4
MỤC LỤC:
DANH MỤC HÌNH VẼ............................................................................................6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT...........................................................................7
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................................................8
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................................10
1. Tính cấp thiết của đề tài:............................................................................10
2. Tình hình nghiên cứu:.................................................................................11
3. Mục đích của nghiên cứu:...........................................................................13
4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:..............................................................14
5. Phạm vi nghiên cứu:....................................................................................14
6. Phương pháp nghiên cứu:...........................................................................14
7. Kết quả nghiên cứu:....................................................................................15
8. Cấu trúc của luận văn.................................................................................15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT........................................................................16
1.1.
Tổng quan về toàn cầu hoá......................................................................16
1.1.1.
Các quan niệm về toàn cầu hoá............................................................16
1.1.2.
Khái niệm toàn cầu hoá kinh tế...........................................................19
1.1.3.
Nội dung và biểu hiện của toàn cầu hoá kinh tế...................................21
Cơ hội nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro........36
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CƠ HỘI PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN
THÔNG QUÂN ĐỘI (VIETTEL) TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ LA TINH..................37
2.1.
Tổng quan về Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel).........................37
2.2.
Phân tích cơ hội phát triển của Viettel tại thị trường Mỹ La tinh........40
2.2.1.
Cơ hội mở rộng thị trường...................................................................40
2.2.2.
Cơ hội duy trì khả năng sinh lợi nhuận................................................58
2.2.3.
Cơ hội tận dụng nguồn lực chất lượng cao và giá thành cạnh tranh....61
2.2.4.
Cơ hội tối ưu hóa chi phí sản xuất và kinh doanh................................65
2.2.5.
3.2.3.
Bài học về chiến lược cạnh tranh với các đối thủ lớn............................90
3.2.4.
Bài học về tận dụng những điều kiện thuận lợi về quy định và luật pháp
tại thị trường nước ngoài...................................................................................92
KẾT LUẬN.............................................................................................................94
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................97
6
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Tình hình tăng trưởng thuê bao di động tại Haiti giai đoạn 2005 2015........
………………………………………………………………………….....38
Hình 2.2: Tình hình tăng trưởng thuê bao di động tại Peru giai đoạn 2005-2015…..
…………………………………………………………………………...…40
Hình 2.3: Tình hình tăng trưởng thuê bao di động của Natcom 2011-2020.......
…………………………………………………………………………......44
Hình 2.4: Thị phần thị trường viễn thông Haiti các năm 2011-2016…….
……………………………………………………………………………45
Hình 2.5: Mức tiêu dùng trung bình của khách hàng Viettel tại thị trường Haiti và
Việt Nam .……………………………………………………………………….....46
Hình 2.6: Tình hình tăng trưởng thuê bao di động của Bitel 2014-2020...
…...................................................................................................................47
Hình 2.7: Thị phần thị trường viễn thông Peru các năm 2014-2016...
…...................................................................................................................48
nước Trung Mỹ
CMEP
Ủy ban Hiện đại hóa Doanh nghiệp nhà nước Haiti
EU
Liên Minh Châu Âu
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FITEL
Quỹ Đầu tư Viễn thông
GATT
Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
GSMA
Hiệp hội thông tin di động toàn cầu
Tổ chức thương mại và phát triển thuộc Liên hợp quốc
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bài luận văn đi vào nghiên cứu những khái niệm, lý luận chung nhất về toàn
cầu hoá, toàn cầu hoá kinh tế và những cơ hội phát triển mà doanh nghiệp có được
tiến hành đầu tư ra nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá. Từ cơ sở lý thuyết đã
tìm hiểu được từ các tài liệu cũng như các bài nghiên cứu trước đó trong cùng lĩnh
vực, sau đó vận dụng và đặt ra các giả thuyết về trường hợp của Tập đoàn Viễn
8
thông Quân đội (Viettel) khi đầu tư tại thị trường Mỹ La tinh, kết hợp với phân tích
các dữ liệu thu thập được, tác giả đã rút ra một số kết luận như sau
Thứ nhất, khi tiến hành đầu tư vào thị trường Mỹ La tinh trong bối cảnh toàn
cầu hóa, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) đã có được cơ hội mở rộng thị
trường, cơ hội đưa dịch vụ của mình đến phục vụ những đối tượng khách hàng mới.
