BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi
cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi
phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
NGUYỄN DIỆU HẰNG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG:
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TẠI HỒ THÁC BÀ,
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2017
Xác nhận của người hướng dẫn 1
Nghiên cứu sinh
PGS. TS. Lê Hà Thanh
Nguyễn Diệu Hằng
TỈNH YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Sự cần thiết của nghiên cứu............................................................................. 1
4.3. Sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại hồ Thác Bà,
tỉnh Yên Bái .......................................................................................................... 65
4.3.1. Hiện trạng quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà ........................................ 65
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 7
4.3.2. Nhận thức của cộng đồng về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài
nguyên nước ....................................................................................................... 70
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.................................................................... 8
4.3.3. Hành vi tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà72
4. Những đóng góp mới của luận án ................................................................... 8
4.3.4. Thuận lợi và khó khăn của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên nước
hồ Thác Bà ......................................................................................................... 79
5. Kết cấu của luận án ......................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ................................... 11
1.1. Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ............................................... 11
1.1.1. Tổng quan về các cách tiếp cận quản lý tài nguyên .................................... 11
1.1.2. Tổng quan về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng ................................ 12
1.1.3. Tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước về quản lý tài nguyên
nước có sự tham gia của cộng đồng .................................................................... 16
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước ... 24
1.2.1. Các lý thuyết nghiên cứu hành vi .............................................................. 24
5.2.2. Tăng cường tiếp cận thông tin cho cộng đồng ......................................... 107
5.2.3. Đẩy mạnh các hoạt động gắn kết xã hội .................................................. 109
5.2.4. Nâng cao năng lực cán bộ địa phương ..................................................... 111
5.2.5. Tổ chức, thành lập các hiệp hội ngành nghề ............................................ 112
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 117
PHỤ LỤC 1: CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU............................................................. 124
PHỤ LỤC 2: BẢNG HỎI ...................................................................................... 128
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ ĐỊNH LƯỢNG ............................................................. 136
4.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu................................................................. 50
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBM
Quản lý dựa vào cộng đồng
Hình 1: Tổng giá trị kinh tế của nước........................................................................... 2
Hình 1.1: Thang đo 8 cấp độ tham gia của cộng đồng ................................................ 15
IWRM
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Thác Bà ..................................................................................................................... 70
Hình 4.5: Đánh giá của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên nước
TTM
Mô hình các giai đoạn thay đổi (Transtheoretical Model)
UBND
Ủy ban nhân dân
Hình 4.7: Hành vi giữ gìn, bảo vệ nguồn nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà........ 74
Hình 4.8: Tỷ lệ các hộ gia đình ngăn chặn hành vi gây hậu quả xấu lên vùng hồ Thác
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc
Bà .............................................................................................................................. 75
Hình 4.9: Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước dưới hình thức
WWAP
Chương trình Đánh giá nước Thế giới của Liên Hợp Quốc
phát biểu ý kiến trong các cuộc họp ........................................................................... 76
hồ Thác Bà ................................................................................................................ 71
Hình 4.6: Tỷ lệ % các hộ tuân thủ chính sách về tài nguyên nước tại hồ Thác Bà ...... 73
Bảng 4.2: Sản lượng khai thác thủy sản của Yên Bình và Lục Yên 2010-2015 .......... 53
Bảng 4.3: Số người trả lời phân theo nhóm tuổi ......................................................... 64
trò cốt lõi trong sự sống. Mọi hoạt động kinh tế của con người – sinh hoạt, nông
nghiệp, công nghiệp, giải trí, môi trường… – đều liên quan đến sử dụng tài nguyên
Bảng 4.4: Đánh giá của cộng đồng về hiện trạng quản lý tài nguyên nước ................. 71
Bảng 4.5: Số hộ và tỷ lệ % tham gia hình thức đóng phí sử dụng nước hồ Thác Bà ... 73
nước. Người sử dụng nước có nhiều nhu cầu khác nhau đối với tài nguyên nước, và
các nhu cầu ấy tạo ra các giá trị cho tài nguyên nước. Nước cũng như các yếu tố môi
Bảng 4.6: Hành vi tiết kiệm nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái ...... 73
Bảng 4.7: Số hộ và tỷ lệ % đã từng tham gia đóng góp nguồn lực bảo vệ tài nguyên
nước hồ Thác Bà........................................................................................................ 77
trường khác, có giá trị kinh tế được tạo nên bởi hai nhóm giá trị chính: giá trị sử dụng
Bảng 4.8: Thống kê mô tả biến hành vi dự kiến ......................................................... 81
Bảng 4.9: Thống kê mô tả biến thái độ....................................................................... 83
cấp cho con người. Giá trị này được chia thành ba nhóm: giá trị sử dụng trực tiếp
(direct use value), giá trị sử dụng gián tiếp (indirect use value) và giá trị tùy chọn
Bảng 4.10: Thống kê mô tả biến nhận thức kiểm soát hành vi.................................... 85
Bảng 4.11: Ma trận xoay nhân tố với các phát biểu về giá trị ..................................... 87
(option value). Giá trị sử dụng trực tiếp bao gồm những hàng hóa, dịch vụ do môi
trường cung cấp và con người có thể tiêu dùng một cách trực tiếp. Giá trị sử dụng gián
đại diện cùng tham gia quản lý với chính quyền địa phương ...................................... 95
Với tài nguyên nước, giá trị sử dụng trực tiếp là những lợi ích phát sinh khi
người sử dụng trực tiếp sử dụng nước.Ví dụ, người tiêu dùng sử dụng nước trong sinh
hoạt, nông dân sử dụng nước để tưới tiêu nông nghiệp. Khi không trực tiếp tiếp xúc
với nước, cộng đồng vẫn được hưởng lợi ích gián tiếp từ tài nguyên nước và lợi ích
này là giá trị sử dụng gián tiếp. Giá trị tùy chọn là mức độ hài lòng của người sử dụng
nước khi biết rằng có tài nguyên nước để sử dụng trong tương lai. Giá trị phi sử dụng
của tài nguyên nước phát sinh khi con người biết rằng tài nguyên nước đang tồn tại và
có thể được thế hệ sau sử dụng. Trong giá trị phi sử dụng, giá trị tồn tại là mức độ hài
lòng của người sử dụng nước khi biết có sự tồn tại của tài nguyên nước; giá trị lưu
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
3
2
truyền là mức độ hài lòng của người sử dụng khi biết có sẵn tài nguyên nước cho thế
hệ tương lai (Rolfe, 2008).
nhóm chính: (i) quản lý nguồn nước, (ii) quản lý dịch vụ cấp nước và (iii) quản lý sự
đánh đổi cần thiết để cân đối giữa cung và cầu về nước. Mỗi nhóm có những hoạt
động, yêu cầu riêng, kết hợp với nhau tạo thành quản lý tài nguyên nước. Quản lý tài
nguyên nước đòi hỏi phải áp dụng tổng hợp nhiều công cụ khác nhau như công cụ
pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ kỹ thuật… (WWAP, 2012).
- Cảnh quan,
thẩm mỹ
...
Giá trị tùy
chọn
Giá trị tồn
tại
Giá trị
lưu
truyền
-
Phân bổ nước: là nhiệm vụ phân bổ nước cho các nhóm người sử dụng nước và
mục đích sử dụng nước khác nhau nhằm duy trì mức tối thiểu phục vụ các mục
tiêu xã hội, môi trường, đồng thời đảm bảo tính công bằng và nhu cầu phát triển
của xã hội
-
-
Quy hoạch lưu vực sông: Xây dựng và thường xuyên cập nhật Quy hoạch lưu
vực sông, trong đó phải thể hiện được quan điểm của các nhóm liên quan khác
nhau về ưu tiên phát triển và quản lý lưu vực.
