngữ pháp luôn luôn là gián tiếp, không có
tính chất cụ thể. Nó chỉ liên hệ với thực tế thông qua từ vựng, chỉ lĩnh hội được thông
qua ngữ âm. Vì vậy, ngữ pháp chiếm vị trí trung tâm trong kết cấu ngôn ngữ.
b. Các đơn vị của ngôn ngữ
* Âm vị: Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất mà người ta có thể phát âm ra được
trong chuỗi lời nói. Ví dụ như âm r, t, h,…hoàn toàn không thể chia nhỏ chúng hơn.
Âm vị có chức năng nhận cảm và chức năng phân biệt nghĩa.
Ví dụ: “ Hổ” là một loài động vật ăn thịt, sống trong rừng, còn “ Rổ” là một vật
dụng dùng để dùng trong gia đình. Cái làm ta phân biệt được hai nghĩa đó không phải
là bộ phận ngữ âm trùng nhau (ổ) mà là do đối lập giữa “h” và “r”.
*Hình vị: là một hoặc chuỗi kết hợp vài âm vị biểu thị một khái niệm. Nó là
đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Chức năng của hình vị là chức năng ngữ nghĩa. Hình vị
6
thường có cấu tạo một âm tiết, tức là mỗi hình vị được viết thành một chữ. Hình vị
trong Tiếng Việt có thể đóng vai như một từ nhưng nó không phải là từ gồm hình vị
và âm tiết.
* Từ là chuỗi kết hợp của một hoặc một vài hình vị mang chức năng gọi tên và
chức năng ngữ nghĩa.
* Câu là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ, chức năng của nó là thông báo.
c. Chức năng của ngôn ngữ
* Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức. Quá trình hình thành của
trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công cụ để phát triển tư duy, trí tuệ là ngôn ngữ.
Ngôn ngữ chính là hiện thực của tư duy. Chức năng giáo tiếp của ngôn ngữ gắn liền
với chức năng thể hiện tư duy của nó bởi vì việc giao tiếp ngôn ngữ chỉ có thể giúp
ta trao đổi tư tưởng, tình cảm với nhau. Do đó hiểu biết lẫn nhau và cùng tổ chức
năng giao tiếp ngôn ngữ được hình thành.
*Ngôn ngữ viết
Trẻ luyện viết là hoạt động hứng thú và tự giác. Chính vì vậy, khi dạy viết cho
trẻ quan trọng nhất là giải thích để trẻ hiểu được mục đích của việc luyện viết. Giáo
viên mầm non chỉ khuyến khích cho trẻ nhận thức được tầm trọng của chữ viết. Trẻ sẽ
tự giác ngồi vào vẽ chữ, khi bắt đầu có hứng thú với chữ viết, cô nên chuẩn bị dụng cụ
để giúp trẻ luyện viết tại góc học tập.
1.1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ
* Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế
giới xung quanh.
Trong quá trình nhận thức những sự vật và hiện tượng, trẻ phải sử dụng từ ngữ
để phân biệt được vật này với vật khác, biết được tên gọi, màu sắc, hình dạng, công
dụng và những thuộc tính cơ bản của vật. Trẻ tiếp thu kiến thức từ môi trường xung
quanh thông qua khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp, trên cơ sở đó trẻ khái quát về
vật. Trẻ không chỉ nhận biết các sự vật hiện tượng xung quanh gần gũi, mà còn tìm
hiểu những sự vật hiện tượng không xuất hiện trực tiếptrước mắt trẻ, những sự vật xảy
ra trong quá khứ, tương lai. Như vậy, ngôn ngữ không chỉ giúp cho trẻ củng cố kiến
thức mà còn mở rộng biết về thế giới xung quanh.
