BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN XUÂN TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU NHIỄM VIÊM GAN SIÊU VI B VÀ C
TRÊN BỆNH NHÂN SAU GHÉP THẬN
THEO DÕI TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
Ngành: Nội thận – Tiết niệu
Mã số: 62722020
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. ĐẶNG VẠN PHƯỚC
2. PGS.TS. TRẦN THỊ BÍCH HƯƠNG
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
nhiễm HBV đã có tác động bất lợi nghiêm trọng đến sống còn của
bệnh nhân đến nỗi mà các trung tâm ghép thận đã từng đề cập
HBsAg(+) xem như là chống chỉ định của ghép thận, hiện nay trong
kỷ nguyên của các thuốc kháng virus hiệu quả, tỉ lệ sống còn từ 8-10
năm của người nhận thận ghép có HBsAg(+) đang tiến tới gần bằng
với người ghép không bị nhiễm HBV và thận ghép với HBsAg(+) có
thể xem xét ghép cho những trường hợp nhất định. Tuy nhiên, việc
kiểm soát tình trạng kháng thuốc của HBV trên bệnh nhân ghép thận,
cũng như tác động độc tính trên thận của một vài loại thuốc kháng
virus viêm gan B, đặc biệt là tình trạng bùng phát men gan sau ghép
vẫn còn là những thách thức hiện nay.
2
Trên lĩnh vực viêm gan C cũng có những phát triển vượt bực về
các loại thuốc kháng virus. Trước năm 2013, việc điều trị viêm gan C
trên bệnh nhân ghép thận gặp nhiều bế tắc, do tác động có hại của
thuốc kháng virus interferon trên tình trạng thải ghép thận quá cao. Từ
sau 2013 tới nay với sự ra đời của các thuốc kháng virus tác động trực
tiếp (Direct Acting Antiviral = DAA) thế hệ mới đã làm thay đổi đáng
kể hiệu quả điều trị viêm gan C trên cả đối tượng ghép thận cũng như
đối tượng không ghép. Tới năm 2016 Chưa có các nghiên cứu đánh giá
hiệu quả của DAA trên các đối tượng ghép thận bị viêm gan C được báo
cáo tại Việt Nam. Chính vì vậy một nghiên cứu viêm gan siêu vi B và C
trên đối tượng ghép thận tại Việt Nam là rất cần thiết.
- Tỉ lệ viêm gan siêu vi B và C trên nhóm bệnh nhân ghép thận
tại Bệnh viện Chợ Rẫy cũng như đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết
cục của những bệnh nhân ra sao? Tình trạng tái hoạt động của HBV và
HCV sau ghép ra sao khi bệnh nhân ghép thận được sử dụng các phác
đồ thuốc ức chế miễn dịch? Hiệu quả và độc tính của các phác đồ điều
nồng độ virus viêm gan B, C đã được dùng an toàn trên bệnh nhân
ghép thận trên thế giới, chưa có báo cáo đánh giá tại Việt Nam.
- Chính vì vậy, nhằm có những thông tin giúp mở rộng diện
bệnh nhân được ghép có nhiễm HBV, HCV cũng như mở rộng diện
người cho thận có nhiễm HBV, HCV đã điều trị ổn và đánh giá hiệu
quả của các thuốc kháng virus viêm gan mới đang được sử dụng trên
thế giới, chúng ta cần thực hiện nghiên cứu này.
4
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Tỉ lệ nhiễm virus viêm gan B và C trên nhóm bệnh nhân ghép
thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy cũng như đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng của bệnh nhân ghép thận nhiễm virus viêm gan B và C.
- Tình trạng tái hoạt động của HBV và HCV sau ghép trên bệnh
nhân ghép thận được sử dụng các phác đồ thuốc ức chế miễn dịch.
- Sự khác biệt về bùng phát men gan và tỉ lệ tử vong giữa nhóm
ghép thận có nhiễm virus viêm gan và nhóm ghép thận không nhiễm
virus viêm gan.
- Hiệu quả của các phác đồ điều trị đặc hiệu đang dùng trên
bệnh nhân viêm gan đã ghép thận. Độc tính trên thận của các phác đồ.
BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 129 trang: đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu 3
trang, tổng quan 42 trang, phương pháp nghiên cứu 15 trang, kết quả
44 trang, bàn luận 22 trang, kết luận và kiến nghị 3 trang. Luận án có
77 bảng, 12 biểu đồ, 7 hình, 4 sơ đồ. Luận án có 132 tài liệu tham
khảo, trong đó có 20 tài liệu tiếng Việt và 112 tài liệu tiếng Anh.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.3. TỔNG QUAN VỀ VIÊM GAN SIÊU VI B VÀ C TRÊN
BỆNH NHÂN GHÉP THẬN
Tuy nhiên, không tiến hành ghép thận có HBsAg(+) cho người
nhận có đồng thời HBsAg(-) và HBsAb(-) do nguy cơ nhiễm HBV sau
ghép và bùng phát viêm gan.
1.3.2. Tổng quan về viêm gan C trên bệnh nhân ghép thận
1.3.2.1. Dịch tễ học HCV trên bệnh nhân ghép thận
Sự lây truyền HCV chủ yếu qua tiếp xúc đường máu, vì vậy tỉ lệ
nhiễm HCV cao hơn trong nhóm bệnh nhân lọc máu, ghép thận khi so
với cộng đồng dân số chung. Từ khi phát hiện được HCV năm 1989,
6
với kết quả tầm soát HCV trong những năm đầu thập niên 1990, tỉ lệ
nhiễm HCV đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên ở các nước đang phát triển, là
vùng lưu hành cao của HCV, việc lây truyền cộng đồng do lọc máu,
truyền máu, tiêm chích không an toàn là một vấn đề quan trọng .
Thống kê 2001 theo tác giả Fabrizi, tại các nước phát triển; tỉ lệ
hiện mắc HCV trong bệnh nhân ghép thì cao hơn bệnh nhân chạy thận
nhân tạo, thay đổi từ 11%→49%.
Tỉ lệ nhiễm HCV trên bệnh nhân ghép thận đã giảm đáng kể so
với 2 thập kỷ trước tại các nước phát triển, theo tác giả Baid Agarwal
tỉ lệ năm 2014 là 1,8% đến 8 % . Theo tác giả Baid Agarwal, hầu hết
người nhận thận bị nhiễm HCV là do nhiễm trong quá trình lọc máu,
việc lây truyền HCV do quá trình ghép tạng là rất hiếm, do sự chặc
chẽ trong quá trình sàng lọc người cho thận.
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu tại bệnh viện Chợ rẫy năm 2011
cho thấy tỉ lệ nhiễm HCV trong bệnh nhân ghép thận là 7,72% . Báo
cáo tại bệnh viện Việt Đức, tỉ lệ nhiễm HCV trên bệnh nhân theo dõi
sau ghép là 16,7% , tại bệnh viện 103 tỉ lệ là 1,7% . Sự khác biệt về tỉ
lệ mắc phải giữa các trung tâm trong nước còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như tiêu chuẩn chọn bệnh ghép, tần suất nhiễm HCV trong các
đã không ảnh hưởng có hại đến sống còn của người nhận thận có
nhiễm HCV.
Theo KDIGO, tất cả những liệu pháp ức chế miễn dịch dẫn nhập
hay duy trì hiện nay có thể được sử dụng trong những người được ghép
thận có nhiễm HCV.
8
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các trường hợp ghép thận trước
năm 2014 được theo dõi sau ghép tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Dân số nghiên cứu: là tập hợp các trường hợp ghép thận trước
2014, theo dõi sau ghép tại Bệnh viện Chợ Rẫy có nhiễm hoặc không
nhiễm siêu vi viêm gan B, C.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Nhóm viêm gan: là những bệnh nhân ghép thận đang theo dõi
sau ghép tại Bệnh viện Chợ Rẫy và được xác định là có nhiễm HBV
hay HCV hoặc đồng nhiễm HBV và HCV.
