ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Lê Tuấn Sỹ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MƢA AXIT ĐẾN SỰ SINH TRƢỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY ĐẬU TƢƠNG Glycine Max (L.) Merr.
Ở TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Lê Tuấn Sỹ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MƢA AXIT ĐẾN SỰ SINH TRƢỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY ĐẬU TƢƠNG Glycine Max (L.) Merr.
Ở TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. PHẠM THỊ THU HÀ
Lê Tuấn Sỹ
năm 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƢƠNG I ................................................................................................................ 4
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................................................. 4
1.1. Một số vấn đề chung liên quan đến mưa axit.......................................................4
1.1.1. Khái niệm mưa axit ........................................................................................... 4
1.1.2. Nguyên nhân, nguồn gốc và cơ chế gây ra mưa axit ........................................ 5
1.1.3. Tác hại của mưa axit ......................................................................................... 6
1.2. Tình hình mưa axit trên Thế giới và ở Việt Nam...............................................12
1.2.1. Tình hình mưa axit trên Thế giới .................................................................... 12
1.2.2. Tình hình mưa axit ở Việt Nam ...................................................................... 13
1.3. Một số nghiên cứu ảnh hưởng của mưa axit tới cây trồng trên Thế giới và ở
Việt Nam ...................................................................................................................16
1.3.1. Một số nghiên cứu ảnh hưởng của mưa axit tới cây trồng trên Thế giới ........ 16
1.3.2. Một số nghiên cứu ảnh hưởng của mưa axit tới cây trồng ở Việt Nam .......... 17
1.3.3. Một số nghiên cứu ảnh hưởng của mưa axit đến cây đậu tương .................... 18
1.4. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam................................19
1.4.1.Tình hình sản xuât đậu tương trên thế giới ...................................................... 19
1.4.2. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam ...................................................... 24
1.5. Tổng quan khu vực nghiên cứu ..........................................................................26
1.5.1. Tổng quan về tỉnh Hòa Bình .......................................................................... 26
1.5.2. Tổng quan về Huyện Yên Thủy – Tỉnh Hòa Bình .......................................... 29
1.5.3. Hiện trạng môi trường tỉnh Hòa Bình ............................................................. 31
CHƢƠNG 2.............................................................................................................. 32
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................... 32
3.7. Một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng của mưa axit tới cây đậu tương nói
riêng và hệ sinh thái nông nghiệp nói chung ............................................................64
3.7.1 Giải pháp hạn chế sự phát thải các chất khí gây mưa axit ............................... 64
3.7.2. Tác động vào một số chỉ tiêu nông học của cây ............................................. 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 68
Kết luận .....................................................................................................................68
Kiến nghị ...................................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 70
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Một cánh rừng thông ở Cezch bị phá hủy bởi mưa axit ............................. 8
Hình 1.2. Sự biến mất của động vật thân mềm và con trai khi độ pH giảm ............. 10
Hình 1.3. Các công trình, di tích lịch sử bị mưa axit ăn mòn ................................... 10
Hình 1.4. Đồ thị biểu diễn diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương trên thế giới . 20
Hình 1.5. Sản lượng đậu tương của 5 nước đứng đầu thế giới ................................. 21
Hình 3.1. Ảnh hưởng của mưa axit đến tỉ lệ nảy mầm của cây đậu tương ............... 44
Hình 3.2. Chiều dài thân cây đậu tương qua các giai đoạn phát triển ...................... 46
Hình 3.3. Ảnh hưởng của mưa axit đến chiều dài rễ của cây đậu tương .................. 49
Hình 3.4. Ảnh hưởng của mưa axit đến số nhánh của cây đậu tương ...................... 51
Hình 3.5a. Ảnh hưởng của mưa axit đến chỉ số diện tích lá của cây đậu tương ....... 54
Hình 3.5b. Tương quan giữa chỉ số diện tích lá và thành tố pH qua các giai đoạn .. 54
Hình 3.6a. Ảnh hưởng của mưa axit lên chỉ số SPAD của cây đậu tương ............... 54
Hình 3.6b. Tương quan giữa chỉ số SPAD và thành tố pH qua các giai đoạn .......... 58
Hình 3.7. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của cây đậu tương .................. 63
DANH MỤC BẢNG BIỂU
(Mạng lưới giám sát lắng đọng axit ở Đông Nam Á)
ECE:
United Nations Economic Commission for Europe
(Ủy ban Kinh tế Châu Âu)
FAO:
Food and Agriculture Organization of the United Nations
(Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)
KCN:
Khu công nghiệp
KTXH:
Kinh tế xã hội
NN&PTNT:
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
USDA:
United States Department of Agriculture
(Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ)
Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện mưa axit tại Việt Nam và tình hình
mưa axit chỉ xảy ra ở một số thành phố chứ không phải trên toàn bộ lãnh thổ Việt
Nam, chủ yếu ở những thành phố đông dân và tập trung nhiều khu công nghiệp.