Sự tham gia của các nhóm có liên quan: Sự tham gia của các nhóm liên quan vào
quá trình quản lý là cơ sở để ra quyết định sao cho lợi ích của toàn xã hội và vấn
Giám sát: Xây dựng hệ thống giám sát hoạt động có hiệu quả sẽ giúp cung cấp
các thông tin cần thiết phục vụ quản lý, đồng thời xác định và giải quyết được
những sự vụ vi phạm quy định pháp luật.
Quản lý dưới góc độ kinh tế và tài chính: Áp dụng các công cụ kinh tế và tài
chính để khuyến khích đầu tư, thu hồi chi phí và thay đổi hành vi nhằm phục
vụ mục tiêu công bằng và lợi ích bền vững cho toàn xã hội khi sử dụng tài
nguyên nước.
-
Quản lý thông tin: Cung cấp dữ liệu cơ bản, cần thiết để quá trình ra quyết định
quản lý tài nguyên nước được đầy đủ thông tin và minh bạch (GWP, 2010).
Hội nghị quốc tế về Nước và Môi trường tại Dublin năm 1992 đã tuyên bố 4
nguyên tắc quan trọng áp dụng cho những người quản lý và sử dụng nguồn nước trên
thế giới, trong đó nhấn mạnh vấn đề phát triển và quản lý nước phải dựa trên cơ sở tiếp
cận với sự tham gia của các bên có liên quan. 4 nguyên tắc đó là:
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
4
5
-
vào quá trình quản lý cũng đòi hỏi phải hiểu được động cơ hành vi tham gia của cộng
đồng. Tiếp cận kinh tế học hành vi sẽ giúp bổ sung góc nhìn mới hơn đối với hành vi
của các cá nhân bắt nguồn từ lý do xã hội. Miranda (2012) cho rằng nếu hiểu được
hành vi xã hội của các cá nhân thì có thể xây dựng được các chính sách tạo động lực
• Các viện nghiên cứu, các nhà khoa học;
• Các đơn vị cấp nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường, thủy lợi, xử lý nước thải,
nhà máy thủy điện và các cơ sở cấp nước cho các mục đích khác, bao gồm cả
doanh nghiệp tư nhân;
• Cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước và các lĩnh vực có
liên quan;
• Chính quyền địa phương;
Từ đó có thể thấy cả 4 nguyên tắc quản lý và sử dụng tài nguyên nước củaHội
nghị quốc tế về Nước và Môi trường tại Dublin 1992 cũng như yêu cầu về các chủ thể
tham gia xây dựng và thực hiện IWRM đều đề cập đến cộng đồng người sử dụng
xã hội cho các cá nhân điều chỉnh hành vi sử dụng nước. Các lý thuyết nghiên cứu về
hành vi cho rằng có thể dự đoán hành vi của cá nhân thông qua tìm hiểu thái độ, giá
trị, nhận thức của người đó. Ngoài ra, hành vi lại chịu sự chi phối bởi các yếu tố kinh
tế - xã hội như giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, sinh kế…Vì vậy, muốn
thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên nước, cần xác định, phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia của họ.
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
với các mục đích khác nhau. Mâu thuẫn giữa giữa những người sử dụng có khả năng
xảy ra khi các mục đích sử dụng có tính cạnh tranh lẫn nhau. Chính sách quản lý tài
Tài nguyên nước đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển của Việt
nguyên nước cần được xây dựng nhằm hướng tới việc giải quyết các mâu thuẫn này.
Các quy định về quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà đã được xây dựng, trong đó đề
Nam.Nước có vai trò chủ đạo trong sản xuất lúa gạo, giúp Việt Nam bảo đảm được an
ninh lương thực và trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế
cập đến sự tham gia của cộng đồng ở mức độ nhất định nhằm giải quyết hài hoà các
mâu thuẫn của các đối tượng sử dụng nước khác nhau.
giới. Nước cũng là đầu vào quan trọng giúp ngành thủy sản tăng trưởng mạnh mẽ,
Các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước đã
được thực hiện trong thời gian qua tại một số địa bàn ở Việt Nam. Mặc dù phong phú
đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Với tiềm năng thủy điện phong
phú, nước góp phần bảo đảm an ninh năng lượng khi thủy điện chiếm 40% tổng sản
về số lượng, đa phần các nghiên cứu tập chủ yếu vào khía cạnh pháp lý cũng như các
lượng điện cả nước. Nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, vệ sinh của người dân hàng
ngày. Tuy nhiên, tài nguyên nước ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều sức ép.
hình thức tham gia của cộng đồng vào quản lý. Các vấn đề liên quan tới động cơ, hành
vi của cộng đồng cũng như các nhân tố tác động đến sự tham gia của cộng đồng vào
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng thể của luận án là đánh giá sự tham gia quản lý tài
nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, xác định các nhân tố ảnh
hưởng đến hành vi tham gia của cộng đồng nhằm đề xuất một số giải pháp tăng cường
sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước.
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
8
9
• Nghiên cứu và tổng quan cơ sở lý thuyết về quản lý tài nguyên nướccó sự tham
gia của cộng đồng.
• Phân tích hiện trạng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại
hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
• Xác định các nhân tố tác động đến hành vi tham gia vào quản lý tài nguyên
nước của cộng đồng tại hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
• Đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
nguyên nước của cộng đồng. Trong các giá trị mà tài nguyên nước mang lại, luận án
chỉ ra rằng nhận thức của cộng đồng về giá trị xã hội, cụ thể là tính gắn kết xã hội, tính
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành vi tham gia
dự các cuộc họp người dân trong nội dung áp dụng công cụ kinh tế và phân bổ tài
quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái và các nhân tố
tác động đến hành vi tham gia của họ. Nghiên cứu này tập trung vào xem xét hành vi
nguyên nước. Nấc thang tham gia thứ hai của cộng đồngvùng hồ Thác Bà là “được
tham vấn” với hành vi đóng góp ý kiến cho cơ quan quản lý nhà nước về các vấn đề
tham gia quản lý của các thành viên trong cộng đồng là các hộ gia đình.
viên cộng đồng sử dụng nước từ nguồn nước hồ Thác Bà cho các mục đích khác nhau.
quy hoạch tài nguyên nước, kiểm soát ô nhiễm và giám sát. Những hành vi tham gia
của cộng đồng cũng thể hiện vai trò của họ trong khía cạnh quản lý thông tin của quản
lý tài nguyên nước.
4. Những đóng góp mới của luận án
5. Kết cấu của luận án
Dữ liệu được thu thập từ điều tra, phỏng vấn ở cấp độ hộ gia đình với các thành
Về mặt lý thuyết, luận án là công trình đầu tiên ứng dụng lý thuyết hành vi dự
kiến (Theory of Planned Behaviour - TPB) để nghiên cứu các nhân tố tác động đến
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng trong bối cảnh Việt Nam.
Luận án mở rộng mô hình nghiên cứu khi bổ sung thêm các biến nhận thức về giá trị
của tài nguyên nước, mục đích sử dụng nước và các đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ
gia đình. Luận án đã lồng ghép TPB trong khung phân tích các cấp độ sự tham gia của
cộng đồng với 5 mô hình TPB tương ứng với 5 hành vi tham gia.
cứu, nguồn dữ liệu, cách thức thu thập và xử lý dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Bên cạnh tổng quan về địa bàn nghiên cứu là
vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, chương 4 phân tích hiện trạng tham gia quản lý tài
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Quản lý tài nguyên nướcdựa vào cộng đồng
1.1.1. Tổng quan về các cách tiếp cận quản lý tài nguyên
Đã có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về quản lý tài nguyên.