- Nhóm không viêm gan: là nhóm theo dõi sau ghép thận tại
Bệnh viện Chợ Rẫy và được xác định là không nhiễm HBV, HCV.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân không có đủ các xét nghiệm để biện luận và xác định
là nhiễm hoặc không bị nhiễm siêu vi viêm gan B, C.
Hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.3. Cỡ mẫu nghiên cứu
Chúng tôi giả định tỉ lệ phát hiện khoảng 10% đối với cả viêm
gan B và C, với với độ tin cậy 95% và độ sai biệt 3% khi khảo sát dịch
tễ rộng lớn trên toàn dân số bệnh nhân ghép thận (bao gồm ghép thận
Nếu Anti HCV(+): làm thêm bước 2 là HCV RNA test
Nếu HCV RNA+: chẩn đoán nhiễm HCV.
Nếu HCV RNA (-): chẩn đoán nhiễm cũ HCV
Bước 3: Tiến cứu mô tả phân tích có nhóm chứng trong 2 năm
1/2014- 1/2016. Tiến hành phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
của nhóm viêm gan. So sánh về tình trạng tăng men gan và tỉ lệ tử vong
giữa nhóm viêm gan và nhóm chứng ( không viêm gan). Phân tích đánh
giá hiệu quả điều trị đặc hiệu HBV, HCV từ 1/2014 đến 12/2016.
2.3. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM TIẾN HÀNH
Từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2016 tại khoa ngoại tiết niệu và
phòng khám ghép thận Bệnh viện Chợ Rẫy.
2.7. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Nhập số liệu bằng phần mềm thống kê Excel 16.0
Kết quả được mã hóa và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tiến hành nghiên cứu
10
11
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 6/2013 đến tháng
12/2016 tại phòng khám ghép thận - khoa Ngoại tiết niệu Bệnh viện
Chợ Rẫy trong số 440 bệnh nhân theo dõi sau ghép thận, có 72 bệnh
nhân bị viêm gan siêu vi, với 28 bệnh nhân viêm gan siêu vi B, 40
bệnh nhân viêm gan siêu vi C và 4 bệnh nhân có viêm gan siêu vi B, C
phối hợp. Nhóm chứng không viêm gan có 368 bệnh nhân.
3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ NGHIÊN CỨU (n=440)
- Lọc màng bụng
3
0,70
- Thân nhân tạo
437
99,30
3.1.2. Đặc điểm về viêm gan của dân số tham gia nghiên cứu
Bảng 3.3. Tỉ lệ viêm gan B, C trong dân số nghiên cứu
Viêm gan B
Viêm gan C
Viêm gan B, C phối hợp
Không Viêm gan
Tổng số
Số Trường hợp
28
40
4
368
440
Tỉ lệ %
6,36
9,09
0,91
83,64
100
12
0,91
nhiễm HCV
Anti HCV (+)
Nhiễm HBV đã khỏi
HBsAg(-), Anti HBc
148
33,64
total (+)
- Chưa có Anti HBs
- Có Anti HBs
Chưa tiếp xúc HBV
kèm với AntiHBs (-)
23
5,22
kèm với AntiHBs (+)
125
28.41
Bảng 3.4 cho thấy trong dân số nghiên cứu có 7,27% (32 BN)
đang nhiễm HBV (0.91% đồng nhiễm HCV + HBV). 33,64% (148 BN)
đã nhiễm HBV trong quá khứ với anti HBc(+), đây là nhóm có nguy cơ
tái hoạt động virus trong quá trình sử dụng thuốc ức chế miễn dịch.
Có 94 (21,36%) đã có miễn dịch do chủng ngừa và 125
(28,41%) có miễn dịch bảo vệ sau nhiễm HBV (>50%).
37,73% (chưa chủng ngừa và chưa tiếp xúc) + 5,22% chưa có
miễn dịch sau khỏi bệnh là nhóm có nguy cơ lây sau ghép, nhất là khi
người cho có nhiễm HBV.