Theo TS. Phạm Thị Thu Hà và nnk (2016) đã nghiên cứu về diễn biến mưa axit ở
Hòa Bình giai đoạn 2000 – 2014 [6], mưa axit (pH
3
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số vấn đề chung liên quan đến mƣa axit
1.1.1. Khái niệm mƣa axit
Mưa axit là hậu quả của quá trình phát triển sản xuất do con người tiêu thụ
nhiều than đá, dầu mỏ và các nhiên liệu tự nhiên khác. Mưa axit được phát hiện đầu
tiên vào năm 1872 tại Anh. Người ta đã thấy rằng: Mưa axit là sản phẩm của sự kết
hợp của các oxit phi kim (SOx - NOx) và nước. Phần lớn lượng oxit phi kim đến từ
việc con người tiêu thụ các nguồn nguyên liệu tự nhiên như than đá, dầu mỏ... cho
quá trình sống, phát triển sản xuất tạo ra lượng lớn khí độc hại là lưu huỳnh đioxit
(SO2) và nitơ đioxit (NO2) . Các khí thải này ngưng tụ trong bầu khí quyển, khi gặp
nước sẽ tạo ra những trận mưa chứa axit. Theo định nghĩa của Uỷ ban Kinh tế Châu
Âu (ECE) thì mưa có chứa các axit H2SO4 và HNO3 với pH ≤ 5,5 là mưa axit. Tuy
vậy, quy định về giá trị giới hạn của pH ứng với mưa axit ở những nước khác nhau
có khác nhau, ví dụ ở Mỹ quy định mưa axit là những trận mưa có pH ≤ 5,0 còn ở
Ấn độ, Inđônêxia, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam.... thì quy định những trận mưa
có pH < 5,6 là mưa axit. Hiện nay người ta đều thống nhất lấy giá trị pH = 5,6 (là
giá trị của dung dịch H2CO3 bão hòa trong nước cất) làm giới hạn quy định mưa
axit. Theo đó thì tất cả những cơn mưa có độ pH đo được của nước mưa < 5,6 đều
được xem là mưa axit [9].
Lắng đọng axit bao gồm hai hình thức: Lắng đọng khô và lắng đọng ướt. Lắng
đọng ướt có thể được thể hiện dưới nhiều dạng như mưa, tuyết, sương mù, hơi nước
có tính axit, còn lắng đọng khô bao gồm các khí, hạt bụi và sol khí có tính axit. Mưa
axit là một dạng thể hiện của lắng đọng axit ướt. Lắng đọng axit hiện đang là một
trong những vấn đề nhiễm bẩn môi trường quan trọng nhất không chỉ vì mức độ ảnh
hưởng mạnh mẽ của chúng tới cuộc sống của con người và các hệ sinh thái mà còn
3 nhóm: Nguồn điểm; nguồn vùng và nguồn đường. Nguồn điểm gồm: Các nhà
máy, các nhà máy điện, và bất kỳ những khu sản xuất nào có ống khói. Nguồn
vùng: Tương ứng với một khu công nghiệp (tập hợp nhiều cơ sở sản xuất khác
nhau). Nguồn đường: Gồm bất kỳ những gì có thể chuyển động và được chia ra
thành nguồn trên đường (ô tô, xe máy, xe tải…..) và nguồn không trên đường (Máy
5
bay, thuyền, máy kéo,…..). Nguồn điểm phát thải SO2 với lượng lớn nhất. Trong
đó, các nhà máy điện chạy than tạo ra nhiều ô nhiễm nhất.