Các nghiên cứu chia thành hai cách tiếp cận cơ bản. Nhóm thứ nhất tiếp cận dưới góc
độ kinh tế học: xem xét tài nguyên thiên nhiên bằng khung lý thuyết kinh tế. Nhóm thứ
hai tiếp cận dưới góc độ tài nguyên là một tài sản chung và đề xuất cách quản lý tài sản
chung đó.
nguyên nước của cộng đồngvà xác định các nhân tố tác động lên hành vi tham gia
quản lý tại địa bàn nghiên cứu dựa trên dữ liệu điều tra.
Cách tiếp cận kinh tế đối với tài nguyên thiên nhiên đã đưa ra một loạt các lý
thuyết và công cụ nhằm giám sát, phân tích, đánh giá và quản lý tài nguyên. Cụ thể,
Chương 5: Đề xuất giải pháp. Từ kết quả nghiên cứu trong chương 4, chương
5 đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý tài
kinh tế học tài nguyên thiên nhiên xây dựng mô hình khai thác bền vững tài nguyên
nguyên nước vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
thiên nhiên – cơ sở để đưa ra các công cụ quản lý tài nguyên. Các công cụ quản lý
được chia thành hai nhóm gồm: (i) công cụ của nhà nước (thuế, hạn mức khai thác, trợ
cấp, tiêu chuẩn, giấy phép) và (ii) công cụ của thị trường (quyền tài sản), hàm ý nhấn
mạnh đến lựa chọn hoặc nhà nước quản lý, hoặc để thị trường điều tiết.
năm 1990, trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, mô hình quản lý nhà nước hay tư nhân
vững hơn. Vì vậy, có thể xây dựng giải pháp quản lý dựa vào cộng đồng.
đều chứng tỏ không hiệu quả và tạo ra nhiều tác động xã hội. Vì thế, mô hình quản lý
dựa vào cộng đồng đã được đưa vào áp dụng, trước hết trong lĩnh vực quản lý rừng ở
1.1.2. Tổng quan về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
Cộng đồng
Theo Checkoway (1995), cộng đồng được hiểu là một nhóm người trong xã hội
cùng đưa ra sáng kiến và hành động chung. Có thể hiểu theo nghĩa hẹp như định nghĩa
của Conner (2007): “Cộng đồng là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích
và mối quan tâm”. Theo quan điểm chung ở Việt Nam, cộng đồng là một tập hợp các
công dân cư trú trong một khu vực địa lý nhất định, hợp tác với nhau vì những lợi ích
các vùng cao, biên giới – nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Phương thức quản lý
này được dựa trên mô hình quản lý truyền thống đã được áp dụng ở vùng núi của
nhiều nước trên thế giới, khi mọi người dân địa phương hợp tác với nhau và cùng quản
lý nguồn lực và chia sẻ lợi ích. Cách tiếp cận này cho phép sử dụng nguồn lực một
cách bền vững.Sau đó, mô hình quản lý dựa vào cộng đồng được mở rộng cho tài
nguyên ven biển, ví dụ Khánh Hòa, Thừa Thiên – Huế.
Quản lý dựa vào cộng đồng (CBM) là tập hợp các mô hình quản lý có sự tham
chung và chia sẻ những giá trị văn hóa chung. Chi Cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội
(2007) định nghĩa: một tập hợp người được coi là cộng đồng khi thỏa mãn các tính
gia của cộng đồng; trong đó, cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định về các
vấn đề liên quan đến quá trình lập kế hoạch và triển khai thực hiện. CBM là một trong
chất về địa lý, văn hóa và lợi ích:
định chung và hành động vì những lợi ích chung đó.
bản thân được nâng cao, đoàn kết dân tộc được củng cố, việc tuyên truyền, thực hiện
các quy định pháp luật trong cộng đồng được thuận lợi hơn.
Quản lý dựa vào cộng đồng
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
Trên thế giới, vào khoảng cuối những năm 1960, trong phần giới thiệu của Báo
cáo Đánh giá các dự án cấp nước nông thôn, lần đầu tiên thuật ngữ “có liên quan đến
cộng đồng” được sử dụng. Đến năm 1969, khái niệm quản lý dựa vào cộng đồng được
đưa ra trong nghiên cứu về Cải thiện y tế thôn bản tại Đài Loan của Chang (1969). Kể
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là một ứng dụng thực tiễn của CBM, đề
cập đến sự tham gia của các cộng đồng có lợi ích liên quan trong quản lý tài nguyên
từ đó, các nhà nghiên cứu và khoa học trên thế giới bắt đầu quan tâm đến việc phân
tích và ứng dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trong các lĩnh vực mà quản lý
nhà nước không phát huy được vai trò một cách hiệu quả. Ở Việt Nam, từ giữa những
đất và nước, rừng, động vật hoang dã, du lịch, nguồn lợi thủy sản và các tài nguyên
khác. Có thể xem xét quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng từ hai góc độ:Từ góc độ
trao quyền hợp pháp để quản lý tài nguyên, quản lý dựa vào cộng đồng là một quy
trình trao quyền cho cộng đồng sử dụng tài nguyên. Tức là cộng đồng có quyền sử
dụng và quản lý tài nguyên.Từ góc độ năng lực quản lý của cộng đồng, quản lý dựa
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
có “sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch, vận hành, duy trì các hệ thống
cấp nước mà cộng đồng được hưởng lợi”. Như vậy quản lý dựa vào cộng đồng đòi hỏi
Phối hợp giữa các nhóm dân cư và chính phủ
phải có sự tham gia của cộng đồng.
Chính phủ đáp ứng các yêu cầu do người dân đề xuất
Sự tham gia của cộng đồng
Chính phủ tham vấn các nhóm dân cư
8 cấp độ tiếp cận từ thấp đến cao thể hiện
sự tham gia của cộng đồng
quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt
động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện”. Với quản lý tài nguyên nước dựa vào
Tham gia là quyền cơ bản của người dân.Ngày nay, tham gia được hiểu là cách
thức mọi người (cộng đồng) có ảnh hưởng và có vai trò kiểm soát trong quá trình phát
triển, đặc biệt là vai trò ra quyết định và sử dụng nguồn lực. Có nhiều lý do khác nhau
để thúc đẩy cộng đồng tham gia, như để giảm chi phí (cộng đồng được yêu cầu đóng
góp hàng hoá, tiền, công sức lao động), để thực hiện dự án hiệu quả và đầy đủ hơn, để
tăng cường năng lực của các cộng đồng hoặc để trao quyền cho cộng đồng, điều này
nghĩa là để giúp họ gia tăng kiểm soát đối với các nguồn lực và đưa ra những quyết định
Chính phủ vận động người dân làm theo
Chính phủ ra quyết định và báo trước cho người dân
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
16
17
(3) Cung cấp các nguồn lực: cộng đồng có thể tham gia vào các hoạt động như
xong nhà máy và hệ thống đường ống thì người dân Sikaladi không cho phép nhà máy
cung cấp nhân lực, vật chất, các nguồn tài chính và công tác tổ chức hoạt động quản lý
sử dụng nguồn nước. Chính quyền địa phương đã thất bại trong việc thuyết phục người
dân Sikaladi cho phép người dân Simabur chia sẻ việc sử dụng nguồn nước. Hai cộng
tại địa phương.
(4) Quản lý và bảo dưỡng: cộng đồng có thể tham gia bằng cách chịu hoàn toàn
trách nhiệm quản lý, bảo dưỡng tài sản họ tham gia quản lý.
(5) Kiểm tra và đánh giá: trong suốt quá trình ra quyết định và triển khai thực
hiện quản lý, cộng đồng có thể xem xét và đánh giá những gì đang tiến hành, nhờ đó
có thể phát hiện những vấn đề nảy sinh và khắc phục kịp thời.
