ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA DU LỊCH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ LƯU TRÚ TẠI
KHÁCH SẠN DUY TÂN HUẾ
Sinh viên thực hiện :
Lớp
:
Giáo viên hướng dẫn:
Huế, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là điều tra trung thực và
chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện chuyên
đề này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc
rõ ràng và được phép công bố.
Huế, năm 2018
Sinh viên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
EFA:
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, du lịch là một nhu cầu phổ biến trong đời sống người dân, nó không đơn
thuần chỉ thõa mãn nhu cầu giải trí, nghỉ dưỡng mà còn giúp người đi khẳng định vị thế của
mình trong xã hội. Đó cũng là lí do du lịch trở thành một phần không thể thiếu của một số
người có thu nhập cao. Về phương diện kinh tế, du lịch là một ngành công nghệp không
khói, có thể giải quyết được một lượng lớn công việc làm, đem lại thu nhập cho người lao
động…Về mặt xã hội, du lịch góp phần giao lưu văn hóa giữa các vùng, địa phương, quốc
gia, nâng cao ý thức duy trì hòa bình giữa các quốc gia với nhau. Với những lý do to lớn đó,
ngành du lịch đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của cả thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng.
Tọa lạc hai bên bờ sông Hương, thành phố Huế với nhiề di sản văn hóa thế giới , bên
cạnh đó Thừa Thiên Huế sở hữu những di tích lịch sử có giá trị cao nằm trong Quần thể di
tích Cố Đô Huế như Kinh Thành Huế, Lăng Minh Mạng, Lăng Gia Long, Chùa Thiên Mụ,
Văn Miếu và Trường Quốc Học. Có thể nói rằng Huế được tạo hóa và con người đặc ân cho
một vẻ đẹp trầm tư mà sâu lắng, bình dị mà cổ kính đã khiến biết bao người phải ghi nhớ .
Mỗi 2 năm thành phố tổ chức Festival Huế thu hút đông đảo du khách hơn nữa. Chính vì
vậy nhu cầu lựa chọn khách sạn, nhà nghỉ…nơi để lưu trú tại Huế ngày một càng tăng.
Khách sạn Duy Tân với 2 khách sạn Duy Tân 1 và Duy Tân 2 có phòng nghỉ được thiết
kế rất tiện nghi bao gồm phòng Standard, Superior, Superior khu 6 tầng, Deluxe, Deluxe
khu 6 tầng, Vip. Mỗi phòng đều có ban công riêng hoặc cửa sổ tạo cảm giác thoáng mát.
Cũng như các khách sạn khác, Duy Tân luôn mong muốn tạo được sự tiện nghi và thoải mái
cho du khách khi họ dừng chân lại Huế.
Với những thông số cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các khách sạn trên cùng địa bàn
tỉnh, số lượng nhà nghỉ khách sạn không ngừng tăng lên thì câu hỏi đặt ra là là thế nào để
cạnh tranh với các khách sạn khác? Làm sao để công suất thuê phòng được tăng lên? Và làm
như thế nào để đảm bảo chất lượng dịch vụ một cách tốt nhất để khách hàng hài lòng
Xuất phát từ những yếu tố trên, em quyết định nghiên cứu đề tài: “Đánh giá chất lượng
Làm thế nào để nâng cao chất lượng dịch vụ lưu trú của khách sạn Duy Tân, Huế?
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng điều tra:Khách hàng sử dụng dịch vụ lưu trú tại khách sạn Duy Tân
- Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ khi sử dụng dịch
vụ lưu trú tại khách sạn Duy Tân, Huế
- Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Khách sạn Duy Tân, Huế
Thời gian:
Dữ liệu thứ cấp: Từ năm 2015-2017
Dữ liệu sơ cấp: Từ năm 2/2018- 4/2018
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1.
Nguồn dữ liệu
Nguồn sơ cấp:
- Được thu thập thông qua thảo luận nhóm, phỏng vấn định tính, gửi bảng câu hỏi cho
khách hàng tại lễ hội Festival nghề truyền thống.