Hầu như trẻ thơ đều có một tâm hồn nhạy cảm. Đối với các em, thế giới xung
quanh chứa đựng biết bao nhiêu điều mới lạ, hấp dẫn như trong những cái tưởng
chừng bình thường và giản dị thì các em cũng phát hiện ra những điều lí thú. Ngôn
ngữ giúp trẻ tìm hiểu về chính mình, về con người và khám phá những sự vật xung
quanh cũng như biến cố xảy ra trong cuộc sống, hay các hiện tượng xung quanh như
nắng, mưa, nóng, lạnh,… Qua đó trẻ có thể nhận biết về môi trường xung quanh. Nhờ
có ngôn ngữ trẻ nhận biết được ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng từ đơn giản đến
8
phức tạp mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày, giúp trẻ hình thành, phát
9
Đặc biệt là qua lời ru, mẹ đã dạy cho con nghệ thuật âm nhạc, thơ ca dân tộc để
con biết yêu vẻ đẹp của thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước, yêu bà con làng xóm,
truyền cho con những ý niệm cơ bản về thiện ác. Ngay cả những lúc nựng con thì đây
là cuộc trò chuyện đằm thắm nhất, đầy yêu thương và lòng tin cậy, trong đó người mẹ
đã nói với con bằng cả tấm lòng.
Ngôn ngữ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượng của trẻ.
Nó tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp
và hiểu đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên, đời sống, xã hội, trong nghệ thuật.
Khi trẻ thường xuyên tiếp xúc với văn học như thơ, truyện, ca dao, đồng dao,…
trẻ sẽ được chìm vào thế giới đa màu sắc với biết bao nhiêu loại người khác nhau. Tâm
hồn của các em sẽ được mở rộng, trí tưởng tượng được kích thích mạnh mẽ, thôi thúc
các em muốn khám phá những điều kì lạ và lí thú trong các câu chuyện hết sức hấp
dẫn. Những câu thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, những bài đồng dao ngộ nghĩnh có điệp
khúc hấp dẫn, dễ nhớ khiến trẻ muốn đọc theo và sẽ nhớ rất lâu. Đây là thời cơ thuận
lợi để trẻ tiếp xúc với ngôn ngữ văn học. Điều này giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng,
nó giúp trẻ sáng tạo những cái mới, hình thành những ước mơ táo bạo, những hoài bão
về cuộc sống tương lai.
*Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên
của cộng đồng.
Ngay từ lúc đầu, đứa trẻ không thể cảm nhận những gì diễn ra xung quanh
nó.Để thỏa mãn sự hiểu biết đó mà nó thường đặt ra hàng vạn câu hỏi cho bố mẹ và
mọi người xung quanh. Vì thế, người lớn trở thành chiếc cầu nối trẻ với cộng đồng,
với thế giới thông qua ngôn ngữ. Và điều đó đã giúp trẻ hòa nhập hơn với mọi
người xung quanh.
*Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thể lực cho trẻ.
Trong cuộc sống hàng ngày, cô giáo và người lớn đã dùng ngôn ngữ của mình
được các loại từ có trong tiếng mẹ đẻ và đủ để trẻ có thể diễn đạt các mặt trong đời
sống hàng ngày. Khả năng nắm bắt nghĩa của các từ phát triển hơn… Các từ chỉ tính
chất không gian (rộng lớn, mênh mông,.. ); từ chỉ tốc độ (nhanh, chậm dần,…); từ chỉ
màu sắc (xanh, nhạt, phơn phớt hồng,…) đã được trẻ sử dụng chính xác. Ngoài ra, các
loại từ khác như đại từ, trạng từ, quan hệ phụ từ, phụ từ cũng được trẻ sử dụng nhiều
hơn các lứa tuổi trước.
+ Trẻ đã nắm được ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng ngôn ngữ: Do việc giao
tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, thính giác của trẻ được rèn luyện thường xuyên để
tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói cơ quan phát âm đã trưởng thành mà trẻ
11
có thể phát ra âm chuẩn, kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ như “quềnh
quàng”,”khúc khuỷu”…
+ Nắm cơ cấu ngữ pháp: Với điều kiện sống và giáo dục tốt, trẻ em ở cuối tuổi
mẫu giáo (5 – 6 tuổi) đã có thể sử dụng ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ một cách thành
thạo, mặc dù quá trình đó diễn ra không có ý thức, khác với quá trình học ngữ pháp
một cách có ý thức ở trường phổ thông. Điều đó được thể hiện trong câu nói của trẻ
có cấu trúc ngữ pháp phức tạp, nội dung biểu hiện cũng phong phú hơn nhiều so
với lứa tuổi trước.