1.1.3. Tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước về quản lý tài nguyên
nướccó sự tham gia của cộng đồng
1.1.3.1. Nghiên cứu quốc tế
Người dân phải sử dụng nước từ nhiều nguồn khác nhau như nước máy, nước mặt,
nước ngầm, nước đóng chai… vì nước máy chỉ đáp ứng nhu cầu chủ yếu cho người
dân khu vực đô thị. Do đó, công ty cấp nước địa phương phải đầu tư để mở rộng mạng
lưới nước máy phục vụ người dân. Nghiên cứu cho thấy ở Baruah Burik, dự án cấp
nước máy đã thành công với sự tham gia của cộng đồng. Công ty cấp nước cung cấp
cơ sở hạ tầng trang thiết bị, người dân đóng góp công lao động, nhờ vậy nước máy đã
được cấp cho tất cả các hộ gia đình ở địa phương. Đó là kết quả của việc chính quyền
địa phương hiểu rõ nhu cầu của người dân và một cộng đồng mạnh. Cộng đồng mạnh
cầu của họ không được đáp ứng. Còn phía NGO lại không hài lòng vì không có sự hợp
tác của cộng đồng. Từ đó, các tác giả cho rằng điều quan trọng nhất là cần có sự tham
gia của cộng đồng ngay từ khi hình thành dự án. Cách tiếp cận ban đầu của dự án là áp
đặt từ trên xuống đã không giúp cộng đồng tham gia vào thiết kế dự án, không nhận
được thông tin chính thức về dự án, và cũng không được tham vấn về những vấn đề
chính có thể phát sinh khi thực hiện dự án. Tóm lại, theo các tác giả nghiên cứu, trước
khi hình thành dự án, bắt buộc phải thực hiện phân tích văn hóa – xã hội thông qua
nghiên cứu lịch sử địa phương, tiến hành phỏng vấn người dân và quan sát hành vi của
họ. Sau đó, ở giai đoạn thiết kế dự án, nhà quản lý mới biết được bối cảnh văn hóa, xã
hội của dự án, những nhân tố nào có thể tác động đến dự án và làm thế nào để giải
quyết chúng.
một phần nhờ trình độ học vấn ở mức khá, hầu hết người dân đều tốt nghiệp phổ
Có thể xem xét một nghiên cứu khác ở một quốc gia có lịch sử nền kinh tế kế
thông. Họ hiểu sự cần thiết của việc duy trì việc cấp nước sạch, và thông qua quá trình
tham vấn cộng đồng để đạt được đồng thuận, họ tự thiết lập được một hệ thống quản lý
hoạch hóa tập trung tương tự như Việt Nam. Teodosiu và cộng sự (2013) đánh giá sự
tham gia của cộng đồng vào quy hoạch tài nguyên nướcở Romania. Sau những cơn lũ
gia vào các cuộc họp tham vấn một cách rất bị động. Trừ các tổ chức phi chính phủ là
có góp ý nhận xét, các tổ chức khác và cả đại diện người sử dụng nước đều ít tham gia.
Xu hướng nói chung trong các góp ý, nhận xét là họ chấp nhận chiến lược đã đề ra.
Đồng thời, những nhận xét do các bên đưa ra lại không được cân nhắc, bàn luận trong
các cuộc họp tiếp sau. Như vậy, mặc dù quá trình tham vấn có diễn ra, nhưng hiệu quả
lại thấp vì các bên ít quan tâm đến vấn đề.
Các tác giả kết luận rằng việc cho những thành viên “mới” với lợi ích, năng lực,
kinh nghiệm, hành động khác nhau tham gia vào quá trình quản lý tài nguyên nước
gặp phải rào cản khá lớn. Rào cản đến từ những chủ thể ra quyết định “truyền thống”
như cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, chính quyền địa phương và các
công ty cấp nước. Hành vi “quyền lực” trong quá trình tham gia ra quyết định là đặc
trưng văn hóa tổ chức của các cơ quan vốn theo hệ thống thứ bậc – di sản của nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung. Thêm nữa, Romania không có nhiều kinh nghiệm trong việc
đưa cộng đồng tham gia vào quản lý. Vì vậy, cộng đồng không hào hứng, không chủ
động tham gia. Đây cũng là một đặc điểm của một quốc gia đang trong giai đoạn
chuyển đổi cả về kinh tế, xã hội và thể chế như Romania. Các tác giả khuyến nghị khi
có sự tham gia của cộng đồng từ giai đoạn đầu của quá trình ra quyết định thì sự tham
gia của cộng đồng sẽ đạt được thành công và thiếu kinh nghiệm không còn là thách
thức đáng ngại.
1.1.3.2.Nghiên cứu ở Việt Nam
Các nghiên cứu ở Việt Nam về quản lý tài nguyên nướccó sự tham gia của cộng
đồng cũng rất đa dạng, chủ yếu tập trung vào hoạt động cấp nước.Ngoài ra có các
nghiên cứu về tài nguyên nước ở các lưu vực sông, hồ chứa, tập trung vào tìm hiểu
mức độ tham gia của cộng đồng trong quản lý và những khó khăn, thách thức mà họ
gặp phải trong quá trình tham gia.
Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) đã tổng quan quản lý tài
nguyên nước có sự tham gia của cộng đồng với hai kiểu mô hình: mô hình truyền
thống bản địa của các dân tộc thiểu số và mô hình cấp nước sinh hoạt/thủy lợi ở một số
vùng nông thôn. Các tác giả kết luận rằng sự tham gia của cộng đồng trong các mô
nên khi có mưa, lượng nước tăng rất nhanh, gây lũ tại vùng hạ lưu. Để hạn chế lũ, tỉnh
Thừa Thiên – Huế đã lập quy hoạch liên quan đến các hồ chứa, hồ thủy điện vùng
thượng nguồn. Các tác giả đã phân tích những mâu thuẫn trong sử dụng nước của các
hồ chứa này trong quá trình vận hành. Ví dụ hồ thủy điện Bình Điền, Hương Điền và
hồ chứa Tả Trạch góp phần làm thay đổi chế độ dòng chảy vùng hạ lưu sông Bồ, hậu
quả là diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thiếu nước tưới. Dòng chảy bùn cát bị hạn
chế do hồ thủy điện không có cống xả đáy làm ảnh hưởng đến địa hình lòng sông và
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
20
21
hoạt động khai thác cát, sỏi của người dân. Khi tích nước và xả nước, các hồ chứa
trình thủy điện được đánh giá là cao nhất Việt Nam. Sự tồn tại của các hồ đập này
cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng nước vùng hạ lưu, gây tác động tiêu cực đến chất
lượng nước sinh hoạt của người dân đang sử dụng nước từ nhà máy cấp nước Huế.Đặc
cũng gây nhiều tranh cãi vì ngoài mục tiêu chính là phát điện, chúng ít có vai trò khác,
biệt, khi lượng nước vùng hạ lưu thay đổi, độ mặn cũng thay đổi theo làm các loài sinh
vật nước ngọt bị đe dọa, gây suy thoái tài nguyên sinh học và ảnh hưởng tiêu cực đến
sinh kế người dân vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Từ những mâu thuẫn trên
trong quá trình quản lý tài nguyên nước hồ chứa, các tác giả đã khảo sát nhiều đối
hề biết điều này. Người dân biết thông tin không phải qua thông báo bằng văn bản
chính thức mà qua các kênh thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí; hoặc qua
truyền miệng; hoặc qua quá trình tham vấn cộng đồng khi chủ đầu tư lập báo cáo đánh
giá tác động môi trường và liên quan đến công tác di dời, đền bù. Có 24,3% người dân
mong muốn được tham gia đóng góp ý kiến vì họ cho rằng các hồ chứa, thủy điện liên
hồ chứa.
-
lực, thu thập dữ liệu, ghi nhận sự kiện, tổng hợp, xử lý thông tin phục vụ công
tác quản lý, kỹ năng đối thoại, thương lượng.