- Tham khảo ý kiến của chuyên gia để xây dựng hoàn chỉnh bảng hỏi: (nhân viên khách
sạn, quản lý…)
- Thông tin cần thu thập: thông tin về khách hàng, đánh giá của khách hàng đối với lễ
hội
Nguồn thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được lấy từ nhiều nguồn khác nhau:
- Thu thập các thông tin, số liệu liên quan đến khách sạn Duy Tân, Huế như doanh thu,
tình hình nhân lực, kết quả hoạt động kinh doanh, thống kê lượng khách hàng trong năm.
- Một số công trình nghiên cứu và luận văn tốt nghiệp đại học, cao học.
khách hàng đang đăng kí lưu trú tại khách sạn Duy Tân, Huế.
Bên cạnh điều tra thì cần phải phỏng vấn trực tiếp khách hàng để nắm bắt thông tin một
cách kĩ càng hơn.
4.3.
Quy trình nghiên cứu
Xác định vấn đề
nghiên cứu
Thiết kế nghiên
cứu
Xử lý số liệu
Điều tra sơ bộ
Thu thập dữ
liệu
Mã hóa, nhập
và làm sạch dữ
liệu
Thiết kế bảng
hỏi sơ bộ
Tiến hành điểu
tra chính thức
hỏi thu về đều hợp lệ. Tiến hành phân tích với 140 mẫu.
Phương pháp chọn mẫu
Đối tượng khảo sát của đề tài nghiên cứu này là những khách du lịch đang lưu trú tại
khách sạn Duy Tân, Huế. Danh sách tổng thể được xin từ khách sạn.
- Tiến hành chọn mẫu phân tầng theo tiêu chí là quốc gia, do đặc điểm khách của khách
sạn là đến từ nhiều nước và vùng miền khác nhau với khách quốc tế chiếm tỉ lệ cao cụ thể là
86% là khách nước ngoài.
Cơ cấu khách
12.63%
15.94%
12.95%
19.93%
2.40%
3.50%
2.66%
9.53%
10.82%
Việt Nam
Đức
Úc
tây ban nha
Thái lan
Pháp
Duy Tân, Huế.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
Cơ sở lý luận
1.1.1.
Một số khái niệm liên quan đến khách sạn
1.1.1.1. Định nghĩa khách sạn, kinh doanh khách sạn
Theo nhà nghiên cứu về du lịch và khách sạn Morcel Gotie: “Khách sạn là nơi lưu trú
tạm thời của du khách. Cùng với các buồng ngủ còn có các nhà hàng với nhiều chủng loại
khác nhau.1
Theo nhóm tác giả nghiên cứu Mỹ trong cuốn sách “Wellcome to hospitality xuất bản
năm 1995: “Khách sạn là nơi mà bất kỳ ai cũng có thể trả tiền để thuê phòng ngủ qua đêm ở
đó. Mỗi buồng ngủ cho thuê bên trong phải có ít nhất hai phòng nhỏ (phòng ngủ và phòng
tắm). Mỗi buồng khách đều phải có giường, điện thoại và vô tuyến. Ngoài dịch vụ buồng
ngủ có thể có thêm các dịch vụ khác như: dịch vụ vận chuyển hành lý, trung tâm thương
mại, nhà hàng, quầy bar và một số dịch vụ giải trí. Khách sạn có thể được xây dựng ở gần
hoặc bên trong các khu thương mại, khu du lịch nghỉ dưỡng hoặc các sân bay”. Theo Tổng
cục Du lịch Việt Nam: “Khách sạn (Hotel) là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có
quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch
vụ cần thiết phục vụ khách du lịch”.2
1.1.1.2. Định nghĩa kinh doanh khách sạn
Kinh doanh khách sạn lúc đầu dùng để chỉ hoạt động cung cấp chỗ ngủ cho khách trong
thức phổ biến dùng để phân loại khách của khách sạn:
Căn cứ vào tính chất tiêu dùng và nguồn gốc của khách
Theo tiêu thức này khách của khách sạn bao gồm hai loại:
- Khách là người địa phương: là những người có nơi ở thường xuyên (cư trú và làm
việc) tại địa phương nơi xây dựng khách sạn. Họ tiêu dùng các sản phẩm ăn uống và bổ
sung (hội họp, giải trí ) là chính, rất ít sử dụng dịch vụ buồng ngủ, nếu có thì chủ yếu là mua
lẻ với thời gian sử dụng rất ngắn.
