CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
I. Cơ sở lý luận
Tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ quốc tế thông dụng nhất hiện
nay. Ngày nay, tiếng Anh được sử dụng ở hầu hết mọi lĩnh vực trong cuộc sống.
Vì thế, việc học và sử dụng tiếng Anh ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết.
Ở Việt Nam, những năm gần đây Tiếng Anh được đưa vào học trong chương
trình bậc tiểu học và đang dần trở thành môn học bắt buộc và bước đầu đã thu
được những kết quả đáng mừng. Vì vậy, nhiệm vụ giáo dục của các cấp giáo dục
và đào tạo trong năm học 2017-2018 đều nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng dạy
học ngoại ngữ, Tin học, đặc biệt là Tiếng Anh, chuẩn bị tốt cho việc triển khai
các môn học này trong Chương trình giáo dục phổ thông mới.” Học tiếng Anh
ở tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng
Anh thông qua các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Đồng thời, việc học tiếng Anh là
một trong những điểm khởi đầu góp phần cho việc hình thành và phát triển kĩ
năng học tập suốt đời; năng lực làm việc trong tương lai và khả năng tham gia
các hoạt động văn hóa, xã hội. Hơn nữa, học tiếng Anh ở tiểu học còn tạo nền
tảng cho việc tiếp tục học tiếng Anh ở các bậc học tiếp theo cũng như học các
ngôn ngữ cần thiết khác trong tương lai. Do vậy, việc học Tiếng Anh ở bậc tiểu
học rất đáng được coi trọng.
Tuy nhiên, để việc sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh như một công cụ giao
tiếp hiệu quả thì đòi hỏi phải có vốn từ vựng phong phú. Học từ vựng đóng vai
trò vô cùng quan trọng trong quá trình học ngoại ngữ. Theo Wilkins (1972), nếu
người học không học ngữ pháp thì họ chỉ có thể truyền đạt được rất ít ý tưởng
của mình. Nhưng nếu họ không có vốn từ vựng nhất định, họ hoàn toàn không
thể diễn tả được điều gì trong giao tiếp. Như vậy, từ vựng là công cụ giúp người
học có thể tiến hành giao tiếp thành công. Ngoài ra, từ vựng là nền tảng để phát
triển các kỹ năng ngôn ngữ khác như: đọc hiểu, nghe hiểu, nói, viết...Nhận thức
được tầm quan trọng này, ngày nay tất cả các phương pháp áp dụng trong giảng
dạy đều chú trọng đến việc dạy từ vựng. Và việc bắt đầu học tiếng Anh luôn gắn
liền với việc học từ vựng.
Vì từ vựng là một ngôn ngữ nên nó được thể hiện giữa hai hình thức: Lời
nông thôn, khi đa phần gia đình học sinh đều thuần nông, phụ huynh khó có khả
năng để hỗ trợ con em mình trong việc học Tiếng Anh. Nên các em học sinh ít
có cơ hội thực hành để nhớ được vốn từ và rèn luyện vốn từ ấy.
Xuất phát từ những trăn trở trên, là một giáo viên dạy Tiếng Anh ở trường
tiểu học Vũ Yển, một xã nông thôn thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, nơi mà
học sinh mới có cơ hội được tiếp cận với môn học này; học sinh không có nhiều
tài liệu để tự tìm tòi, học hỏi nâng cao vốn từ vựng của mình nên tôi lựa chọn đề
tài “Một số thủ thuật giúp học sinh nhớ từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc tiểu
học” để từ vựng không còn là nỗi khó khăn của học sinh khi học Tiếng Anh
nữa.
II. Phương pháp tiếp cận tạo ra sáng kiến
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra giáo dục.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
III. Mục tiêu
Trong môn học Tiếng Anh, từ vựng có ở tất cả các tiết học, các đơn vị bài
học và các kĩ năng. Vì vậy, giúp học sinh học từ, nhớ từ vựng Tiếng Anh là một
hoạt động không thể thiếu trong một tiết học nào. Việc học từ và nhớ từ không
chỉ đơn thuần là việc giúp học sinh nhớ nghĩa của từ mà còn là việc giúp các em
nghe từ, phát âm từ một cách chính xác và áp dụng từ trong giao tiếp bằng Tiếng
Anh. Do đó, việc tìm ra những cách thức giúp các em học từ và nhớ từ lâu là
nhiệm vụ của mỗi giáo viên với mục đích giúp học sinh hiểu từ, sử dụng được từ
vào trong câu theo từng ngữ cảnh và nhớ được từ lâu.
