TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
------ oOo ------
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN LUẬT CẠNH TRANH
ĐỀ TÀI THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC
NHÓM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: NHÓM 6
Bình Dương, năm 2018
2
DANH SÁCH NHÓM
Họ Và Tên
1
2
3
4
5
6
Hoàng Duy
Trần Duy Khá
Nguyễn Mạnh Tuấn
Nguyễn Khương Duy
Nguyễn Hữu Luân
Nguyễn Thị Ly
2.2.
Xử lí Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh_____________________11
2.2.1. Quy định của pháp luật về xử lí hành vi cạnh tranh không lành
mạnh ________________________________________________________11
2.2.2. Căn cứ xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh_____________12
2.2.3. Chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh________12
2.3.
Sự thay đổi về quy định Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
Luật Cạnh tranh 2018_______________________________________________14
2.4.
Kiến nghị hoàn thiện_________________________________________15
Kết luận__________________________________________________________17
Danh mục tài liệu tham khảo_________________________________________18
Bảng phân công công việc____________________________________________19
4
THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH
VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Phần mở đầu
Cạnh tranh trong kinh doanh là một hoạt động tất yếu trong nền kinh tế thị
trường. Hoạt động này thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế cũng như xã hội. Tuy
nhiên, hoạt động cạnh tranh bao giờ cũng gây rất nhiều áp lực đối với các doanh
nghiệp trên thương trường. Với mục đích duy trì sự tồn tại, mở rộng thị phần cũng
5
tế là sự chạy đua giữa các “doanh nghiệp” trên thị trường nhằm không ngừng tung ra thị
trường những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất với giá cả thấp nhất nhằm thu hút, lôi kéo khách
hàng về phía mình, cùng với mục định tối ưu hóa lợi nhuận có thể đạt được của doanh
nghiệp. Vì thế nhiều doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh theo nhiều hình thái khác
nhau, và một trong số đó là hình thái “Cạnh tranh không lành mạnh”. Vậy hành vi cạnh
tranh không lành mạnh sẽ được hiểu như thế nào? Và nó sẽ có tác động như thế nào đến
nền kinh tế thị trường?
Cạnh tranh không lành mạnh
Dựa trên tính chất của các hành vi cạnh tranh, có thể chia cạnh tranh thành hai hình
thái là: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Cạnh tranh lành mạnh là các hành vi cạnh tranh thực hiện tuân theo các nguyên tắc
của pháp luật, tập quán kinh tế hay các chuẩn mực khác của kinh doanh.
Cạnh tranh không lành mạnh là một hình thái đối lập với cạnh tranh lành mạnh về tính
chất của hành vi. Khi các doanh nghiệp thực hiện các hành vi cạnh tranh mà trái với
nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán kinh tế hay các chuẩn mực khác trong kinh
doanh dẫn đến việc gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho quyền, lợi của các
doanh nghiệp khác, thì đây được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Một hành
vi được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh phụ thuộc vào các nguyên tắc cũng
như tập quán thương mại hay các chuẩn mực khác trong kinh doanh. Mặc khác sự vận
động của xã hội và nhận thức của các quốc gia sẽ thay đổi về các nguyên tắc, tập quán
hay các chuẩn mực đó. Vì vậy, khái niệm cạnh tranh không lành mạnh chỉ có tính chất
tương đối.
I.1.2. Đặc điểm Cạnh Tranh không lành mạnh
Dựa trên khái niệm đã trình bày có thể thấy rõ ba đặc điểm cơ bản thể hiện bản chất
của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Thứ nhất, Hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh.
thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ biến đổi cũng như thay đổi không ngừng
trên thực tế mà khó có thể định hình rõ ràng và đầy đủ về những hành vi nào là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ ba, hành vi gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp
pháp của doanh nghiệp khác.
Một hành vi cạnh tranh khi thực hiện gây ra thiệt hại thực tế hoặc có khả năng gây
thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác. Theo Luật Chống cạnh
tranh không lành mạnh của Cộng hòa liên bang của Đức, cấm “các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh có thể gây ảnh hưởng đáng kể về cạnh tranh làm tổn hại đến đối thủ
cạnh tranh, người tiêu dùng và các chủ thể tham gia thị trường khác”. Luật Cạnh
tranh thương mại của Vương quốc Thái Lan cũng có quy định tương tự: “Thương
nhân không được tiến hành các hoạt động cạnh tranh không tự do và không bình
đẳng, không được tiến hành các hoạt động gây thiệt hại, cản trở hoặc hạn chế đối với
những hoạt động của những thương nhân khác…”2. Có thể thấy đây là đặc điểm để
phân biệt giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh so với các thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh. Trong khi các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất hành động của
nhóm doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh, hạn chế khả năng
hành động độc lập của đối thủ cạnh tranh, làm thay đổi tình trạng và quy luật cạnh
tranh trên thị trường. Thoả thuận hạn chế cạnh tranh, không cần phải xác định chính
xác đối tượng và mức độ thiệt hại vật chất cụ thể, chỉ cần phân tích bản chất và diễn
biến của hành vi để kết luận về những tác động của nó đến tình hình cạnh tranh trên thị
trường liên quan. Còn ở hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải xác định được mức
độ gây thiệt hại hoặc khả năng gây thiệt hại của hành vi mà các chủ thể thực hiện.