- Khách không phải là người địa phương: gồm những khách đến từ những địa phương
khác trong nước (khách nội địa) và khách đến từ các nước khác (khách quốc tế). Họ tiêu
dùng hầu hết các sản phẩm của khách sạn như: buồng ngủ, ăn uống và các dịch vụ bổ sung,
giải trí…
Căn cứ vào mục đích chuyến đi của khách
3 Đinh Thị Trà Nhi. Bài giảng môn Tổ chức kinh doanh khách sạn (http://www.vsolution.vn/Downloads/Tailieu/Giao_trinh_kinh_doanh_khach_san_chuong_1.pdf) (ngày tham khảo 20/1/2015)
4 Theo nguồn tham khảo tại Bách Khoa Toàn Thư (http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%A1ch_s%E1%BA%A1n).
(ngày tham khảo 20/1/2015)
Theo tiêu thức này khách của khách sạn bao gồm bốn loại:
- Khách thực hiện chuyến đi với mục đích chính là để nghỉ ngơi, thư giãn. Loại khách
này còn gọi là khách du lịch thuần túy.
- Khách thực hiện chuyến đi với mục đích chính là công vụ: đi công tác, đi tham dự các
hội nghị, hội thảo hoặc hội chợ; đi để nghiên cứu thị trường, tìm đối tác làm ăn, ký hợp
đồng…
- Khách thực hiện chuyến đi với mục đích chính là thăm thân nhân.
- Khách thực hiện chuyến đi với mục đích khác như: tham dự các sự kiện thể thao,
chữa bệnh, học tập, nghiên cứu…
Căn cứ vào hình thức tổ chức tiêu dùng của khách
Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi lượng vốn đầu tư ban đầu và đầu tư cố định rất
cao, hoạt động kinh doanh khách sạn có tính chu kỳ. Nó hoạt động tuỳ theo thời vụ du lịch, vì
hoạt động kinh doanh khách sạn chỉ tồn tại và phát triển khi do nhu cầu khách đến, họ cần có
tài nguyên đẹp, thời tiết, khí hậu ổn định. Chúng ta không thể thay đổi được quy luật thiên
nhiên, quy luật sinh lý nên hệ thống này có mang tính chu kỳ.
(Nguồn: Phòng nhân sự, khách sạn Duy Tân, Huế, 2017)
1.1.1.
Dịch vụ và các khái niệm liên quan
1.1.2.1.
Dịch vụ
Dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên
kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay
không gắn liền với một sản phẩm vật chất.5
Một mặt hàng cụ thể kèm dịch vụ là mặt hàng cộng thêm một hay nhiều dịch vụ để tăng
khả năng thu hút khách mua nhất là đối với các sản phẩm hữu hình có công công nghệ chế
tạo và sử dụng phức tạp.
1.1.2.2. Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ, theo Parasuraman và cộng sự (1985), là khoảng cách giữa sự mong
đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Theo quan điểm của
Philip Kotler và cộng sự (2005), chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khả năng của một
dịch vụ bao gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và
các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó. Ngoài ra, do môi trường
văn hóa khác nhau, người tiêu dùng ở mỗi quốc gia khác nhau có thể có nhận thức khác
nhau về chất lượng dịch vụ ở mỗi loại hình dịch vụ khác nhau (Malhotra và cộng sự, 2005;
Nguyễn Thị Mai Trang, 2006)6.
1.1.2.3. Người tiêu dùng
được thể hiện ở các góc độ cảm nhận sau:
6 Nguồn: Phan Chí Thanh và cộng sự, 2013. Nghiên cứu các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ. Tạp chí Khoa
học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 1 (2013) 11-22
7 Giáo trình điện tử Marketing căn bản- Trường Đại học xây dựng miền Trung
(http://muce.edu.vn/fckeditor/editor/filemanager/connectors/asp/image/noidung5chuong.pdf). (ngày tham khảo
25/1/2015)
- Cảm nhận về tính tiện lợi về bao bì.