Để phát huy tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập
thì chúng ta cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động
của người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền tải kiến
thức đến học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đó, thì các em
phải tự học bằng chính các hoạt động của mình.
2
học từ vựng và so sánh với kết quả ban đầu.
- Rút ra bài học kinh nghiệm.
CHƯƠNG II: MÔ TẢ SÁNG KIẾN
I. VẤN ĐỀ CỦA SÁNG KIẾN:
1. Thực trạng vấn đề;
Tiếng Anh là một môn học mới được đưa vào giảng dạy đại trà trong
những năm học gần đây ở huyện Thanh Ba nói chung và trường tiểu học Vũ Yển
nói riêng. Tuy nhiên, với bản chất tò mò, thích khám phá cái mới của các em học
sinh tiểu học, các em đã đón nhận và thích nghi với môn học này một cách
nhanh chóng. Song bên cạnh đó vẫn còn một số em học sinh gặp những khó
khăn trong khi học, nhất là việc học và nhớ từ vựng. Đối với các em học sinh
lớp 3, vì mới được tiếp cận với môn học nên các em còn nhiều bỡ ngỡ hơn. Thầy
3
cô, sách giáo khoa và phương pháp học đều mới với các em. Đối với các em học
sinh lớp 4 - 5, các em đã quen dần với việc học tiếng Anh. Song với lượng từ
mới ngày càng nhiều, các em chưa biết cách học cho khoa học để nhớ từ, để
dùng vốn từ vựng của mình phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Các em
học từ mới một cách máy móc, đối phó với thấy cô giáo, chưa có ý thức kiểm tra
lại mình nên hiệu quả không cao. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy và học từ
vựng trong các tiết học là rất cần thiết.
Phần lớn phụ huynh có sự quan tâm tới việc học tiếng Anh của con em
mình. Tuy nhiên, đa số phụ huynh trình độ tiếng Anh còn hạn chế nên không thể
hỗ trợ việc học ở nhà của con em mình. Các em học sinh cũng không có nhiều
cơ hội tiếp cận với các phương thức học tiếng Anh ngoài nhà trường như các
chương trình học tiếng Anh qua mạng Internet.
Về phía giáo viên: Tỷ lệ giáo viên tiếng Anh ở các trường tiểu học trong
huyên Thanh Ba nói chung còn thấp. Đa số mỗi trường chỉ có một giáo viên
Trang thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế: Với bản chất tò mò, ham học
hỏi, cùng với khả năng cảm nhận thế giới từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, tất cả học sinh cùng chung một ý kiến rằng các em rất thích giáo viên sử
dụng giáo cụ trực quan trong các giờ dạy Tiếng Anh. Nhưng trong thực tế giảng
dạy, một số tiết học cần đến vật thật hoặc tranh ảnh minh họa cho các em vẫn
còn nhiều hạn chế. Vì đây là lứa tuổi rất năng động, các em rất thích khám phá
đồ vật bằng mắt thấy, tai nghe nên đồ dùng trực quan ảnh hưởng rất lớn đến việc
học Tiếng Anh. Bên cạnh đó trường tôi vẫn chưa có phòng Lab, phòng nghenhìn dành riêng cho bộ môn Tiếng Anh. Việc mua sắm trang thiết bị gia đình
4
phục vụ công việc tự học Tiếng Anh tại gia đình của các em không phải ai cũng
có được.
Cơ hội thực hành Tiếng Anh ít: trường Tiểu học Vũ Yển đóng trên địa bàn
xã Vũ Yển, một xã nông thôn mới của huyện Thanh Ba. Học sinh ở đây chưa
được ứng dụng thực tế những gì mình học trong giao tiếp hằng ngày. Các em
không có cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài để có thể chào hỏi xã giao vài
câu Tiếng Anh. Phạm vi học và thực hành Tiếng Anh chỉ có được trong lớp học.
Chính vì thế mà học sinh cảm thấy học như bị bắt buộc, học để lấy điểm cao là
chủ yếu, các em chưa ý thức được học Tiếng Anh để có thể sử dụng làm phương
tiện giao tiếp sau này.