13
3.2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA DÂN SỐ VIÊM GAN (n=72)
3.2.2. Đặc điểm của nhóm ghép thận nhiễm HBV đơn thuần
3.2.2.1. Đặc điểm kháng nguyên- kháng thể của dân số ghép thận
nhiễm HBV
Mục
Số TH
Tỉ lệ %
Tỉ lệ HBsAg(+)
28
100.0
Tỉ lệ HBsAg(+) và HBV DNA(+)
a. Tái hoạt động trong các trường hợp viêm gan B đã khỏi trước
ghép: có 2 trường hợp tái hoạt động virus sau ghép trong tổng số 125
trường hợp nhiễm cũ HBV đã khỏi và có kháng thể anti HBs(+),
chiếm tỉ lệ 1,6%.
b.Tái hoạt động trong các trường hợp HBsAg(+) và HBV
DNA(-):có 2 trường hợp trong tổng số 2 trường hợp, chiếm tỉ lệ 100%.
c. Tái hoạt động trong các trường hợp không viêm gan B nhận
thận ghép từ người cho có tình trạng nhiễm cũ HBV đã khỏi: có 1
trường hợp trong tổng số 32 trường hợp, chiếm tỉ lệ 3,13% .
3.2.2.4. Đặc điểm diễn tiến xơ hóa gan trên nhóm ghép thận nhiễm HBV
Không diễn tiến xơ hóa gan trong thời gian theo dõi 2 năm trong
nhóm ghép thận nhiễm HBV. Theo phân loại Child - Pugh tất cả đều
thuộc Child A trước và sau thời gian theo dõi 2 năm.
14
3.2.3. Đặc điểm của nhóm ghép thận nhiễm HCV đơn thuần
3.2.3.1 Đặc điểm dân số tham gia nghiên cứu
Bảng 3.20. Các đặc điểm về kháng nguyên, kháng thể và
virus trong nhóm VGSV C đơn thuần
Mục
Số ca
Tỉ lệ %
Tỉ lệ Anti HCV(+)
40
Anti HCV(+) Anti HCV(+) Anti HCV(+)
HCV RNA(-) HCV RNA(+) HCV RNA(+)
Anti HCV(-)
Anti HCV(+) Anti HCV(+)
HCV RNA(-) HCV RNA(+) HCV RNA(+)
Anti HCV(+) Anti HCV(+) Anti HCV(+)
HCV RNA(+) HCV RNA(+) HCV RNA(+)
Anti HCV(+) Anti HCV(+) Anti HCV(+)
HCV RNA(+) HCV RNA(-) HCV RNA(-)
Tổng cộng
Số
trường Tỉ lệ
hợp
Ghi chú
Nhiễm cũ ổn
11
27,5%
2
5%
Bùng phát virus
Bảng 3.23 cho thấy có 13 trường hợp nhiễm cũ HCV, trong thời
gian tối thiểu 2 năm dùng ức chế miễn dịch, tỉ lệ bùng phát virus là
15,38% (2/13). Còn lại 11 ca ổn định không bùng phát men gan,
không bùng phát virus sau ghép.
3.2.3.2 Đặc điểm tình trạng bùng phát men gan trong nhóm ghép
thận nhiễm HCV
- Về cận lâm sàng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về bùng
phát men gan (ALT>200U/L) giữa nhóm ghép thận có nhiễm HCV và
nhóm ghép thận không nhiễm HCV (p< 0,001). Ngoài ra còn ghi nhận
có sự gia tăng trị số trung bình Creatinine trong nhóm có nhiễm HCV.
3.2.3.3 Khảo sát lâm sàng xơ hoá gan trên nhóm viêm gan C
- Về lâm sàng: trong thời gian 2 năm từ 1/2014 đến 12/2015
chưa thấy có sự thay đổi rõ rệt theo thời gian về độ xơ hóa gan trong
nhóm ghép thận HCV(+).
3.2.3.6 Phân tích tử vong trong nhóm ghép thận nhiễm HCV
- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ tử vong giữa nhóm
ghép thận HCV (+) và nhóm ghép thận HCV (-) với p < 0,001.
Nguyên nhân tử vong do gan chỉ chiếm 1/3 trong nhóm ghép thận
HCV(+).