- Cảm nhận về tính phức tạp trong cách vận hành sản phẩm.
- Cảm nhận về sự an toàn trong sử dụng.
- Cảm nhận về lợi ích chức năng của sản phẩm (Functional benefits): Đó là những kết
quả lý tính có được thông qua việc tiêu dùng trực tiếp thương hiệu.
- Cảm nhận về lợi ích xúc cảm của sản phẩm (Emotional benefits):Đó là những kết quả
tâm lý, xã hội có được từ việc sở hữu và tiêu dùng sản phẩm, thương hiệu.
Thứ ba, mức độ tham dự vào việc tiêu dùng (Consumption of performance): Mức độ
tham dự vào việc tiêu dùng thể hiện sự nổ lực tự thân của người tiêu dùng trong quá trình sử
dụng sản phẩm để có được kết quả tiêu dùng mong đợi.
Thứ tư, những trạng thái tâm lý trong quá trình sử dụng (Moods state): Khả năng xuất
hiện những trạng thái tâm lý tạm thời- xuất hiện bất chợt do các tác nhân môi trường (hoặc
tích cực hoặc tiêu cực) trong quá trình tiêu dùng có ảnh hưởng đến cảm nhận tiêu dùng. Khả
năng này khác nhau tùy theo loại sản phẩm.
(Nguồn: phòng nhân sự, khách sạn Duy Tân, Huế, 2017)
1.1.2.5.
Các loại hình dịch vụ trong khách sạn
Hầu hết các sản phẩm trong khách sạn đều là dịch vụ. Nó được phân chia làm 2
loại: dịch vụ chính và dịch vụ bổ sung.
Gronroos (1984) cũng đề nghị hai thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là (1) chất lượng
kỹ thuật, đó là những gì mà khách hàng nhận được và (2) chất lượng chức năng, diễn giải
dịch vụ được cung cấp như thế nào. Tuy nhiên, nhắc đến chất lượng dịch vụ, không thể
không nhắc đến Parasuraman & ctg (1988, 1991)với đóng góp rất lớn và được áp dụng rộng
rãi trong nhiều nghiên cứu của các tác giả khác: thang đo SERVQUAL. Thang đo
SERVQUAL được dựa trên những điểm khác biệt giữa sự kỳ vọng của người tiêu dùng về
dịch vụ và cảm nhận của họ sau khi sử dụng dịch vụ. Ban đầu, PZB (1985) tập trung vào 10
yếu tố của chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, sau 2 giai đoạn làm sạch thang đo, họ rút gọn 10
yếu tố xuống còn 5 yếu tố của chất lượng dịch vụ với 20 biến quan sát, đó là:
(1) Phương tiện hữu hình
(2) Tin cậy
(3) Đáp ứng
(4) Năng lực phục vụ,
(5) Cảm thông
Tiếp
theo đó là nghiên cứu và kiểm định thang đo. Carman (1990) cho rằng
SERVQUAL cho thấy sự ổn định, 5 thành tố không phải luôn luôn giống nhau.
Thực vậy, những thành tố khác nhau có thể thay đổi phụ thuộc vào kiểu công nghiệp dịch
vụ. Sau nhiều nghiên cứu kiểm định cũng như ứng dụng, SERVQUAL được thừa nhận như
một thang đo có giá trị lý thuyết cũng như thực tiễn. Tuy nhiên thủ tục đo lường
SERVQUAL khá dài dòng. Do vậy, đã xuất hiện một biến thể của SERVQUAL là
SERVPERF. Thang đo này được Cronin & Taylor (1992, dẫn theo Thongsamak,
2001) giới thiệu, xác định chất lượng dịch vụ bằng cách chỉ đo lường chất lượng dịch vụ
cảm nhận (thay vì đo cả chất lượng cảm nhận lẫn kỳ vọng như SERVQUAL). Hai ông cho
rằng chất lượng dịch vụ được phản ánh tốt nhất bởi chất lượng cảm nhận mà không cần có
chất lượng kỳ vọng cũng như đánh giá trọng số của 5 yếu tố. Do có xuất xứ từ thang đo
Hình 1.2 Mô hình sơ đồ nghiên cứu
Vậy mô hình trên được em lựa chọn để làm mô hình nghiên cứu đối với khách sạn Duy
Tân, Huế tại Huế.