-
quan đến đời sống của mình. Người dân không được tham gia vào khâu quy hoạch và
Từ đó, tác giả nghiên cứu đưa ra các giải pháp sau:
Từ đó, các tác giả kết luận sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên
(i) Chưa có cơ chế phù hợp nhằm huy động khả năng của cộng đồng để họ hỗ
trợ giám sát bảo vệ nguồn nước, ngăn chặn các hành vi tiêu cực làm ô nhiễm, suy thoái
tài nguyên nước;
-
Chính quyền, Ủy ban lưu vực sông, cộng đồng và các tổ chức xã hội thành lập
nhóm giám sát cộng đồng và xây dựng cơ chế điều hành thực hiện.
tạo, tập huấn cho cộng đồng về phương pháp tham vấn, giám sát và phân công
(iv) Đơn vị quản lý hồ chứa, hồ thủy điện được coi là chủ sở hữu nước và chỉ
họ có quyền ra quyết định trong các giai đoạn xây dựng và vận hành hồ.
Cũng với vấn đề tương tự, Lê Anh Tuấn (2015) đã nghiên cứu lưu vực sông Vu
Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam để xem xét vai trò của cộng đồng trong việc quản lý
thực hiện, thu thập dữ liệu, ghi chép sự kiện, xử lý thông tin.
-
Chính quyền, các tổ chức xã hội, Ủy ban lưu vực sông và đại diện cộng đồng
xây dựng quy trình xác định các bên liên quan và trao đổi thông tin để phục vụ
thương lượng khi có tranh chấp.
tài nguyên nước, cụ thể là vận hành hồ chứa. Đây là lưu vực sông có mật độ số công
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
22
23
1.1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước
quan, đặc biệt hệ thống các cơ quan cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc với người dân cần thực
Công tác quản lý tài nguyên nước chỉ có thể được giải quyết một cách ổn thỏa
khi có sự tham gia chủ động, tích cực của cộng đồng. Sự tham gia này thể hiện ngay từ
nhiên đó.
khi xác định các vấn đề, các biện pháp, cách thức cụ thể giải quyết các vấn đề. Tuy
nhiên, sự tham gia của cộng đồng chỉ có thể mang lại hiệu quả khi cộng đồng được
cung cấp đầy đủ thông tin về tình trạng tài nguyên nước nơi họ sinh sống và lợi ích
Vì vậy, để cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên nước, cần có cơ chế nhất
định được quy định bằng văn bản pháp luật của Nhà nước. Trong quá trình tham gia
quản lý, cộng đồng dân cư cần tạo được sự đồng thuận, hợp tác và phối hợp của các cơ
quan quản lý nhà nước nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý và nhận thức của
cộng đồng. Sự giám sát của cộng đồng cần có cơ chế cụ thể về tổ chức, nguồn lực.
Ngoài ra, xây dựng khung pháp lý của quản lý tài nguyên nước có sự tham gia của
cộng đồng cũng góp phần nâng cao tính bền vững và công bằng của hoạt động quản lý
tài nguyên nước. Thực tế khách quan cho thấy một khi cộng đồng được hưởng lợi từ
tài nguyên nước, họ sẽ có động lực mạnh mẽ để bảo vệ nguồn nước và sử dụng nước
một cách bền vững.
• Thay đổi phong cách làm việc của chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương có ảnh hưởng rất lớn trong việc huy động sự tham gia,
đóng góp của các cộng đồng dân cư vào hoạt động quản lý tài nguyên, trong đó có tài
nguyên nước. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, cơ quan nhà nước vẫn giữ vai trò trung tâm
trong quá trình ra quyết định “truyền thống”. Các cơ quan nhà nước cần thay đổi theo
hướng đi theo chu trình mở với sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội như các
tổ chức phi chính phủ, các cơ quan nghiên cứu, cộng đồng dân cư… thông qua các
kênh thông tin, diễn đàn thường xuyên hoạt động. Trong quá trình khuyến khích phát
triển tổ chức cộng đồng, vai trò và chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan hữu
gia quản lý tài nguyên nước là một hành vi xã hội của cá nhân. Đã có những lý thuyết
nhận và tuân theo. Đặc biệt, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa
thì những quy định của pháp luật trên nhiều khía cạnh còn xa lạ đối với cộng đồng dân
giải thích hành vi xã hội khác nhau được đưa ra và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều
lĩnh vực để tìm hiểu hành vi của các cá nhân như tập thể dục, chăm sóc sức khỏe cá
cư, nhất là các quy phạm pháp luật ở trình độ khái quát cao sẽ khó thâm nhập vào các
lĩnh vực cụ thể của đời sống cộng đồng. Trong khi đó, tín ngưỡng, phong tục, tập quán
với những giá trị tích cực của nó đóng vai trò quan trọng và chủ yếu trong quá trình
điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể, nhất là trong quá trình tự quản ở cộng đồng dân
nhân… trong y tế hay tiết kiệm nước, tiết kiệm năng lượng, tham gia bảo vệ môi
trường… trong lĩnh vực môi trường. Các lý thuyết hành vi xã hội phổ biến được xem xét
ở đây gồm: Lý thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA), Lý thuyết
hành vi dự kiến (Theory of Planned Behaviour - TPB), Mô hình các giai đoạn thay đổi
cư. Do vậy, tác động của tín ngưỡng, phong tục tập quán đến hiệu quả của mô hình
quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là vô cùng to lớn.
(Transtheoretical Model – TTM hay Stages of Change Model – SOC).
• Có người đại diện cộng đồng
Sutton (2001) chia các lý thuyết hành vi xã hội thành hai nhóm: nhóm mô hình
hành vi theo giai đoạn (stages model) và nhóm mô hình nhận thức xã hội (social
Cộng đồng cần có người đại diện cho mình tham gia quản lý, và người đại diện
cộng đồng. Phần sau đây sẽ tổng quan các nghiên cứu thông qua kết hợp phân tích định
tính và định lượng để tìm hiểu các mô hình, phương pháp đã được thực hiện cũng như
những kết quả được rút ra.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước
1.2.1. Các lý thuyết nghiên cứu hành vi
Để khuyến khích cộng đồng tham gia vào quản lý tài nguyên nước, một trong
những cách tiếp cận là tác động vào hành vi tham gia của họ. Muốn tác động vào hành
vi thì cần biết những nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi của con người. Hành vi tham
giai đoạn: tiền ý định, có ý định, chuẩn bị, hành động và duy trì. Trong giai đoạn đầu
tiên: tiền ý định, cá nhân chưa có ý định thay đổi hành vi trong 6 tháng tới. Khi có một
sự kiện xảy ra làm cá nhân muốn thay đổi, họ chuyển sang giai đoạn thứ hai: giai đoạn
có ý định. Lúc này, cá nhân hình thành ý tưởng thay đổi hành vi và dự định sẽ thay đổi
hành vi của mình trong 6 tháng tới. Nếu cá nhân dự định thay đổi hành vi của mình
trong tháng tới thì họ đang ở giai đoạn thứ ba: giai đoạn chuẩn bị. Giai đoạn thứ tư –
hành động – bắt đầu khi cá nhân thực hiện thay đổi hành vi, chuyển sang hành vi mới
trong khoảng thời gian dưới 6 tháng. Giai đoạn thứ năm và cũng là cuối cùng – giai
đoạn duy trì – là thời gian ngoài 6 tháng mà cá nhân thực hiện hành vi mới. Mặc dù
quá trình này diễn ra theo trình tự, nhưng cũng có trường hợp cá nhân quay lại giai
đoạn trước và lặp đi lặp lại chu trình.