1.1.2.2. Cơ chế gây ra mƣa axit
Cơ chế hình thành lên mưa axit từ các khí SO2 và NOx, các chất này từ các
nguồn khác nhau được thải vào bầu khí quyển. Trong khí quyển những chất này trải
qua nhiều phản ứng hóa học khác nhau, kết hợp với nước tạo thành các hạt axit
sunphuric (H2SO4), axit nitric (HNO3) và được biểu diễn bằng các phương trình
phản ứng sau:
- Lưu huỳnh:
S + O2 → SO2
Quá trình đốt cháy lưu huỳnh trong khí oxi sẽ sinh ra lưu huỳnh điôxít.
SO2 + OH· → HOSO2
Phản ứng hoá hợp giữa lưu huỳnh điôxít và các hợp chất gốc hiđrôxyl.
HOSO2· + O2 → HO2· + SO3
Phản ứng giữa hợp chất gốc HOSO2 và O2 sẽ cho ra hợp chất gốc HO2 và
SO3 (lưu huỳnh triôxít).
SO3(k) + H2O(l) → H2SO4
Lưu huỳnh triôxít SO3 sẽ phản ứng với nước và tạo ra axit sunphuric H2SO4.
Đây chính là thành phần chủ yếu của mưa axit.
- Nito:
N2 + O2 → 2NO;
sinh trưởng bình thường. Khi cây đã bị yếu, cây có thể trở nên dễ bị tổn thương bởi
các loại bệnh, côn trùng, thời tiết lạnh và có thể bị chết.
Theo các đánh giá, Thụy Điển mỗi năm tổn thất mất đến 4,5 triệu mét khối gỗ
do mưa axit gây ra. Năm 1984, Thụy Sĩ bị thiệt hại khoảng 12 triệu cây (14% diện
tích rừng cả nước), trong khi đó diện tích rừng bị mưa axit phá hủy ở Hà Lan là
40%. Sản lượng gỗ ở các khu vực rừng phía Đông Bắc nước Mỹ bình quân mỗi
năm mất 5% cũng là do tác động của mưa axit. Một nghiên cứu năm 1990 đã đánh
giá thiệt hại do mưa axit đối với rừng châu Âu là khoảng 30 tỷ USD/năm [28].
Mưa axit và các sự cố nghiêm trọng liên quan tới sự phát thải SO2 quá mức đã
làm giảm đáng kể năng suất, sản lượng cây trồng. Ở Trung Quốc, mỗi năm mua axit
7
gây thiệt hại tới 5,3 tấn lương thực, đặc biệt tại tỉnh Hồ Nam mua axit đã làm mùa
màng bị thất thu và thiệt hại ước tinh lên đến 260 triệu USD [25].
b. Ảnh hưởng tới đất:
Làm cho đất mặn hóa: Mưa axit hòa tan các khoáng ít tan trong đất, đẩy nhanh
quá trình phong hóa khoáng, tăng nhanh tổng số muối tan trong đất làm cho đất mặn
hóa.
Làm mất dinh dưỡng đất: Mưa axit rửa trôi các cation kiềm, kiềm thổ trong
đất làm cho đất trở nên chua dần, không thích hợp cho hoạt động của các vi sinh vật
hữu ích. Các cation kiềm bị rửa trôi làm cho độ bão hòa bazơ của đất ngày một
giảm xuống, đất mất dần độ phì nhiêu. Nếu độ bão hòa bazơ xuống quá thấp,
khoáng sét sẽ bị phá hủy. Cation kiềm tiếp tục bị rửa trôi, môi trường quá chua
khoáng sét biến thành hydragilit và SiO2 thứ sinh làm mất dần chất dinh dưỡng của
đất.