1.1.3. Đặc điểm tâm lý của trẻ 5- 6 tuổi
1.1.3.1. Trẻ em rất giàu xúc cảm, tình cảm
Cảm xúc là những rung cảm xảy ra nhanh chóng, nhưng mạnh mẽ và rõ rệt hơn
so với màu sắc xúc cảm của cảm giác. Nó mang tính chất khái quát và được chủ thể ý
thức ít nhiều rõ rệt hơn với màu sắc, xúc cảm của cảm giác.
Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những
sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ.
Xúc cảm, tình cảm là nét tâm lý nổi bật của trẻ thơ, đặc biệt là trẻ lứa tuổi mẫu
giáo. Nhìn chung ở lứa tuổi này, tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt động tâm
nhiên trong truyện mầm non là một thiên nhiên trong trẻo kì diệu và đầy chất thơ.
Có thể tìm thấy trong các tác phẩm văn chương những từ ngữ chính xác biểu
cảm, những câu chuyện có nhịp điệu uyển chuyển, những bức tranh thiên nhiên đầy
màu sắc.
Du ngoạn trong thế giới truyện giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng,kích thích tư
duy sáng tạo, giáo dục tinh thần nhân đạo, tinh thần đấu tranh, bảo vệ người tốt và
trừng phạt kẻ xấu,… Quả thật các tác phẩm truyện đến với tâm hồn trẻ như một sự tự
nhiên tất yếu, nó là những tình cảm trong trẻo hồn nhiên nhất, đồng thời cũng rất chân
thành và mãnh liệt.
Viết về thiên nhiên không chỉ là để nói về thiên nhiên. Dưới cái nhìn của tác
giả, hầu như tất cả các hình ảnh về giới tự nhiên đều là biểu trưng cho tinh thần đấu
tranh, lao động sản xuất của con người nông thôn.
Các tác phẩm truyện còn đem đến cho các em tình cảm nồng hậu đối với ông
bà, cha mẹ, anh em, bạn bè, thầy cô, với những người lao động vất vả, với những chú
bộ đội,…
1.1.3.2. Trẻ rất giàu trí tƣởng tƣợng
Tưởng tượng là một quá trình tâm lí phản ánh những cái chưa từng có trong
kinh nghiệm của mỗi cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở
những biểu tượng đã có.
13
Không bao giờ tác giả nhìn sự vât một cách đơn giản nhất, trần trụi mà luôn
luôn phát hiện ra những mối liên hệ của chúng hoặc liên tưởng tới những hình ảnh
tương đồng khác để từ đó khái quát lên một cái gì đó cao hơn.
Nét nổi bật trong tâm lí của trẻ lứa tuổi mẫu giáo là sự phong phú về trí tưởng
tượng. Sức tưởng tưởng của các em dường như vô bờ bến. Chúng dùng trí tưởng tượng
để khám phá thế giới và thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình. Trí tưởng tượng là một
phần quan trọng của quá trình tâm lí, nó góp phần tích cực vào hoạt động tư duy và
thông qua lời kể của nhà văn. Để được gọi là một “truyện”, tác phẩm cần có hai yếu
tố: nhân vật và sự kiện.
Kể chuyện hay tự sự là bất kỳ sự tường thuật nào để kết nối các sự kiện, trình
bày cho người đọc hoặc người nghe bằng một chuỗi câu viết hoặc nói, hoặc một chuỗi
hình ảnh,… Tự sự có thể được sử dụng như một từ đồng nghĩa của “tường thuật”.
Kể chuyện diễn cảm là hoạt động tái hiện lại một câu chuyện từ văn bản ngôn
từ, thành một bức tranh sinh động diễn ra trong hình dung của trẻ, trong tưởng tượng
của trẻ, trước mặt trẻ.
Kể chuyện diễn cảm: còn là sử dụng giọng điệu, kết hợp với các yếu tố ngôn
ngữ cơ thể như: biểu lộ cử chỉ, biểu lộ trên nét mặt. Và phương tiện hỗ trợ dạy họctrực
quan, để thực hiện hoạt động tái hiện lại tác phẩm truyện.