TTM có ưu điểm là giúp nhà nghiên cứu hiểu rõ từng giai đoạn thay đổi hành vi
của con người, từ đó có thể đưa ra biện pháp can thiệp phù hợp, hiệu quả nhất trong
từng giai đoạn, đặc biệt trong lĩnh vực được ứng dụng rộng rãi là y tế công cộng. Tuy
nhiên TTM cũng có một số nhược điểm. Thứ nhất là thực tế khó có thể phân biệt được
riêng rẽ các giai đoạn trong quá trình thay đổi hành vi của cá nhân. Thứ hai là các
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
Từ các lý thuyết hành vi, có thể rút ra có những nhân tố chung chi phối đến
hành vi. Các mô hình nhận thức xã hội đều nhấn mạnh đến vai trò của thái độ, quan
điểm, giá trị, và đã có nhiều nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ này để xem xét hành vi
của các cá nhân là thành viên của cộng đồng trong sử dụng, bảo vệ, quản lý tài nguyên
– môi trường. Ví dụ McFarlane và Boxall (2003) xác định thái độ, giá trị chi phối đến
hiện thành công. Lý thuyết hành vi dự kiến TPB (Ajzen, 1991) là nỗ lực mở rộng TRA
để phục vụ nghiên cứu những hành vi không chỉ phụ thuộc vào ý chí. Ajzen bổ sung
hành vi bảo vệ rừng ở Canada, Russenberger và cộng sự (2012) nghiên cứu quan điểm,
thái độ của cộng đồng về phân bổ tài nguyên nước dưới góc độ tìm hiểu các giá trị chi
vào mô hình TRA thêm một biến chi phối đến dự định thực hiện hành vi là nhận thức
phối đến niềm tin, Dudeen (2008) đã xem xét góc độ văn hóa của cộng đồng sử dụng
nước vùng Địa Trung Hải. Các nghiên cứu đều thấy rằng giá trị có ảnh hưởng quan
kiểm soát hành vi. Nhân tố này cho biết cá nhân đánh giá việc thực hiện hành vi là khó
hay dễ và nó được giả định là phản ánh kinh nghiệm trong quá khứ cũng như dự đoán
khó khăn trong tương lai của các cá nhân. Nhận thức kiểm soát hành vi có thể có tác
động trực tiếp lên hành vi qua hai cơ chế. Thứ nhất, nếu dự định thực hiện hành vi
được coi là biến không đổi thì cá nhân có nhận thức kiểm soát hành vi cao hơn sẽ nỗ
lực hơn và kiên nhẫn thực hiện hành vi lâu hơn những người có nhận thức kiểm soát
hành vi thấp. Thứ hai, con người có thể có nhận thức chính xác về mức độ kiểm soát
hành vi thực tế họ có được (Ajzen, 1991).
Nhược điểm của các lý thuyết nhận thức xã hội là chúng thường bị coi là thiếu
tính thực tế khi giải thích cách thức hình thành dự định và ra quyết định của cá nhân.
TRA và TBP không hàm ý rằng các cá nhân luôn luôn cân nhắc cẩn thận và ra được
quyết định tốt nhất. Con người có thể không biết hết tất cả các lựa chọn hành vi họ có
thể có và hậu quả của hành vi mà họ sẽ thực hiện. Họ có thể có niềm tin không chính
29
hướng tới phát triển kinh tế tại địa phương, còn cộng đồng sử dụng tài nguyên nước
có xu hướng hành động nhằm đáp ứng kỳ vọng của người khác mạnh hơn người
với mục đích tham quan, giải trí sẽ sẵn lòng tham gia vào quản lý tài nguyên nước theo
hướng bảo tồn. Quan điểm của cộng đồng về quản lý là một nhân tố giá trị khác chi
phương Tây (Sakurai và cộng sự, 2015).
phối đến mức độ tham gia quản lý tài nguyên nước. Kraft và cộng sự (1996) nhận thấy
nếu người nông dân càng nhìn nhận tiêu cực về vai trò của chính phủ trong quản lý thì
càng ít tham gia các chương trình quản lý chất lượng môi trường nước.
vi sử dụng nước, bảo vệ nguồn nước, tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng.
Các nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy cộng đồng tin rằng việc họ tham gia quản
lý tài nguyên nói chung sẽ đẩy mạnh tương tác xã hội, nâng cao trách nhiệm của họ đối
với môi trường, bảo vệ tài nguyên và môi trường xung quanh. Cá nhân có niềm tin càng
Tóm lại, quan điểm, nhận thức về giá trị của tài nguyên nước có chi phối đến hành
1.2.2.2. Các nhân tố kinh tế - xã hội
Các nghiên cứu khác xem xét vai trò của nhân tố kinh tế - xã hội và kết quả cho
thấy chúng cũng chi phối đến quan điểm, thái độ, từ đó tác động lên hành vi của cộng
mạnh sẽ càng sẵn lòng tham gia quản lý tài nguyên – môi trường. Thúc đẩy các hoạt
liên quan đến môi trường mà yếu tố tài nguyên mang lại hơn. Hamid (1996) nhận thấy
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của mỗi cá nhân trong cộng đồng có tương
đồng sẽ càng tiết kiệm nước. Do vậy, các nghiên cứu đi đến kết luận cần đẩy mạnh các
dự án, hoạt động quản lý tài nguyên - môi trường có sự tham gia của cộng đồng vì
chúng tạo cơ hội cho các công dân tương tác và gắn kết với nhau.
quan với trình độ học vấn. Do đó, sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên
Theo Sakurai và cộng sự (2015), vì phương Tây và phương Đông có khác biệt
văn hóa nên có thể hình dung được các nhân tố chi phối đến hành vi tham gia quản lý
nhất định của cộng đồng là rất quan trọng. Trước khi thực hiện thiết kế bất cứ một mô
hình quản lý tài nguyên – môi trường nào có sự tham gia của cộng đồng cũng đều phải
tài nguyên – môi trường ở hai nơi sẽ khác nhau. Các nghiên cứu ở Mỹ và châu Âu
thường đi đến kết luận rằng cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên – môi trường với
tìm hiểu những vấn đề nói trên, qua đó có thể xây dựng được một mô hình quản lý phù
hợp, được sự ủng hộ, hợp tác của cộng đồng, đáp ứng được mong muốn của họ và thu
động cơ là các quan điểm, giá trị liên quan đến chống suy thoái môi trường, lưu giữ kỷ
niệm về mối quan hệ xã hội – sinh thái (đặc biệt là các cộng đồng nhập cư), mong
hút họ tham gia. Các lý thuyết hành vi nhận thức xã hội là một công cụ hữu ích trong
trường hợp này, cần được nghiên cứu áp dụng để đẩy mạnh hơn nữa sự tham gia của
cộng đồng trong quản lý tài nguyên – môi trường.
muốn phục hồi sau thiên tai hoặc chiến tranh, hoặc vì bản thân cộng đồng muốn tự
nâng cao vai trò của bản thân trong quản lý. Trong khi đó, động cơ khiến cộng đồng
cạnh trong quản lý tài nguyên nước. Thực tế, sự tham gia của chính một cộng đồng
vào các hoạt động quản lý khác nhau cũng khác nhau về hành vi, mức độ. Trong bối
cảnh Việt Nam, cần thiết phải đánh giá cụ thể hành vi, mức độ tham gia của cộng đồng
trong mỗi hoạt động quản lý, tìm ra những hạn chế. Đây là cơ sở để hoàn thiện hơn các
quy định, chính sách về sự tham gia của người dân trong quản lý môi trường nói chung
và quản lý tài nguyên nước nói riêng.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Lý thuyết quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Khái niệm quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng có thể thấy từ phần tổng
quan các nghiên cứu trước đây, nhìn chung các khái niệm về quản lý dựa vào cộng
đồng đều đề cập đến sự tham gia của cộng đồng. Luận án sử dụng định nghĩa của
Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006), theo đó, “quản lý tài nguyên nước
Thứ hai, các nghiên cứu ở Việt Nam về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý
dựa vào cộng đồng là một quá trình có sự tham gia, trong đó cộng đồng chính là trung
tâm của hệ thống quản lý nước có hiệu quả”. Vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu sự
tài nguyên nước chủ yếu là nghiên cứu định tính. Chưa có nghiên cứu định lượng bằng
một mô hình lý thuyết cụ thể để tìm hiểu động cơ nằm sau hành vi tham gia của cộng
tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại địa bàn nghiên cứu. Về khái
niệm cộng đồng, luận án áp dụng quan điểm: cộng đồng là một nhóm người cùng sống
đồng cũng như các nhân tố tác động vào sự tham gia của họ. Mỗi hành vi tham gia
khác nhau chịu tác động bởi các nhân tố khác nhau với mức độ và chiều hướng khác
của cộng đồng lên đến mức cao nhất: cộng đồng không chỉ bàn bạc mà còn thực hiện
và kiểm tra.