3.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HBV VÀ HCV TRÊN
BỆNH NHÂN GHÉP THẬN THEO CÁC PHÁC ĐỒ
3.3.1. Hiệu quả Lamivudin, Entecavir và Tenofovir trong điều trị
HBV trên bệnh nhân ghép thận
Trong số 32 bệnh nhân viêm gan B (viêm gan B đơn thuần hoặc
B + C) có 27 trường hợp được điều trị đặc hiệu HBV và 5 trường hợp
không điều trị đặc hiệu; 13 trường hợp điều trị khởi đầu với lamivudine
và 14 trường hợp điều trị với entecavir, với kết quả sau: Tỉ lệ nhạy với
16
21,43%
2
14,29%
1
7,14%
2
15,38%
2
15,38%
Entecavir
4
30,76%
Tenofovir
5
38,46%
32
100%
Lamivudine
+ Tenofovir
Độ
nhạy kháng
Nhạy
78,57%
Kháng
21,43%
Nhạy
15,38%
Kháng
84,62%
- Không có trường hợp tử vong trong nhóm viêm gan B.
- Trong 9 trường hợp điều trị tenofovir, có 22,22% trường hợp
có diễn tiến thay đổi chức năng thận theo hướng suy giảm so với ban
đầu sau hai năm theo dõi.
17
3.3.2. Hiệu quả DAA trong điều trị HCV trên bệnh nhân đã ghép thận
Trước đây, tất cả các trường hợp viêm gan C mạn - ghép thận
đều không được điều trị đặc hiệu do nguy cơ thải ghép của interferon
tại thời điểm đó.
lọc màng bụng chiếm tỉ lệ rất nhỏ (0,68%). Chính vì vậy nguy cơ
nhiễm HBV và HCV của người chuẩn bị ghép thận là khá cao, vì trong
giai đoạn chờ ghép, bệnh nhân có nguy cơ bị lây nhiễm virus viêm gan
trong quá trình lọc máu. Sự lây nhiễm sẽ khó khăn cho phát hiện nếu
nằm trong giai đoạn cửa sổ.
Nhóm viêm gan C có 70% là viêm gan C mạn, 30% nhiễm cũ.
Tỉ lệ nhiễm HCV trước ghép chiếm tỉ lệ 67,5% (27 trường hợp), có 10
trường hợp ghép thận trong nước và 17 trường hợp tại nước ngoài.
Như vậy tỉ lệ nhiễm HCV trước ghép trong nước thấp hơn ghép từ
nước ngoài về. Các trường hợp nhiễm HCV trước ghép được ghép
thận trong nước có thể do: hoặc được điều trị đặc hiệu trước ghép,
hoặc có HCV RNA âm tính trước ghép, trong số 7 trường hợp viêm
gan C trước ghép, có 4 trường hợp điều trị Interferon và đạt HCV
RNA(-) sau đó tiến hành ghép thận, 50% số này (2/4) tái hoạt động
HCV RNA(+) sau ghép, 2 trường hợp nhiễm cũ có anti HCV(+) và
HCV RNA(-) không điều trị trước ghép, 1 trường hợp ghép năm 2006,
không xét nghiệm anti HCV trước ghép, nhưng tầm soát sau ghép có kết
quả anti HCV(+).
19
Không ghi nhận sự khác biệt về các đặc điểm về tuổi phân theo
nhóm, giới tính, nghề nghiệp và phương pháp can thiệp lọc máu trước
ghép giữa nhóm viêm gan C và nhóm chứng.
Trong nhóm có tiền sử viêm gan C trước ghép, có 13 trường
hợp nhiễm cũ HCV (48,15%) và 14 trường hợp có HCV RNA(+) (
52,85%). Theo dõi 13 trường hợp HCV RNA (-), chúng tôi ghi nhận
có tình trạng bùng phát virus sau ghép với tỉ lệ 15,38% (2/13).