Hạn chế về thời gian và các hình thức trò chơi: Học sinh ở bậc tiểu học
còn nhỏ nên tốc độ viết của các em còn chậm. Đây là một lí do chủ yếu dẫn đến
việc hạn chế thời gian tổ chức các trò chơi. Bên cạnh đó các hình thức trò chơi
vẫn chưa được tổ chức phong phú. Đặc biệt là học sinh tiểu học rất thích học
Tiếng Anh có lồng ghép vào các trò chơi. Điều này là rất tốt vì phần nào giáo
viên đã làm được việc: Học mà chơi, chơi mà học.
Động cơ và ý thức học tập chưa cao: Môn Tiếng Anh ở bậc tiểu học vẫn là
môn học tự chọn nên một số phụ huynh và học sinh chưa ý thức được tầm quan
hơn. Học sinh không có cơ hội vận dụng ngoại ngữ, thực hành vào các tình
huống giao tiếp hàng ngày, vì vậy học sinh không có điều kiện để rèn luyện các
kỹ năng.
- Sau cùng là trang thiết bị, đồ dùng dạy học: Thiết bị dạy học cần thiết
như băng, đĩa máy cassette hầu hết các trường đều có trang bị. Tuy nhiên còn rất
nhiều trường, máy casette quá cũ hoặc chất lượng sử dụng không tốt dẫn đến
việc giáo viên phải đọc cho học sinh. Sách tham khảo, các loại từ điển, tranh ảnh
và các đồ dùng khác còn hạn chế nhiều. Chưa có phòng học riêng theo đặc thù
của bộ môn này.
4. Tính cấp thiết cần tạo ra Sáng kiến.
Trước thực trạng trên, với vai trò là một giáo viên, tôi đã tự đặt ra cho
mình câu hỏi: Làm thế nào để học từ vựng không còn là một vấn đề khó đối với
học sinh? Làm thế nào để học sinh có thể nhớ từ vựng ngay trên lớp và áp dụng
từ vào phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết? Làm thế nào để các giờ học
tiếng Anh trở nên sôi nổi, không còn khô khan, cứng nhắc? Làm thế nào để các
em học sinh yêu thích môn học tiếng Anh?
Tôi đã tìm tòi, nghiên cứu áp dụng các kỹ năng dạy từ vựng, cụ thể là các
kỹ năng giới thiệu và kiểm tra từ vựng đối với học sinh sao cho phù hợp và có
hiệu quả tốt, cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực, phát huy tính
chủ động sáng tạo và năng lực tự học của học sinh để nâng cao chất lượng giáo
dục môn tiếng Anh nói riêng và chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung.
Đó là lý do tôi chọn đề tài “Một số thủ thuật giúp học sinh nhớ từ vựng
môn Tiếng Anh ở bậc tiểu học” với hy vọng góp một phần nhỏ bé vào việc
nâng cao chất lượng học tập bộ môn Tiếng Anh cho các em học sinh tiểu học.
II. GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
Từ thực tế việc dạy Tiếng Anh nói trên, tôi đưa ra một số thủ thuật giúp
học và nhớ từ cho học sinh ở bậc tiểu học. Các thủ thuật trong đề tài này cũng đã
được đề cập nhiều trong các tài liệu hướng dẫn giảng dạy ở bộ môn Tiếng Anh.
Tuy nhiên làm thế nào để áp dụng các thủ thuật đó một cách có hiệu quả thì đòi
hỏi giáo viên phải biết cách chọn lọc và tổ chức thực hiện các thủ thuật ấy một
học bài nào? Mục đích cũng làm tăng thêm sự chú ý cũng như không khí trong
lớp học thỏa mái dễ chịu.
Sắp xếp những học sinh nhút nhát ngồi phía bàn trên gần giáo viên để tiện
lắng nghe và tạo cơ hội động viên khích lệ trẻ.
Giáo viên phải nghiên cứu bài giảng trước khi lên lớp, viết tóm tắt định
hướng tiết dạy nhằm tìm ra mối liên quan giữa bài trước với bài sau, phần nào
nên dạy trước phần nào sẽ dạy sau trong tiết dạy để học sinh dễ hiểu bài.
Nếu dạy bằng máy giáo viên nên bấm máy chậm vừa đủ để hs nghe, hiểu
và đọc chính xác theo máy. Giáo viên không cần đọc mẫu, học sinh chỉ đọc khi
máy đã đọc xong. Giáo viên luôn chú ý luyện cho học sinh cách phát âm,đọc
đúng ngữ điệu theo máy và không được dạy mở rộng. GV không nên dịch tiếng
Việt khi dạy từ.