I.2.
Các Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh
2 ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.
Có thể là hành vi để triệt tiêu, hành vi làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của các
đối thủ cạnh tranh. Hành vi nhóm này thường được thực hiện dưới các hình thức
rất đa dạng, nó phụ thuộc vào mục đích công kích. Hành vi này có thể là đưa thông
tin sai sự thật nhằm là giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh hay lôi kéo, ép buộc khác
hàng hay các đối tác của đối thủ cạnh tranh. Hành vi ép buộc trong kinh doanh;
hành vi gièm pha doanh nghiệp khác; hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp khác đây là các hành vi được ghi nhận trong pháp luật cạnh tranh
Việt Nam được ghi nhận nằm trong nhóm hành vi này. “Hành vi ép buộc trong
kinh doanh” phương thức thực hiện hành vi này là dùng áp lực để đe dọa hoặc
thực hiện cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doanh không giao dịch hoặc ngừng
3 ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.
8
giao dịch với chính đối thủ cạnh tranh của mình. Mục đích thực hiện hành vi là
nhằm lôi kéo khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của đối thủ cạnh tranh để họ
ngừng giao dịch hoặc không thực hiện giao dịch với doanh nghiệp đó, làm giảm
lượng khách hàng cũng như đối tác làm ăn của đối thủ cạnh tranh với mình.
“Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác” đây là hành vi đưa thông tin sai sự thật
về đối thủ cạnh tranh nhằm là suy giảm uy tín của đối thủ. Hành vi này có thể hình
thành dưới các dạng hình thức như nói xấu, bôi nhọ chất lượng hàng hóa, dịch vụ,
cách thức bán hàng, hay tiềm lực tài chính của đối thủ cạnh tranh. Hành vi này có
thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp không nhất thiết doanh nghiệp này phải
có hành vi trực tiếp thực hiện hành vi gièm pha. “Hành vi gây rối hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp khác” xâm phạm trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh, cụ thể
là quấy phá, gây rối với các hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh. Mục
đích của hành vi này là cản trở, gián đoạn hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh
tranh. Hành vi này có thể được doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc thông qua
một chủ thể khác thực hiện, hành vi này ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động
mạnh và Kiện nghị hoàn thiện
II.1.
Thực trạng Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh tại Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, thì các hoạt động cạnh tranh đang diễn
ra một cách khốc liệt, mang lại sự phát triển cả về mặt kinh tế lẫn các mặt khác của đời
sống xã hội. Nhưng một số doanh nghiệp vì muốn chiếm ưu thế cạnh tranh để tăng lợi
nhuận đã không thực hiện các hoạt động cạnh tranh một cách lành mạnh mà sử dụng
những phương thức thủ đoạn khác nhau thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh mà pháp luật quy định cấm thực hiện.
Hơn thế nữa, hiện nay những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã có
những tác động không hề nhỏ đến tình hình chung của mọi mặt đời sống xã hội mà còn
tác động đến hoạt động cạnh tranh. Một số doanh nghiệp đã lợi dụng những thành tựu đó,
đặc biệt là các thành tựu trong công nghệ thông tin và Internet để thực hiện các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh. Hiện nay khi thương mại điện tử phát triển một cách cực
thịnh, người tiêu dùng có thể mua bất cứ hàng hóa, dịch vụ nào ở bất cứ thời gian, bất cứ
nơi nào chỉ với một cú “Click” thông qua các trang bán hàng hay mạng xã hội. Nhưng họ
lại không thể xác định rõ các xuất xứ, công dụng, mẫu mã, chất lượng, … nhưng thông tin
chỉ được biết theo một chiều từ doanh nghiệp cung cấp mà khách hàng khó có thể kiểm
chứng. Không ít các doanh nghiệp đã lợi dụng điểm này nhằm thực hiện các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh như: quảng cáo không trung thực về hàng hóa, chỉ dẫn gây nhầm
lẫn,… Không những thế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng cũng tăng
cao khi mà việc sản xuất một mặt hàng là không thể đơn giản hơn với các thành tựu của
công nghệ hiện nay. Vậy trong những năm gần đây đã có bao nhiều vụ vi phạm quy định
về Hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị điều tra, xử lí?
Thông qua báo cáo thường niên của Cục quản lý cạnh tranh 4, dưới đây là bảng thống
kê điều tra vụ việc cạnh tranh trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2015.