Trước năm 2015, các trường hợp nhiễm HCV trong nhóm
nghiên cứu không điều trị đặc hiệu vì nguy cơ thải ghép cao của
dõi. Kết quả này cũng tương tự với báo cáo nghiên cứu của Filik và
cộng sự năm 2006 với tỉ lệ kháng Lamuvidine 53,3% sau 2 năm theo
dõi và nghiên cứu của Yap và cộng sự năm 2010 tỉ lệ kháng
lamivudine là 64% sau 4 năm theo dõi. Tác giả Agarwal qua bảng tổng
hợp từ 1997 đến 2005 của các tác giả cho thấy tình trạng kháng
lamivudine cũng tăng tương tự theo thời gian và thay đổi theo từng
quốc gia. Kết quả này cũng tương đồng với các kết quả về kháng
lamivudine trong dân số không ghép thận hiện nay.
Trong nghiên cứu này, độ nhạy của entecavir là 78,57% (11/14
trường hợp), có 54,5% sạch virus hoặc nồng độ virus giảm dưới
ngưỡng đếm, kết quả này tương tự kết quả nghiên cứu của tác giả
Kamar công bố năm 2008.
Tenofovir được đánh giá trên 9 trường hợp (trong đó có 6
trường hợp kháng lamivudine và 3 trường hợp kháng entecavir) có độ
nhạy là 100%, nghiên cứu cũng có ghi nhận một tỉ lệ thay đổi suy
giảm nhẹ chức năng thận là 22,2%.
21
4.3. HIỆU QUẢ, TÁC DỤNG PHỤ VÀ TƯƠNG TÁC THUỐC
CỦA DAA TRÊN HCV
Hiệu quả
- Phác đồ phối hợp Sofosbuvir + Ledipasvir tỏ ra có hiệu quả
cao, đáp ứng virus nhanh (RVR) đạt 100%, đáp ứng virus khi ngưng
điều trị (ETR) đạt 100% và đáp ứng virus sau ngưng điều trị 12 tuần
(SVR 12) cũng là 100% trên các bệnh nhân ghép thận nhiễm HCV
genotype 1 và 6, điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của nhiều tác
giả trên thế giới. Trong nghiên cứu của tác giả Massimo Colombo và
cộng sự, thực hiện tại 5 điểm ở Châu Âu, trên 57 bệnh nhân ghép thận
genotype 1 và 4 nhiễm HCV dùng phác đồ sofosbuvir - ledipasvir điều
Ngoài ra hiệu quả điều trị đặc hiệu HCV trong nhóm có chứa ribavirin
không khác biệt với nhóm không chứa ribavirin.
• Về ảnh hưởng trên men gan: không tăng men gan trong quá trình
điều trị và các trường hợp men gan cao trước điều trị đều trở về bình
thường sau điều trị. Tương tự, chức năng thận cũng không bị ảnh hưởng.
4.4. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
Các trường hợp ghép thận từ nước ngoài về, một số trường hợp
thiếu thông tin viêm gan trước ghép của cả người cho và người nhận.
Do vậy, đối với người nhận thận nghiên cứu dựa vào kết quả tầm soát
viêm gan được thực hiện ngay khi bắt đầu theo dõi và thời gian sau
ghép để xác định tương đối tình trạng viêm gan trước hoặc sau ghép.
Số trường hợp điều trị viêm gan siêu vi C bằng DAA còn ít cần
nghiên cứu thêm.
23
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 440 trường hợp theo dõi sau ghép thận trong
thời gian từ 6/2013 đến 12/2016 tại Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi có
kết quả sau:
1. Có 72 trường hợp viêm gan trong tổng số 440 bệnh nhân
theo dõi sau ghép thận, trong đó viêm gan B chiếm tỉ lệ 6,36%, viêm
gan C chiếm tỉ lệ 9,09% và viêm gan B và C phối hợp chiếm tỉ lệ
0,91%.
2. Trong nhóm 28 bệnh nhân viêm gan B, tỉ lệ nhiễm HBV trước
ghép là 85,71%, tỉ lệ phát hiện HBV sau ghép 14,29%. Trong nhóm 40
bệnh nhân viêm gan C, tỉ lệ nhiễm HCV trước ghép là 67,5%, tỉ lệ phát
hiện HCV sau ghép là 32,5%.
Viêm gan B có 3 hình thái tái hoạt động sau ghép. Có 1,6% (2/
125) trường hợp tái hoạt động trên bệnh viêm gan siêu vi B đã khỏi.