Trong tiết dạy giáo viên phải bám sát khung phân phân bổ chương
trình.Thực hiện đúng giáo học pháp qui định trong tài liệu hướng dẫn.
Sử dụng hiệu quả kỹ thuật giảng dạy và ghi điểm thi đua trong tiết học để
học sinh luôn phải chú ý hoà vào không khí học tập của lớp.Thực hiện mỗi học
sinh phải đọc cá nhân ít nhất 1 lần/ tiết và đọc nhiều lần theo nhóm trong một
tiết dạy, giúp học sinh nhớ ngay bài trên lớp. Đối tượng học là HS tiểu học nên
giáo viên cần phải dạy tỉ mỉ hơn.
Khi tổ chức chơi trò chơi trên lớp.GV phải chú ý hướng dẫn thật cụ thể và
rõ ràng luật chơi cho học sinh hiểu. Khen thưởng động viên kịp thời và công
bằng với mỗi học sinh.
1.2. Lựa chọn từ để dạy:
Ở môi trường phổ thông hiện nay, khi nói đến ngữ liệu mới là chủ yếu nói
đến ngữ pháp và từ vựng, từ vựng và ngữ pháp luôn có mối quan hệ khăng khít
với nhau, luôn được dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của nhau. Tuy nhiên dạy và
giới thiệu từ vựng là vấn đề cụ thể. Thông thường trong một bài học luôn xuất
hiện những từ mới, xong không phải từ mới nào cũng cần đưa vào để dạy. Để
chọn từ cần dạy, giáo viên cần xem xét những vấn đề:
- Từ chủ động (active vocabulary)
1.3. Các bước tiến hành giới thiệu từ vựng:
- Để giới thiệu từ mới, giáo viên dạy cho học sinh theo bốn kỹ năng :
+ Nghe: Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe.
+ Nói: Giáo viên đọc từ, học sinh đọc lại.
+ Đọc: Giáo viên viết từ lên bảng, học sinh đọc từ bằng mắt, bằng miệng
+ Viết: Học sinh viết từ vào vở.
- Bước giới thiệu bài, giới thiệu chủ đề: đây là bước khá quan trọng trong
việc dạy từ vựng. Bước này sẽ quyết định sự thành công của tiết học, nó sẽ gợi
mở cho học sinh liên tưởng đến những từ sắp học qua chủ điểm vừa mới được
giới thiệu. Điều quan trọng nhất trong giới thiệu từ mới là phải thực hiện theo
trình tự: nghe, nói, đọc, viết. Đừng bao giờ bắt đầu từ hoạt động nào khác
“nghe”. Hãy nhớ lại quá trình học tiếng mẹ đẻ của chúng ta, bao giờ cũng bắt
đầu bằng nghe, bắt chước phát âm rồi mới tới những hoạt động khác. Hãy giúp
cho học sinh của bạn có một thói quen học từ mới một cách tốt nhất.
- Bước 1: Nghe. Giáo viên cho học sinh nghe từ mới bằng cách đọc mẫu.
- Bước 2: Nói. Sau khi học sinh đã nghe được ba lần, giáo viên yêu cầu
học sinh nhắc lại. Khi cho học sinh nhắc lại, giáo viên cần chú ý cho cả lớp nhắc
lại trước sau đó mới gọi cá nhân.
8
- Bước 3: Đọc.Giáo viên viết từ đó lên bảng và cho học sinh nhìn vào đó
để đọc. Cho học sinh đọc cả lớp, rồi đọc cá nhân và sửa lỗi cho học sinh tới một
chừng mực mà giáo viên cho là đạt yêu cầu.
- Bước 4: Viết. Sau khi học sinh đã đọc từ đó một cách chính xác rồi giáo
viên mới yêu cầu học sinh viết từ đó vào vở.
- Bước 5: Giáo viên hỏi xem có học sinh nào biết nghĩa của từ đó không
và yêu cầu một học sinh lên bảng viết nghĩa của từ đó bằng tiếng Việt.
- Bước 6: đánh trọng âm từ: phát âm lại từ và yêu cầu học sinh nhận diện
âm tiết có trọng âm và đánh dấu.