Giải phóng các kim loại độc hại: Đất có hàm lượng kim loại nặng cao khi gặp
điều kiện môi trường kiềm các kim loại nặng trở nên không linh động nên không
phát tác được và chưa gây tác động tiêu cực đến cây cối cũng như con người và
khi ốc sên nhạy cảm hơn đối với sự thay đổi pH.
Số lượng cá thể
Động vật thân mềm
Con trai
Hình 1.2: Sự biến mất của động vật thân mềm và con trai khi độ pH giảm [37].
Axit sunphuric trong nước mưa ô nhiễm cản trở khả năng trao đổi chất của cá
trong việc hấp thụ oxy, muối và chất dinh dưỡng. Đối với cá nước ngọt, việc duy trì
khả năng giữ cân bằng giữa muối và khoáng chất trong tế bào sinh vật là vô cùng
cần thiết cho sự tồn tại. Phân tử axit có thể tạo ra một lớp nước nhầy trong mang cá
9
và cản trở cá trong quá trình hấp thụ oxy. Tương tự, độ pH thấp sẽ làm mất cân
bằng muối trong tế bào cá. Mức canxi của một số loài cá không được duy trì do sự
thay đổi độ pH. Điều này dẫn tới một vấn đề trong quá trình sinh sản: trứng dễ vỡ
và yếu. Thiếu canxi dẫn tới các loại cá bị biến dạng xương và xương sống yếu.
Khi mưa axit chảy qua đất trồng trọt, nó mang theo phân bón vào nước mặt.
Phân bón tạo điều kiện thuận lợi cho tảo phát triển bởi sự gia tăng hàm lượng nitơ
có trong đó, tiếp theo sẽ xảy ra hiện tượng “Phú dưỡng”. Lượng ion nhôm được giải
phóng sẽ theo dòng nước đi vào các thuỷ vực nước mặt, tại đây chúng tiếp tục gây
hại cho thuỷ sinh vật.
Việc tăng hay giảm số lượng của một số loài không phụ thuộc một cách trực
tiếp vào sự axit hóa (độ pH thấp hay nồng độ cao của ion nhôm hòa tan), nhưng có
một ảnh hưởng gián tiếp đến sự biến mất của các loài cá. Sự có mặt của một loài cá
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phân bố các loài trong hồ. Sự axit hóa nước hồ cũng
ảnh hưởng đến đời sống của các loài chim. Các loài chim ăn cá, cò, vịt trời, chim
ưng sẽ phải chịu những áp lực trong việc kiếm mồi, trong khi đó, các loài chim ăn
4Fe2+ + H2SO4(loãng) + O2(khí) + 4H2O(lỏng) 2Fe2O3(rắn)+ 8H+ + SO42-(loãng)
Việc sửa chữa các công trình và đài kỷ niệm có thể đòi hỏi một chi phí rất cao.
Ở Westminster, Anh, người ta đã phải chi đến mười triệu bảng để sửa chữa những
thiệt hại do mưa axit gây ra. Vào năm 1990, Mỹ đã sử dụng 35 tỉ đô la cho những
thiệt hại về sơn. Năm 1985, người Đức đã phải bỏ ra 20 triệu đôla để sửa chữa nhà
thờ lớn Cologne do những thiệt hại của mưa axit.
1.1.3.4. Ảnh hƣởng của mƣa axit tới sức khoẻ của con ngƣời
Mưa axit có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người. Nó có thể làm hại
chúng ta thông qua khí quyển hoặc thông qua đất mà từ đó thức ăn của chúng ta
được trồng và tiêu thụ. Mưa axit làm cho các kim loại độc hại được giải phóng từ
các hợp chất hoá học tự nhiên. Các kim loại độc hại sẽ đi vào nguồn nước uống,
lương thực hay động vật mà con người sử dụng. Những thức ăn bị nhiễm độc khi
được ăn có thể gây ra tổn hại thần kinh của trẻ em hay tổn hại bộ não nghiêm trọng,
thậm chí dẫn tới chết.