Trong bối cảnh Việt Nam, cộng đồng chưa tham gia vào quản lý tài nguyên môi trường với đầy đủ tất cả các nội dung như trên. Vì vậy, để đánh giá sự tham gia
của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước, cần phân tích hiện trạng công tác quản lý
tài nguyên nước: cộng đồng đã tham gia vào những khía cạnh nào, với mỗi khía cạnh,
cộng đồng tham gia ở mức độ nào và hình thức, hành vi tham gia của họ là gì. Với nội
dung quản lý tài nguyên nước, luận án sử dụng quan điểm của GWP (2010) về các
thành tố của quản lý tài nguyên nước như sau:
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
32
33
-
Phân bổ nước: ra quyết định phân bổ nước cho các nhóm người sử dụng nước
-
cho các mục đích khác nhau.
Quy hoạch: xây dựng và cập nhật quy hoạch tài nguyên nước.
-
Sự tham gia của các nhóm có liên quan: quá trình ra quyết định phải có sự tham
cấp độ:
(1) Thông báo: Nhà nước chủ động hoàn toàn ra quyết định, thông báo và
hướng dẫn cộng đồng tham gia quản lý.
(2) Tham vấn: Cộng đồng cung cấp thông tin cho nhà nước. Nhà nước sử dụng
thông tin này làm đầu vào tham khảo, từ đó đưa ra quyết định; sau đó thông báo, hướng dẫn
cộng đồng tham gia quản lý.
(3) Cùng thực hiện: Cộng đồng được mời tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến
để đưa ra quyết định. Đồng thời họ cũng tham gia quản lý.
(4) Đối tác: Nhà nước và cộng đồng hợp tác với nhau để quản lý.
(5) Chủ trì: Cộng đồng được trao quyền quản lý, Nhà nước chỉ thực thi kiểm soát.
Như đã trình bày ở trên, cộng đồng có thể tham gia quản lý dưới các hình thức
cung cấp thông tin, tham gia lãnh đạo, cung cấp các nguồn lực, quản lý và bảo dưỡng
và kiểm tra, đánh giá. Tuy nhiên, các hình thức tham gia cần được biểu hiện thành các
hành vi cụ thể. Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) tổng kết chi tiết hơn
các hành vi tham gia phổ biến của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại ở Việt
Nam gồm:
Hình 2.1: Thang đo 5 cấp độ tham gia của cộng đồng
Nguồn: Dower (2004).
Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng chỉ thành công trong một số điều
kiện nhất định. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho thấy một số bài
học kinh nghiệm về các điều kiện này, nói cách khác, chúng chính là những nhân tố
ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng. Có thể chia các
nhân tố thành hai nhóm như sau:
Nhóm nhân tố bên trong cộng đồng
- Đặc tính của cộng đồng: Bao gồm những đặc tính cơ bản như quy mô dân số,
sinh kế, quy mô, thu nhập hộ gia đình, trình độ học vấn, độ tuổi của chủ hộ…
• Tham gia các cuộc họp cộng đồng để lập kế hoạch.
đồng rất tin tưởng vào tính công bằng, chính xác của chúng, nhất là khi những phong
tục, tập quán được ghi lại thành hương ước, quy ước. Để điều chỉnh tốt mối quan hệ
TPB làm lý thuyết cơ sở để tìm hiểu các nhân tố tác động lên hành vi tham gia quản lý
tài nguyên nước của cộng đồng.
với cộng đồng cũng như trong cộng đồng, cần có sự kết hợp hài hòa, hỗ trợ, bổ sung
giữa các quy phạm pháp luật và phong tục, tập quán.
vi hợp lý (TRA). TPB cho rằng hành vi của con người được quyết định bởi ý chí, suy
nghĩ của họ. Một người càng có ý định mạnh mẽ để thực hiện một hành vi thì khả năng
Nhóm nhân tố bên ngoài cộng đồng
- Khung pháp lý về sự tham gia của cộng đồng: Trong bối cảnh vai trò quản lý tài
nguyên – môi trường nói chung chủ yếu thuộc về nhà nước, cộng đồng chỉ có thể tham
gia quản lý nếu như có khung pháp lý vững chắc, tạo điều kiện cho họ đóng góp ý
tưởng, nguồn lực, đồng thời đảm bảo quyền lợi của họ liên quan đến khai thác, sử
dụng tài nguyên.
- Mối quan hệ của cộng đồng với chính quyền và các bên liên quan: Thông
Lý thuyết hành vi dự kiến (TPB) được Ajzen (1991) mở rộng từ lý thuyết hành
họ thực hiện hành vi đó trong thực tế càng lớn. Sức mạnh của dự định bị chi phối bởi
ba nhân tố: thái độ (attitude), chuẩn mực chủ quan (subjective norm) và nhận thức
kiểm soát hành vi (perceived behavioural control) (Hình 2.2).
Thái độ phản ánh đánh giá của mỗi cá nhân khi thực hiện một hành vi nhất
định. Họ có thể đánh giá hành vi ấy là tích cực hoặc tiêu cực. Chuẩn mực chủ quan bị
chi phối bởi sức ép mà mỗi cá nhân cho rằng họ phải chịu hoặc cái mà họ nghĩ những
khăn cho thiết kế nghiên cứu. Đồng thời, các thang đo cho các giai đoạn lại chưa được
Thái độ
Chuẩn mực chủ
quan
Hành vi
Dự định
Nhận thức kiểm
soát hành vi
Hình 2.2: Lý thuyết hành vi dự kiến
chuẩn hóa và kiểm định nên việc giải thích và kiểm định kết quả nghiên cứu có thể
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
Nguồn: Kilic và Dervisoglu (2013).
36
37
Lý thuyết hành vi dự kiến cho rằng thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức
là anh ta “mong muốn được thực hiện theo”. Nhận thức kiểm soát hành vi có cơ sở là
áp dụng trong một số nghiên cứu như ý định sử dụng hệ thống tàu điện ngầm metro ở
thành phố Hồ Chí Minh (Đặng Thị Ngọc Dung, 2012), ý định vay vốn của các hộ cá
một loạt các niềm tin về sự kiểm soát (control beliefs) và tầm ảnh hưởng của niềm tin
đó. Niềm tin về sự kiểm soát được phản ánh qua việc họ nghĩ có những nhân tố nào sẽ
thể (Phạm Hồng Mạnh và Đồng Trung Chính, 2013), nhân tố ảnh hưởng đến sự quan
tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh
tác động tiêu cực hoặc tích cực lên một hành vi nhất định. Tầm ảnh hưởng của niềm
tin về sự kiểm soát là đánh giá chủ quan của cá nhân tác động của các nhân tố tiêu cực
Nghệ An (Nguyễn Xuân Cường và cộng sự, 2014). Nguyễn Diệu Hằng và cộng sự
(2016) đã sử dụng lý thuyết hành vi dự kiến để nghiên cứu hành vi sử dụng nước, gồm
hoặc tích cực lên hành vi của họ.