- Hoặc giáo viên có thể dùng các từ trái nghĩa với từ học sinh sắp học như: tall/
short, thin/ fat, young/ old, pretty/ urly….
g. Translation (dịch): Giáo viên dùng những từ tương đương trong tiếng
Việt để cung cấp nghĩa từ trong tiếng Anh.
Giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi không còn cách nào khác, thủ
thuật này thường được dùng để dạy từ trừu tượng, hoặc để giải quyết một số
9
lượng từ nhiều nhưng thời gian không cho phép, giáo viên gợi ý học sinh tự dịch
từ đó.
h.True or False statements: Giáo viên cung cấp một số câu và yêu cầu
học sinh chọn lựa câu trả lời đúng nhất có liên quan đến từ sắp được học.
1.5. Hiệu quả khi áp dụng những thủ thuật dạy từ mới cho học sinh.
Sau khi áp dụng những thủ thuật trên vào các bài dạy từ mới cho học sinh,
tôi thấy kết quả học tập của các em có những tiến bộ rõ rệt. Các giờ học trở nên
sôi nổi và hiệu quả hơn. Học sinh hào hứng hơn với các giờ học tiếng Anh. Các
em có thể đọc từ và nhớ nghĩa của từ nhanh hơn.
Sau khi áp dụng những phương pháp trên vào dạy từ vựng cho học sinh,
tôi đã làm một cuộc điều tra nhỏ đối với học sinh lớp 4A để thăm dò ý kiến của
các em với phương pháp học mới và thu được kết quả như sau:
Tổng số HS
19
Số HS thích
19
Số HS không thích
0
đoạn sau:
- Giới thiệu từ
- Thực hành
- Kiểm tra
- Ôn luyện củng cố.
10
Chúng ta biết rằng chỉ giới thiệu từ mới thôi chưa đủ, mà chúng ta còn
phải thực hiện các bước kiểm tra và củng cố từ mới ngay tại lớp. Các thủ thuật
kiểm tra và củng cố sẽ khuyến khích học sinh học tập tích cực và hiệu quả hơn.
2.1. Một số thủ thuật kiểm tra và củng cố từ mới
a. Guess the picture:
Mục đích của trò chơi này giúp cho học sinh thực hành ôn và nói từ một
cách hiệu quả. Trò chơi này có thể thực hiện theo các bước sau:
+ Vẽ một số tranh đơn giản minh họa một số từ cần ôn tập trên giấy A4 và
xếp thành một chồng. (Có thể sử dụng những phiếu tranh dạy từ).
+ Cho một học sinh lên chọn một bức tranh (không cho những học sinh
khác nhìn thấy nội dung của tranh).
+ Những học sinh khác đoán xem đó là tranh gì bằng cách đặt câu hỏi: “
Is this a/an……….. ?” - Học sinh nào đoán đúng sẽ được khuyến khích bằng
điểm hoặc vỗ tay cổ vũ động viên.
Ví dụ: Ôn các từ về dụng cụ học tập. (English 3 - Unit 8)
S1: Is this a pen?
S1: Is this a rubber?
S2: Yes, it is.
S2: No, it isn’t. It’s a ruler.
b. Pair Race (Slap the board):
Mục đích của trò chơi này giúp học sinh thể hiện sự năng động, sử dụng
c.
4. pencil
d.
d. Jumbled word: Mục đích của trò chơi này nhằm giúp học sinh thực
hành từ mới và chính tả của từ.
Giáo viên viết một số từ lên bảng hoặc vào tờ giấy A4 với các chữ cái xếp
không theo thứ tự nhau. Yêu cầu học sinh sắp xếp lại các chữ cái để tạo thành từ
có nghĩa. Học sinh có thể thực hiện thi đua giữa các nhóm, cặp hoặc cá nhân.
Sau đó giáo viên cho các em đọc lại các từ vừa sắp xếp.
Ví dụ: Sắp xếp lại các chữ cái sau thành từ có nghĩa.
1.
ootllaf (football)
3.
dbtaoinmn (badminton)
2.
ssehc (chess)
4.
gppisnki (skipping)
e. Chain game:
Trò chơi này nhằm luyện trí nhớ cho học sinh. Hoc sinh khi tham gia trò
chơi này phải thật sự tập trung qua đó giúp học sinh nhớ từ lâu hơn. Ngoài ra,
học sinh có cơ hội nói, phát âm rõ ràng các từ đã học.
Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ ngồi quay mặt với nhau. Học
sinh đầu tiên trong nhóm lặp lại câu của giáo viên. Học sinh thứ 2 lặp lại câu của
học sinh thứ nhất và thêm vào từ khác. Học sinh thứ 3 lặp lại câu của học sinh
thứ nhất, thứ 2 và thêm vào một từ mới tiếp theo, cứ tiếp tục như vậy cho đến
tính chất miêu tả. Hoạt động này bao gồm nhiều dạng thức, nhưng tất cả đều
dùng cử chỉ để diễn tả nghĩa.
Giáo viên đặt một số phiếu từ hoặc phiếu tranh úp mặt xuống bàn. Một
học sinh nhặt một phiếu lên nhưng không báo cho cả lớp biết đó là từ gì. Học
sinh đó phải dùng cử chỉ hoặc điệu bộ thể hiện nghĩa của từ đó. Yêu cầu các học
sinh còn lại trong lớp đoán từ. Giáo viên có thể khuyến khích học sinh đoán
đúng từ bằng cách cho điểm. Cũng có cách đơn giản hơn là không dùng phiếu từ
hoăc phiếu tranh, mà giáo viên ghé tai nói thầm cho một học sinh một từ nào đó.
Học sinh ấy làm như trên.
Ví dụ: Ôn các từ: swimming, playing football, riding a bike … (English 4
– Unit 7).
i. Simon says: Mục đích của trò chơi này nhằm giúp học sinh nhớ từ và
thường được áp dụng cho câu mệnh lệnh ngắn.
Giáo viên hô to các mệnh lệnh. Học sinh chỉ làm theo các mệnh lệnh của
giáo viên nếu giáo viên đọc câu mệnh lệnh bắt đầu bằng câu “Simon says”. Giáo
viên đọc câu mệnh lệnh, không có câu “Simon says”. Học sinh không được thực
hiện mệnh lệnh đó. Nếu học sinh nào thực hiện sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi. Trò
chơi này được áp dụng cho cả lớp, không nên chia theo nhóm hoặc cặp.
Ví dụ: English 3 – Unit 6: Stand up! Giáo viên cho các em học sinh chơi
trò chơi này để ôn lại các câu mệnh lệnh trong bài: stand up, sit down, open your
book, close your book…
j. Group the words: Mục đích của trò chơi này giúp học sinh nhớ nghĩa
của từ và hiểu được thuộc tính của từ.
Giáo viên viết một số từ lên bảng. Học sinh làm việc theo nhóm để sắp
xếp các từ theo từng chủ điểm mà giáo viên đã yêu cầu. Trong khoảng thời gian
nhất định, nhóm nào sắp xếp nhanh và đúng nhất sẽ thắng cuộc.
Ví dụ: Sắp xếp các từ sau vào cột tương ứng: pencil sharpener, blue,
bookcase, black, book, orange, ruler, green, pencil. (English 3 – Unit 9)
School things
………………………..
và yêu cầu các em đặt câu với các từ sau sử dụng can/ can’t.
swim
sing
play volleyball
play chess
dance
play the guitar
skip
skate
draw
m. Rub out and remember:
Mục đích của trò chơi này cũng giúp cho học sinh nhớ từ vựng lâu hơn,
cũng gần giống như “What and Where” tuy nhiên cần áp dụng thay thế cho nhau
để tránh sự nhàm chán cho học sinh.
Sau khi viết một số từ đã học trong bài và nghĩa của chúng lên bảng, giáo
viên cho học sinh lặp lại và xóa dần các từ Tiếng Việt hay Tiếng Anh. Chỉ vào
nghĩa Tiếng Việt yêu cầu học sinh nói lại từ bằng Tiếng Anh và ngược lại. Cho
học sinh viết lại từ Tiếng Anh bên cạnh nghĩa Tiếng Việt hoặc nghĩa Tiếng Việt
bên cạnh từ Tiếng Anh.
n. Relay Race: Cũng tương tự như “Pair Race”, nhưng trò chơi này mang
tính tập thể nhiều hơn.
Giáo viên chia lớp thành nhiều đội, mỗi đội ngồi theo một hàng ngang.