Mô hình năm yếu tố của thang đo chất lượng dịch vụ SERQUAL của Parasuraman, bao
gồm các yếu tố:
(1)
Phương tiện hữu hình (Tangibles). Vẻ ngoài của cơ sở vật chất, trang thiết
bị, và sự xuất hiện của nhân viên.
(2)
Độ tin cậy (Reliability). Khả năng thực hiện dịch vụ đã được hứa hẹn một
cách đáng tin cậy và chính xác.
(3)
Sự đáp ứng (Responsiveness). Sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch
vụ một cách nhanh chóng.
(4)
Sự đảm bảo (Ansurance). Kiến thức và sự nhã nhặn của nhân viên và khả
năng khơi gợi sự tin tưởng và sự tự tin.
(5)
Sự đồng cảm (Empathy). Sự quan tâm và chú ý đến từng cá nhân mà công ty
không tính đến hơn 12735 buồng khách sạn của các nhà khách, các bộ và
địa phương có khả năng đón khách trong và ngoài nước.
Đến đầu năm 1996, vốn đăng ký của các dự án được cấp giấy phép đầu tư vào lĩnh vực này
đã lên đến 6,5 tỷ USD chiếm 17,4% tổng số các dự án đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy
phép hoạt động ở Việt Nam. Đây là thời kỳ hoàng kim cho các nhà đầu tư vào việc xây dựng
khách sạn, văn phòng cho thuê, trung tâm thương mại, kinh doanh du lịch... tổng cục Du lịch
dự kiến trong năm 1996-2000 Việt Nam sẽ có thêm khoảng 25.000 buồng đủ tiêu chuẩn đón
khác quốc tế và nếu dự trù lượng khách quốc tế đến dồn dập thì hệ thống khách sạn của
Việt Nam vẫn đủ đáp ứng nhu cầu của khách. Hiện nay, ngành Du lịch Việt Nam (tính đến năm
2000) đã có trên 3000 khách sạn với 66.000 buồng khách, bao gồm 461 khách sạn được xếp
hạng từ 1-5 sao đạt tiêu chuẩn quốc tế. Như vậy, số buồng phòng khách sạn đã tăng hơn 58%
trong vòng 5 năm. Sự trưởng thành nhanh chóng trong việc phát triển ngành kinh doanh khách
sạn đó là niềm tin tự hào cho đất nớc ta, đóng góp không nhỏ vào thành công của ngành Du
lịch trong việc thu hút 1,7 triệu lượt khách và nộp ngân sách 840 tỷ đồng vào năm
1997.
Tuy nhiên sự phát triển của ngành Du lịch nói chung và ngành kinh doanh khách sạn
nói riêng đã bị ảnh hởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực. Năm 1998,
ngành Du lịch chỉ đón đợc 1,52 triệu lợt khách quốc tế, 9,6 triệu lượt khách nội địa và chỉ đóng
góp được cho ngân sách nhà nước 580 tỷ đồng.
Lượng khách du lịch giảm làm cho công suất sử dụng phòng của khách sạn sụt
giảm một cách đáng kể. Đi đôi với việc bị giảm công suất sử dụng phòng là xu
hướng giảm giá phòng khách sạn. So với năm 1997 thì mức giá thuê phòng khách
sạn giảm trung bình trong cả nớc vào khoảng từ 10 -20%. Từ thực tế kinh doanh
gặp nhiều khó khăn, vắng khách đã làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh không
lành mạnh giữa các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn. Để có thêm khách,
nhiều khách sạn đã giảm giá thuê phòng, làm ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ
dẫn đến uy tín của các khách sạn bị ảnh hưởng và hiệu quả kinh doanh bị giảm
sút. Điều này đã làm cho nhiều khách sạn phải đóng cửa, một số khách sạn
hơn
năm trước. Khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2000 đạt 2,13 triệu lượt khách
tăng 19,5% so với năm 1999, khách nội địa đạt 11,2 triệu lượt khách tăng 4,8%.