1.1.4.2. Phân loại truyện
Truyện của mẫu giáo rất đa dạng và phong phú nhưng thường hay sử dụng nhất là:
* Truyện dân gian: thần thoại, ngụ ngôn, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười.
* Truyện hiện đại: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài.
* Truyện cổ tích mới.
* Truyện đồng thoại.
1.1.4.3. Đặc điểm kể chuyện diễn cảm của trẻ em
Hơn bất cứ loại hình nghệ thuật nào, văn học có khả năng đến với con người
sớm nhất và dễ đi vào lòng người nhất, nhất là thể loại truyện. Vấn đề cảm thụ và tiếp
nhận tác phẩm truyện của trẻ em lứa tuổi mầm non đã được nhiều nhà tâm lí và sư
phạm nghiên cứu. Đặc điểm tâm lí với xúc cảm, tình cảm, lối tư duy cụ thể của trẻ
chính là cơ sở của việc tiếp nhận các tác phẩm truyện của lứa tuổi này.
Trẻ em ngay từ khi mới lọt lòng đã có những biểu hiện của xúc cảm, tình cảm.
Đó là thái độ của con người trực tiếp thể nghiệm đối với sự vật và hiện tượng trong thế
giới xung quanh và đối với bản thân, được biểu hiện bằng những rung cảm. Nhất là trẻ
từ 3 - 6 tuổi đã bắt đầu nói chuyện và kể chuyện có ngữ điệu. Ở độ tuổi này, chúng ta
có thể nhận thấy trẻ có khả năng kể chuyện rõ ràng, dễ hiểu, nội dung chuyện kể có
thứ tự trước sau. Càng về cuối tuổi mẫu giáo, trẻ kể chuyện diễn cảm sẽ càng rõ ràng,
nhấn mạnh vào các tính từ, từ láy để thể hiện sự hồi hộp, không nói thành lời để trẻ có
thể cảm nhận được cảm xúc cảm các nhân vật trong câu chuyện.
Do đó giáo viên cần nắm rõ các bước và cách tiến hành một hoạt động kể
chuyện như: nghiên cứu kỹ yêu cầu của giờ kể chuyện kể cả về kiến thức, kỹ năng vào
giáo dục đạo đức. Từ đó đưa ra phương pháp, hệ thống câu hỏi, đồ dùng phục vụ giờ
dậy đạt hiệu quả cao.
1.1.4.4. Vai trò của hoạt động kể chuyện đối với trẻ em
16
Mỗi câu chuyện có vai trò to lớn không gì có thể thay thế được trong việc hình
thành phát triển nhân cách trẻ một cách toàn diện. Việc cho trẻ em lứa tuổi mầm non
làm quen với tác phẩm văn học từ lâu đã được đặt ra như một nội dung, một phương
tiện vô cùng quan trọng trong chương trình giáo dục trẻ. Là loại hình nghệ thuật ngôn
từ, câu chuyện có khả năng đi vào lòng người một cách tự nhiên và sâu sắc. Có thể
nói, đó là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để hình thành và phát triển nhân
cách cho trẻ em một cách toàn diện.
V.G Biêlinxki đã từng nói: “Một cuốn sách viết cho thiếu nhi là để giáo dục, mà
giáo dục là một sự nghiệp vĩ đại, vì nó quyết định số phận con người” trong Giáo trình
phương pháp đọc, kể diễn cảm thơ, truyện cho trẻ em lứa tuổi mầm non phần 1. Tuy
nhiên, cũng không nên cực đoan mà cho rằng sau khi đọc xong, nghe xong một câu
chuyện là ngay lập tức các em có thể trở thành người tốt được. Nó tác động một cách
từ những giá trị nhân văn của nó thì có thể tạo nên sức mạnh, ảnh hưởng sâu sắc tới sự
hình thành và phát triển nhân cách cách của trẻ.
* Vai trò của hoạt động kể chuyện đối với việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ
thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng cái đẹp trong tự
nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp và
năng lực tạo ra cái đẹp.