Cho học sinh ngồi đầu mỗi hàng một từ, nhóm từ, hoặc câu. Học sinh đó nói
thầm lại với người ngồi bên cạnh mình nghe. Cứ như thế cho đến khi từ đó đến
với học sinh ngồi cuối hàng. Khi nhận được từ, học sinh cuối cùng này đứng dậy
đọc to từ đó lên rồi chạy nhanh lên bảng viết từ đó lên bảng. Đội nào hoàn thành
trước sẽ thắng.
o. Dùng tranh nói từ: Mục đích của trò chơi này cũng nhằm giúp học
sinh ôn từ và ôn cả cách dùng từ như danh từ số ít hoặc danh từ số nhiều.
Giáo viên cho học sinh quan sát tranh và hỏi, đáp. Sử dụng mẫu câu hỏi
r. Pass the card: Mục đích của thủ thuật này khích lệ khả năng nhớ từ của
học sinh.
Học sinh đứng thành nhiều hàng. Giáo viên đưa cho học sinh đứng đầu
mỗi hàng một phiếu tranh hoặc một đồ vật. Học sinh đó phải gọi tên đồ vật, rồi
chuyển phiếu hoặc đồ vật đó cho người đứng ngay sau mình. Học sinh cuối cùng
giơ cao phiếu tranh hoặc đồ vật và đọc to từ ấy lên.
2.2. Bài tập luyện nhớ từ.
Bên cạnh đó để giúp học sinh nhớ được từ lâu, giáo viên có thể dùng các
bài tập luyện nhớ từ như sau:
- Observe and remember: Giáo viên chuẩn bị một số vật khác nhau để trên
một cái khay hoặc một bức tranh gồm nhiều chi tiết khác nhau cho học sinh
quan sát từ 1 đến 2 phút. Sau đó không cho học sinh nhìn nữa và phải viết lại
những gì đã quan sát được.
Cùng với hiện vật này giáo viên có thể đổi vật, vị trí hoặc màu sắc. Sau đó
học sinh phải nói lại, phát hiện xem có những thay đổi gì.
- Kim’s game: Giáo viên đọc to hoăc viết lên bảng 10 từ thuộc các loại từ
khác nhau, sau đó xoá bảng , yêu cầu học sinh đếm từ 25 xuống 1, sau đó viết lại
10 từ đã nghe hoặc nhìn.
- Finding the right word. (Chọn từ đúng)
- Brainstorming (Thảo luận)
15
- Find things which / Find people who…. (Tìm vật hoặc người có đặc
điểm…)
- Gap- filling. (Điền từ vào chỗ trống)
- Matching. (Nối)
- Multiple choice. (Câu hỏi nhiều lựa chọn)
- Collocation grid (Xếp ô chữ)
+ Từ mình cho rằng bạn phải biết nhưng bạn lại không biết
+ Từ chắc chắn bạn không biết.
- Sau đó làm việc theo cặp với bạn, kiểm tra xem mình có làm đúng
không.
e. Twenty questions.
Trò chơi này rất phổ biến, không chỉ có tác dụng học từ mà còn giúp học
sinh ôn luyên cách đặt câu hỏi và phản ứng nhanh.
- Một học sinh A sẽ nghĩ về một vật thuộc một trong 3 nhóm qui định:
+ Animals: người, động vật.
16
+ Minerals: vật dụng, nguyên liệu .
+ Vegetables: thực vật, rau quả.
- Cả lớp sẽ đoán vật đó bằng cách chỉ được hỏi bạn A các câu hỏi đúng sai
(yes/ no questions ). Tối đa là 20 câu hỏi để tìm câu trả lời.
2.4. Hiệu quả sau khi áp dụng
Sau khi áp dụng những thủ thuật trên vào việc kiểm tra từ vựng của học
sinh ngay tại lớp, tôi nhận thấy khả năng nhớ từ của các em tăng lên rõ rệt. Các
em hứng thú hơn và có thái độ tích cực hơn trong việc học từ. Sau khi nhớ từ
vựng, các em học sinh còn có thể vận dụng từ vựng vào thực hành các đoạn hội
thoại ngắn và viết các câu ngắn liên quan tới nội dung bài học. Kết quả cụ thể
sau khi khảo sát khả năng áp dụng từ vựng của học sinh lớp 4B như sau:
Tổng số HS
Trước khi áp dụng
Sau khi áp dụng
18
18
những ở trên lớp mà còn giúp học sinh nhớ từ khi ở nhà.