tiết kiệm nước và bảo vệ nguồn nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
Kết quả cho thấy có hai nhân tố TPB cùng ảnh hưởng đến hành vi bảo vệ tài nguyên
Theo lý thuyết hành vi dự kiến, có thể dự đoán được hành vi của một người từ
dự định của họ với hai điều kiện. Thứ nhất, phải đo được dự định và hành vi trong
cùng mối quan hệ với mục đích, hành động, bối cảnh và thời gian của hành vi. Thứ
hai, khoảng thời gian giữa dự định và hành vi phải ngắn nhất có thể để đảm bảo cá
nước là thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi với tác động thuận chiều, phù hợp với
lý thuyết TPB. Ngoài ra, lý thuyết này chưa phổ biến ở Việt Nam trong lĩnh vực quản
lý tài nguyên – môi trường.
thủ chính sách”. Cấp độ thông báo còn bao gồm hành vi tham gia các buổi họp người
cộng đồng.TPB được áp dụng cũng tương đối phổ biến để tìm hiểu quan điểm, thái độ,
động cơ, dự định của cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến tài nguyên - môi
dân vì ít nhất khi tham gia các buổi họp, mỗi người có cơ hội được tiếp cận với thông
tin về chính sách quản lý tài nguyên nước hiện tại. Hành vi “đóng góp ý kiến” của
trường trong đó có tài nguyên nước. Mô hình hồi quy TPB của Tonglet và cộng sự
cộng đồng cho thấy cộng đồng được hỏi ý kiến và có thông tin phản hồi lại với quá
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
38
39
trình ra quyết định quản lý. Tức là cộng đồng tham gia quản lý ở cấp độ “được tham
kê các giá trị mà tài nguyên nước mang lại cho cá nhân bằng các phát biểu phản ánh cả
vấn”. Hai hành vi “đóng góp công sức, tài chính” và “cử người đại diện tham gia quản
lý” phản ánh cộng đồng có cơ hội được tham gia quản lý nhưng vai trò quản lý chính
giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng của tài nguyên nước ở Alberta, Canada. Các giá
trị được đưa ra gồm: sự hài lòng khi thế hệ tương lai có nước để sử dụng;chất lượng
Đóng góp ý kiến trong các buổi họp lấy ý
kiến và đóng góp ý kiến qua các kênh
khác
Đóng góp công sức, tài chính để góp phần
bảo vệ tài nguyên nước
Cử đại diện cùng tham gia quản lý hồ
Thác Bà
Được tham vấn
nguyên nước tại địa bàn nghiên cứu và phù hợp với bối cảnh Việt Nam, nghiên cứu
này đưa ra các phát biểu về nhận thức về giá trị của tài nguyên nước để đưa vào điều
tra. Các nghiên cứu trước không chỉ rõ chiều tác động của nhận thức về từng giá trị lên
hành vi liên quan đến tài nguyên – môi trường mà điều này tùy thuộc vào từng giá trị,
từng hành vi và từng cộng đồng dân cư. Như vậy giả thuyết ở đây là: Nhận thức của
cộng đồng về giá trị của tài nguyên nước là biến số có ý nghĩa, có tác động lên dự
kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước.
Cuối cùng, các biến kinh tế - xã hội có tác động lên dự kiến hành vi. Tác động
của các biến này cũng khác nhau tùy vào từng nghiên cứu. Luận án này giả định các
biến được đưa vào xem xét và tác động của nó như sau:
- Mục đích sử dụng nước: các thành viên cộng đồng sử dụng nước cho các
mục đích khác nhau (sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp…) có dự định tham
Cùng thực hiện
Nguồn: Tổng kết của tác giả.
Luận án này sử dụng lý thuyết TPB để tìm hiểu các nhân tố tác động đến từng
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng như đã trình bày trong phần
2.2. Như vậy mỗi dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước được giả định
chịu tác động của 3 nhân tố:
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước.
dân tộc có tác động lên dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước.
đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước. Russenberger và cộng sự (2012) đã liệt
- Trình độ học vấn: Nghiên cứu của Sheikh và cộng sự (2014) ở Malaysia cho
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
40
41
- Quy mô hộ gia đình: Quy mô hộ gia đình khác nhau dẫn tới nhu cầu sử dụng
nước khác nhau, vì vậy có thể kỳ vọng biến này có tác động lên dự kiến hành vi tham
gia quản lý tài nguyên nước.
- Thu nhập: Thu nhập phản ánh mức sống của thành viên cộng đồng. Chiều
tác động của nhân tố này lên dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước là
không rõ ràng, ví dụ có người có thu nhập cao sẽ mong muốn tham gia nhiều hơn vào
quá trình quản lý, do vậy thu nhập cao dẫn đến dự định tham gia mạnh hơn. Ngược lại,
có thể lập luận rằng vì sinh kế của người có thu nhập thấp phụ thuộc tài nguyên nước,
và sinh kế của họ sẽ bị ảnh hưởng khi tài nguyên nước bị quản lý kém hiệu quả, vì vậy
người đó sẽ có dự định tham gia nhiều hơn vào quản lý tài nguyên nước. Do vậy trong
nghiên cứu này giả định thu nhập là biến có tác động lên dự kiến hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước.
Bảng 2.2. Giả thuyết về các nhân tố tác động vào dự kiến hành vi tham gia
(2012)
Mục đích sử dụng nước
Tùy từng mục đích
Tuổi
Cùng chiều
Dân tộc
Tùy từng dân tộc
Trình độ học vấn
Cùng chiều
Sheikh và cộng sự (2014)
Hamid (1996), Sheikh và
cộng sự (2014)
Quy mô hộ gia đình
Tùy từng cộng đồng
Thu nhập
Tùy từng cộng đồng
thực hiện thông qua nghiên cứu định lượng.
Nguồn: Tổng kết của tác giả.
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Hotline: 092.4477.999
Web: luanvanaz.com - Mail:
42
43
đồng dân cư toàn bộ vùng chịu tác động bởi tài nguyên nước hồ Thác Bà. Nghiên cứu
này chỉ giới hạn ở cộng đồng vùng hồ Thác Bà nên sẽ không xem xét các hình thức
cộng đồng tham gia quản lý cao đòi hỏi phạm vi địa lý của nghiên cứu rộng hơn. Do
Hiện trạng sử dụng nước
tại hồ Thác Bà
đó, cấp độ đối tác và chủ trì không được đưa vào mô hình nghiên cứu.
Cộng
đồng sử
dụng nước
Quản lý tài nguyên
nước có sự tham gia
của cộng đồng
Nhà nước
• Đóng góp ý kiến trong các buổi họp lấy ý kiến và đóng góp ý kiến qua các
kênh khác (cấp độ tham vấn)
• Đóng góp công sức, tài chính để góp phần bảo vệ tài nguyên nước hồ (cấp
độ cùng thực hiện)
• Cử đại diện cùng tham gia quản lý hồ Thác Bà (cấp độ cùng thực hiện)
Mô hình xác định các nhân tố tác động đến hành vi tham gia quản lý
Phân tích kết quả
1. Đánh giá khó khăn, thuận lợi khi cộng đồng tham gia
quản lý tài nguyên nước
2. Phân tích các yếu tố tác động lên hành vi tham gia của
cộng đồng
Từ lý thuyết TPB và tổng quan các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này giả
định hành vi tham gia quản lý của cộng đồng phụ thuộc các biến TPB gồm thái độ,
chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và đặc điểm kinh tế xã hội cũng như
nhận thức về giá trị của tài nguyên nước.
Mối quan hệ giữa các biến được thể hiện qua mô hình sau:
Đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia
của cộng đồng trong quản lý tài nguyên
nước hồ Thác Bà
Hình 3.1: Khung nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả.
3.2. Mô hình và các biến nghiên cứu
DKHVTG = β1 x TĐ + β2 x CMCQ + β3 x NTKSHV + β4 x honuocmay + β5 x