Hoạt động du lịch của cả nước mang lại một nguồn thu không nhỏ cho xã hội,ước
tính khoảng 1,2 tỷ USD vượt 19% so với năm 1999. Số lượt khách quốc tế vào
Việt Nam rất đa dạng trong đó lượng khách du lịch là người Trung Quốc chiếm
28,7%, Đài Loan chiếm 9,9%, Mỹ chiếm 9,7%, Nhật Bản chiếm 7,1%. Năm thị
trường có tỷ trọng lớn, tốc độ tăng trưởng cao bao gồm: Nhật Bản tăng 33%, Anh
tăng 27%, Trung Quốc tăng 26,5%, Đài Loan tăng 21,8%, Hàn Quốc tăng
19,8% so với năm 1999. Công suất sử dụng phòng của các khách sạn được cải
thiện một cách đáng kể, bình quân toàn quốc đạt hơn 54%. Tuy vậy, giá phòng
của các khách sạn vẫn giảm từ 15-30%, cá biệt có khách sạn giảm giá tới 50%
so với giá công bố năm 1998. Tại thành phố Hồ Chí Minh giá phòng giảm
35-40%,
Khánh
Hòa
giá
phòng
giảm
hơn
nhiều
thì
đều
bị
"lép
vế"
hơn.
Như vậy trong hơn 10 năm mở cửa, mặc dù đã trải qua nhiều bước thăng
trầm nhưng không thể phủ nhận đợc những đóng góp của ngành Du lịch trong đó
có hoạt động khách sạn vào sự phát triển của đất nước, thúc đẩy các ngành sản
xuất vật chất và dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài... Những bước phát triển đó tạo tiền đề phát triển cho ngành trong
thời gian tiếp theo, đa ngành Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất
nước.
1.2.3.
Tổng quan về tình hình kinh doanh khách sạn trên thành phố Huế
Từ lâu, Huế được xem là 1 trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước với số lượng
khách đến tham quan rất đông mỗi năm. Hiện tại thị trường kinh doanh khách sạn trên thành
phố huế có hàng trăm khách sạn cùng các khu resort được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện
đại và đạt tiêu chuẩn 3 đến 5 sao với công suất mùa cao điểm đạt trên 65%- chưa cao lắm so
2.1 Tổng quan về khách sạn Duy Tân – Huế
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của khách sạn Duy Tân – Huế
- Tên doanh nghiệp: NHÀ KHÁCH DUY TÂN
- Tên thường gọi: KHÁCH SẠN DUY TÂN
- Lĩnh vực hoạt động: Lưu trú – Du lịch
- Địa chỉ: 12 Hùng Vương, Thành phố Huế, Thừa Thiên Huế
- Điện thoại: 0543.825.001
- Fax: (054) 3826477
- Email: [email protected]
- Website: www.duytanhotel.com.vn
Khách sạn Duy Tân được xây dựng và mở rộng vào năm 1995, trên diện
tích là 6600 m2 với tổng số vốn ban đầu là 8.3 tỷ đồng. Được sự cho phép của
UBND và Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, khách sạn đã đi vào hoạt động
tháng 3/1995.
Tháng 5/1997, khách sạn Duy Tân tách ra khỏi Đoàn an điều dưỡng 40B
và trực thuộc Công ty Hợp tác Kinh tế Quân Khu 4. Kể từ đây, khách sạn
Duy Tân đã trở thành một đơn vị kinh doanh độc lập trong cơ chế thị trường.
Tháng 2/2002, khách sạn Duy Tân tách ra khỏi Công ty Hợp tác Kinh tế
Quân Khu 4, chuyển sang trực thuộc Văn phòng Bộ Tư Lệnh Quân Khu 4.
Đây là bước ngoặt chứng tỏ sự lớn mạnh về mọi mặt và tính độc lập của
khách sạn Duy Tân. Vừa sản xuất vừa kinh doanh có hiệu quả, đồng thời vừa
xây dựng thương hiệu cho khách sạn nên năm 2002, khách sạn Duy Tân
chính thức được Sở Du Lịch tỉnh Thừa Thiên Huế công nhận là khách sạn 2
sao.