Bảng thống kê điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh.
37
2
6
24
2
2
4
1
Quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành
mạnh
Khuyến mại nhằm
cạnh tranh không lành
mạnh
Gièm pha doanh
nghiệp khác
Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Bán hàng đa cấp bất
chính
2
3
7
28
Tình hình của các vụ việc vi phạm quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
có diễn biến phức tạp trong những năm qua. Hành vi vi phạm chiếm đa số là hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Trong năm 2015, Cục Quản lý cạnh tranh đã tiến hành điều tra tố 46 vụ việc liên quan
đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh, qua đó khởi xướng điều tra 28 vụ việc đồng thời
hoàn thành điều tra và ban hành quyết định xử lý đối với 02 vụ việc khởi xướng từ năm
2014. Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh được khởi xướng điều tra trong năm
2015 chủ yếu là: Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn, quảng cáo so sánh
trực tiếp, bán hàng đa cấp bất chính.
Trong năm 2016 Cục Quản lý Cạnh tranh cũng thực hiện hàng loạt xử phạt đối với
nhiều công ty bán hàng đa cấp, 14 công ty bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động
bán hàng đa cấp, 11 doanh nghiệp tạm ngừng và chấm dứt hoạt động. Hiện số doanh
11
nghiệp hoạt động giảm từ 67 công ty trong năm 2015 xuống còn 40 doanh nghiệp hoạt
động trong năm 2016. Số người tham gia bán hàng đa cấp giảm còn khoảng 500.000
người, giảm 57% so với cùng kỳ năm 2015 là khoảng 1,2 triệu người. Đầu năm 2017 Cục
Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) cũng thực hiện chấm dứt hoạt động kinh doanh
của hai doanh nghiệp đa cấp là Công ty TNHH Triwonder International và Công ty
TNHH Isagenix Việt Nam vì lý do công ty này không triển khai hoạt động bán hàng đa
cấp trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt
động bán hàng đa cấp5.
quan này có chức năng chính là là giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà
nước về cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống bán phá giá, chống trợ cấp
và tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam được quy định trong Nghị
5 Bình Nguyên, Thêm hai công ty đa cấp bị xóa sổ, 20/02/2017
12
định số 06/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/01/2006 quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh. Cục Quản lý cạnh tranh là cơ
quan có chức năng tiến hành điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được
quy định trong Luật Cạnh tranh.
II.2.2.
Căn cứ xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Thứ nhất, phải có hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Hành vi cạnh tranh có bản
chất là hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh, hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh
nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo.
Thứ hai, phải có thiệt hại hoặc khả năng thiệt hại trong cạnh tranh không lành mạnh.
Thiệt hại là một đặc điểm cơ bản của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và là điểm
phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Việc xác
định thiệt hại hay khả năng gây thiệt hại là một yêu cầu bắt buộc và cần thiết để bên bị hại
có căn cứ đòi bồi thường và cơ quan có thẩm quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
hay các chế tài khác để xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và
thiệt hại. Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là mối quan hệ trực tiếp,
không phải là sự suy diễn chủ quan. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi diễn
ra trước, thiệt hại trực tiếp do hành vi đó gây ra xảy ra sau. Bên thực hiện hành vi cạnh
tranh không lành mạnh chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý và các chế tài tương ứng khi gây
vi cạnh tranh không lành mạnh nhất định.
Chế tài hình sự
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
được quy định tại chương XVIII Bộ Luật hình sự 2015. Cụ thể các tội phạm khác xâm
phạm trật tự quản lí kinh tế: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192); Tội sản xuất,
buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo
vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 195); Tội cố ý công bố thông tin sai lệch
hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 209); Tội sử dụng thông
tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210); Tội thao túng thị trường chứng khoán (
Điều 211); Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Điều 217); Tội vi phạm quy định về
kinh doanh theo phương thức đa cấp (Điều 217a); Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền
liên quan (Điều 225); Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226). Hình phạt
áp dụng đối với các tội danh trên thường là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc tù có
thời hạn. Ngoài ra, còn có thể áp dụng các biện pháp tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài
sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
Chế tài dân sự
Bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng trong hệ thống chế tài áp dụng đối
với hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chức năng chủ yếu của bồi thường thiệt hại
là khôi phục, đền bù, nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần mà bên
mang quyền phải gánh chịu do hành vi vi phạm các quy tắc trong kinh doanh của bên
kia gây ra. Theo Điều 6 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/07/2014, xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh thì vấn đề bồi thường thiệt hại được dẫn chiếu thực
hiện theo các quy định của pháp luật về dân sự. Vấn đề khởi kiện đòi bồi thường thiệt
hại đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ được áp dụng theo các quy định về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tại chương XX của Bộ luật dân sự
2015 và pháp luật có liên quan.Yêu cầu bồi thường thiệt hại là một quyền mặc định
được pháp luật thừa nhận, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể bị xâm
cách cụ thể. Để khi áp dụng vào thực tiễn không diễn ra sự khó hiểu hay hiểu sai
tinh thần của Luật cạnh tranh 2018.