Một trong những ảnh hưởng nghiêm trọng của mưa axit đến con người là
những vấn đề về đường hô hấp. Sự phát thải SO2 và NOx gây ra những nguy cơ tới
vấn đề về hô hấp như khô họng, bệnh hen, đau đầu, mắt, mũi và rát họng. Nước
mưa bị ô nhiễm đặc biệt có hại cho những người bị bệnh hen suyễn hay những
người khó thở. Nhưng ngay cả những người khoẻ cũng bị tổn hại về phổi bởi những
chất ô nhiễm không khí có tính axit. Mưa axit có thể làm giảm khả năng thở và có
thể làm tăng những loại bệnh nguy hiểm. NOx bản thân nó là một khí nguy hiểm,
loại khí này tấn công lớp màng của cơ quan hô hấp và làm tăng các bệnh về đường
hô hấp, khí này cũng góp phần phá hủy ozon và hình thành sương mù.
11
1.2. Tình hình mƣa axit trên Thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình mƣa axit trên Thế giới
Theo các nhà khoa học thì sau trận mưa axit đầu tiên đã xuất hiện từ rất lâu
Ở khu vực Bắc Âu thảm họa mưa axit năm 1959 biến 15.000 hồ nhiễm axit trong đó
14.000 hồ thành những hồ chết do nồng độ axit quá cao. Năm 1984, khu rừng Đen
nổi tiếng của Đức bị mưa axit tàn phá nghiêm trọng, hơn một nửa các cánh rừng của
miền Tây nước này hiện nay đang ở trong những mức độ bị phá hủy khác nhau và
giá trị lượng cây gỗ bị hủy hoại bởi mưa axit ước tính đạt 800 triệu USD hàng năm.
Cơn mưa axit đầu tiên được chỉ ra là vào những năm 50 thế kỉ 20 tại Na Uy, khiến
rất nhiều loài cá trong các hồ của Na Uy bị thoái hóa. Tại Thụy Điển, 4.000 hồ
không hề có cá; 9.000 hồ bị mất một phần lớn các loài cá đang sinh sống, trong khi
đó có tới 20.000 hồ khác cũng bị ảnh hưởng bởi mưa axit.
Nhận thức được tầm quan trọng của những ảnh hưởng do mưa axit nên vấn đề
nghiên cứu giám sát lắng đọng axit đã được đặt ra ngay từ Hội nghị hợp tác về Môi
trường Đông Bắc Á lần thứ nhất (10/1992). Những vấn đề này cũng được tiếp tục
thỏa thuận tại các hội nghị lần thứ 2 (1993), lần thứ 3 (1994), và cũng tại Đại hội
Môi trường Châu Á – Thái Bình Dương (ECO-ASIA, 1994), các đại biểu đã nhất trí
phải có một sự phối hợp hành động trong khu vực để giải quyết vấn đề này. Trên cơ
sở những xuất phát điểm như vậy, nhằm tạo ra một sự phối hợp quốc tế trong khu
vực để giải quyết vấn đề mưa axit, một loạt các cuộc họp chuyên gia, họp nhóm
cộng tác đã được nhóm họp để chuẩn bị các tiền đề kỹ thuật cho sự ra đời của Mạng
lưới giám sát lắng đọng axit ở Đông Nam Á (EANET)[22].
1.2.2. Tình hình mƣa axit ở Việt Nam
Nghiên cứu mưa axit ở nước ta mới chỉ bắt đầu và rất sơ bộ từ những năm đầu
của thập kỷ 90, giám sát lắng đọng axit bắt đầu chậm hơn vào khoảng 1996. Ở nước
ta trong báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 1994 của Bộ KHCN & MT
trình quốc hội đã đề cập đến “Nước mưa thường rất sạch nhưng ngày nay không
hẳn thế, sự lắng đọng axit trước đây chỉ thấy ở các nước phát triển thì nay đã lan ra
các nước đang phát triển” [10].