Đối với học sinh: Giúp các em có được động cơ học tập, tiếp thu bài tốt
và nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Anh của mình. Các em có sự hứng
thú cho môn học nhiều hơn, học được nhiều từ và nhớ từ hơn. Khả năng tư duy
của các em cũng tiến bộ hơn. Các em có học được từ, nắm được nghĩa và các sử
dụng vốn từ vựng trong thực hành giao tiếp. Như vậy các em sẽ có sự say mê
17
trong việc học bộ môn này, biết và vận dụng được một số cách học từ khi ở nhà.
Các em học sinh học yếu hơn không còn thấy lo sợ khi học môn Tiếng Anh nữa.
Hiệu quả của sáng kiến được chứng minh qua bảng so sánh sau:
*Kết quả vận dụng từ vựng cuối năm học 2017 - 2018 so với đầu năm
học:
TS Khả năng nhớ từ
Khả năng vận
Khả năng vận
HS
trên lớp
dụng từ vào kĩ
dụng từ vào kĩ
năng nói
năng viết
Đầu
36
25
20
18
NH 2017-2018
tỏa mạnh, ảnh hưởng tích cực tới đén tập thể giáo viên, học sinh và phụ huynh
học sinh trong nhà trường, góp phấn nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho
các em học sinh.
Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và bổ sung những thiếu sót, hoàn thiện hơn
những ưu điểm mà sáng kiến đã đạt được trong thời gian qua và có hướng phổ
biến sáng kiến kinh nghiệm này không chỉ ở khối lớp 4 của trường mà có thể áp
dụng cho các khối khác nhằm nâng cao chất lượng bộ môn.
IV. GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Từ những kết quả đạt được nêu trên, tôi nhận thấy việc nhân rộng sáng
kiến ra các khối khác trong toàn trường là rất cần thiết. Tôi đã đề xuất với lãnh
đạo nhà trường trong việc tạo không gian lớp học sao cho phù hợp với việc tổ
chức các hoạt động, tạo không khí sôi nổi cho giờ học.
Bên cạnh đó, tôi phát động phong trào thi đua “Học nhiều từ mới” trong
các em học sinh. Khuyến khích các em tự mình tổ chức các trò chơi như:
Noughts and crosses, Slap the board, Pass the cards, Network….trong các giờ ra
chơi hay đầu các buổi học học để tự mình ôn lại từ vựng.
Tôi cũng đề xuất với lãnh đạo nhà trường trong việc tổ chức “Câu lạc bộ
tiếng Anh”. Mỗi lớp đều có các em học sinh tham gia trong câu lạc bộ của nhà
18
trường. Các em học sinh này có nhiệm vụ giúp đỡ các bạn trong lớp mình học
tiếng Anh, tổ chức các hoạt động để thúc đẩy phong trào học tập tiếng Anh ở lớp
mình. Khuyến khích các thầy cô giáo chủ nhiệm tham gia câu lạc bộ Tiếng Anh
cùng các em học sinh lớp mình, để cổ vũ, động viên tinh thần học tập cho các
em học sinh.
Hy vọng với sự tham gia của các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh
trong toàn trường, môn học tiếng Anh sẽ trở thành môn học yêu thích. Chất
lượng giáo dục môn tiếng Anh nói riêng và của nhà trường nói chung sẽ được
nâng cao.
Để hưởng ứng phong trào đổi mới phương pháp dạy học ở trường
Tiểu học với tư cách là một giáo viên dạy bộ môn ngoại ngữ tôi rất mong
muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình cùng với các thầy cô giáo và
19
các bạn đồng nghiệp xây dựng phương pháp dạy học mới ngày càng chuẩn
mực, có hiệu quả hơn giúp cho các em học sinh ngày càng thích học ngoại
ngữ, có thể học tập chủ động, giao tiếp tự tin bằng chính khả năng của
mình.
Để việc vận dụng các thủ thuật này thành công và hiệu quả hơn nữa
trong các tiết dạy, tôi rất mong các cấp chính quyền địa phương quan tâm
tới việc trang bị các trang thiết bị cho các trường như: Phòng Lab, phòng
nghe - nhìn. Việc áp dụng các thủ thuật dạy từ vựng kết hợp với sử dụng
các trang thiết bị dạy học sẽ làm chất lượng giáo dục môn Tiếng Anh ngày
càng được nâng cao.
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
20