b) Bổ sung một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh mới vào luật cạnh tranh Việt
Nam
Các quy định về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghệ
trong luật cạnh tranh 2018 chỉ mang tính liệt kê song vẫn chưa bao quát hết được
các trường hợp trong thực tế. Điển hình hành vi chiếm đoạt tên miền trên internet
cần được bổ sung vào hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra các hành vi
như “ chấm dứt đột ngột quan hệ kinh doanh với các đối tác” mà không thông báo
trước một thời gian hợp lý hay hành vi “từ chối kinh doanh không có lý do chính
đáng” hoặc “phân biệt về giá” những hành vì này xảy ra khá phổ biến trong thực tế
kinh doanh và gây hậu quả tương đối nghiêm trọng vì vậy nên bổ sung 3 hành vi
này vào hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
c) Đề xuất về địa chỉ áp dụng của luật cạnh tranh năm 2018
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của hầu hết các nước đều quy định
tất cả các chủ thể tham gia thị trường nhằm mục đích cạnh tranh đều là địa chỉ áp
dụng của luật chứ không chỉ bó hẹp là doanh nghiệp như luật cạnh tranh của Việt
Nam. Do vậy, để đảm bảo tính hiệu quả và tác động đến tất cả các đối tượng tham
gia trên thị trường thì luật cạnh tranh 2018 cần được áp dụng cho tất cả các chủ thể
tham gia trên thị trường với mục đíc cạnh tranh.
2. Về thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Về năng lực và thẩm quyền của các cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như những
quy định của Luật Cạnh Tranh còn nhiều hạn chế. Vì vậy mặc dù số lượng hành vi
16
cạnh tranh không lành mạnh ngày càng gia tăng với tính chất ngày càng phức tạp
song số vụ được các cơ quan đứng ra giải quyết tranh chấp còn hạn chế, chưa
tương xứng nhu cầu. Do có sự chồng chéo về thẩm quyền trong việc xử lý hành vi
như thế nào về những hoạt động mà họ quan tâm. Vì vậy các doanh nghiệp cần
nâng cao nhận thức về pháp luật cạnh tranh đồng thời cũng nâng cao ý thức tự
bảo vệ mình trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ cạnh
tranh.
17
b) Khả năng tự bảo vệ của người tiêu dùng
Thực tế hiện nay những hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn làm xâm hại
đến quyền lợi của người tiêu dùng và còn có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe
và tính mạng của họ nữa. Điều đáng lo là kiến thức tiêu dùng của người Việt
Nam còn thấp. Vì vậy mỗi người tiêu dùng hãy tự cập nhật học hỏi và bổ sung
kiến thức cho mình để tự bảo về lợi ích chính đáng của mình. Người tiêu dùng
cần phải mạnh khiếu nại tố cáo tới các cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu đổi
hàng hóa đúng chất lượng, đòi bồi thường thiệt hại cho mình và bảo về quyền
lợi cho cộng đồng người tiêu dùng.
Kết luận
Qua tìm hiểu về thực tiễn áp dụng quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
có ý nghĩa trong công cuộc đấu tranh phòng chống hành vi vi phạm pháp luật Cạnh tranh.
Từ đó, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, công cuộc lập pháp luôn nắm
vai trò quan trọng và thiết yếu trọng sự phát triển của kinh tế - xã hội. Để có được một
môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, công bằng, đảm bảo phát huy mọi tiềm
năng kinh tế của đất nước và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì Việt Nam cần
có một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và hoàn thiện, có cơ chế đảm bảo cho các
doanh nghiệp trong nước phát huy mọi nội lực, tăng sức cạnh tranh trên thương trường,
đảm bảo cho các doanh nghiệp nước ngoài một môi trường kinh doanh công bằng, thuận
lợi. Để công tác đấu tranh phòng, chống cạnh tranh không lành mạnh phát huy hiệu quả
trong thực tế thì bên cạnh việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật của cơ quan Nhà
9. ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh
năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.
10.Vũ Thùy Dương, Tiểu luận hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
19
Bảng phân công công việc
Công việc
Chọn đề tài, Xây dựng đề cương
Phần mở đầu
Chương I
Mục 1.1
Chương II
Mục 1.2
Mục 2.1
Mục 2.2
Mục 2.3
Mục 2.4
Kết luận
Tổng Hợp, chỉnh sửa nội dung
Thiết kế, Trình bày bài Tiểu luận
Xây dựng bài Thuyết trình
Thiết kế, trình bày bài thuyết trình
Mục 1.1.1
Mục 1.1.2
Mục 2.2.1