Từ năm 1990, việc quan trắc mưa axit đã được tiến hành với 22 trạm khí
tượng lấy mẫu hóa nước mưa, Bộ KHCN & MT đã thành lập trạm quan trắc mưa
13
mưa sang mùa khô (tháng 11), trong đó tháng 10 có tần suất mưa axit cao nhất [13].
Để đánh giá hiện trạng mưa axit nói riêng và lắng đọng axit nói chung ở Việt
Nam, PGS.TS Nguyễn Hồng Khánh, Viện Công nghệ Môi trường đã thực hiện đề
tài Độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, dự báo xu thế diễn biến
14
và đề xuất các giải pháp kiểm soát mưa axit ở Bắc Bộ Việt Nam”, giai đoạn I thực
hiện từ 2000 – 2002 đã xây dựng thành công phương pháp đánh giá xu thế hóa học
nước mưa ở miền Bắc (từ Ninh Bình trở ra) và là một đóng góp tích cực vào phân
tích và đánh giá bức tranh ô nhiễm không khí ở Việt Nam. Giai đoạn II của đề tài
thực hiên từ tháng 11/2003 – 9/2006 với 15 trạm quan trắc. Mục tiêu được xác định
là đóng góp cơ sở khoa học trong chiến lược bảo vệ môi trường, hoàn thiện cơ sở
khoa học nghiên cứu mưa axit ở Việt Nam. Đặc biệt, một trong những nội dung
quan trọng của giai đoạn này là hoàn thiện phương pháp luận, qui trình monitoring
tổng hợp sinh thái và bước đầu xây dựng qui trình đánh giá tác động của mưa axit
lên hệ sinh thái [24].
Trong nghiên cứu “So sánh lượng phát thải chất tiền axit và tổng lượng lắng
đọng axit ở khu vực Hà Nội”năm 2010 của TS. Phạm Thị Thu Hà cho thấy lượng
phát thải S và N có xu hướng tăng dần theo các năm. Lượng lắng đọng S, N nhìn
chung tăng dần từ năm 2005 đến 2008 và lại giảm đi vào vào năm 2009. Lượng
lắng đọng S lớn gấp 7,6 lần lượng phát thải vào năm 2005; 6,3 lần vào năm 2006 và
14,2 lần vào năm 2008. Lượng lắng đọng N lớn gấp 1,36 lần lượng phát thải vào
năm 2005; 2,2 lần lượng phát thải vào năm 2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy
lượng lắng axit tổng cộng (lắng ướt và lắng khô) thông qua nước mưa và các chất ô
nhiễm (khí, hạt) trong không khí các năm 2005, 2006 và 2008 khá lớn và lớn hơn
lượng phát thải do quá trình sinh hoạt và phát triển kinh tế ở Hà Nội. Điều đó cũng
có nghĩa là khả năng lượng S và N tải theo lắng ướt và khô phải do các nguồn từ các
nơi khác đem tới cho hoàn lưu khí quyển [2].
của lắng đọng axit lên vitamin A, C, E ở cây dâu tây”. Nghiên cứu cho thấy ảnh
hưởng của mưa axit được tiến hành với pH từ 2 -5 đến các vitamin A, C, E của quá
trình dâu tây chín. Mưa axit được thực hiện trên các cây ăn quả theo 2 cách: Phun
lên phần đất phía trên hoặc vào rễ. Các nồng độ vitamin của tất cả các cây dâu tây
được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Nó xác định
các mức độ vitamin của cây được phun với sự kích thích mưa axit với nồng độ giảm
dần của pH và thời gian tiếp xúc. Đặc biệt, những cây mà phun mưa axit vào rễ thì
ảnh hưởng nhiều hơn những cây không phun [33].
16