Tại 2 thị trường Haiti và Peru, Viettel đã xây dựng được 7 triệu thuê bao di động với
mức tiêu dùng trung bình cao hơn các khách hàng trong nước. Dự kiến đến năm
2020, thị trường Mỹ La tinh sẽ mang về cho Viettel thêm 3 triệu thuê bao mới nữa,
nâng tổng số khách hàng sử dụng dịch vụ tại thị trường này lên 10 triệu thuê bao.
Thứ hai, khi đầu tư vào thị trường Mỹ La tinh, Viettel có được cơ hội tiếp cận
và tận dụng nguồn lao động dồi dào và trẻ (thị trường Haiti với 10 triệu người, thị
trường Peru với hơn 31 triệu người với 65% dân số nằm trong độ tuổi lao động), chất
lượng cao (lao động Peru có trình độ học vấn cao cũng như kinh nghiệm chuyên
môn tốt, lao động Haiti có sự nhiệt tình, chăm chỉ và tính năng động cao) và giá
trong nền kinh tế thế giới hiện nay. Theo Charles W.L. Hill trong cuốn Global
Business Today (2008), chúng ta đang vận động từ một thế giới của các nền kinh tế
đóng sang một thế giới mới mà ở đó các rào cản đối với thương mại và đầu tư quốc
10
tế được xóa bỏ, khoảng cách giữa các quốc gia được rút ngắn nhờ sự phát triển của
giao thông và công nghệ thông tin, nền văn hóa giữa các nước bắt đầu trở nên tương
tự nhau, và các nền kinh tế riêng lẻ của từng quốc gia đang dần nhập lại thành một
hệ thống kinh tế toàn cầu, có mối liên hệ mật thiết và gắn bó với nhau. Từ những sự
thay đổi đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu, có thể thấy rằng toàn cầu hoá có
tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia và dân tộc trên toàn thế giới bởi quá trình
này tạo ra cho các nước rất nhiều cơ hội phát triển về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và
công nghệ.
Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy tự nhiên đó. Kể từ sau quá trình
cải cách toàn diện đất nước bắt đầu từ năm 1986, Việt Nam đã chuyển đổi từ nền
kinh tế đóng sang nền kinh tế thị trường và ngày càng hội nhập hơn với nền kinh tế
thế giới. Việc gia nhập vào Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (1996), Tổ chức
Thương mại Thế giới (2007) và mới đây nhất là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương (2016) cùng hàng loạt các hiệp định thương mại tự do song phương khác đã,
đang và sẽ có những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam. Là một trong
những bộ phận chính cấu thành nên nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam, bất kể
quy mô lớn hay nhỏ cũng đều sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình toàn cầu
hoá, nếu là ảnh hưởng tích cực thì có thể tận dụng để tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao
vị thế, nhưng nếu là ảnh hưởng tiêu cực thì có thể sẽ dẫn tới thất bại.
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về những tác động, những cơ hội mà toàn
cầu hoá mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam khi hoạt động tại thị trường trong
nước như cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, cơ hội được chuyển giao
nhuận của doanh nghiệp đó sẽ cao hơn khi mức độ phụ thuộc vào doanh số từ thị
trường nước ngoài của họ càng cao? Kết quả nghiên cứu của công trình này là
nguồn tham khảo hữu ích cho một số giả thuyết được đặt ra tại bài luận văn này.
-
Dunning, John H. và Lundan, Sarianna M, Multinational Enterprises and
the Global Economy, NXB Edward Elgar Publishing Limited, Anh 2008.
Công trình nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu các vấn đề xoay quanh các
doanh nghiệp đa quốc gia, cụ thể: định nghĩa và các khía cạnh của đầu tư nước
ngoài, các lý do thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động theo chính sách đa quốc gia, các
yếu tố tác động và ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp tại thị trường nước
ngoài, một số chiến lược hoạt động của các doanh nghiệp đa quốc gia. Công trình
nghiên cứu cũng đưa ra các kiến nghị dành cho chính phủ và các doanh nghiệp đa
quốc gia nhằm giúp hoạt động đầu tư ra nước ngoài có hiệu quả hơn.
-
Gutterman, Alan S. và Brown, Robert L., Going Global: A Guide to
Building an International Business, NXB Thomson/West, Mỹ 2011.
Công trình nghiên cứu này đề cập đến tầm quan trọng của chiến lược kinh
doanh và hiểu biết về luật pháp khi một doanh nghiệp hoạt động tại thị trường nước
12
ngoài và cách mà doanh nghiệp xây dựng cũng như quản lý kinh doanh. Bằng việc
khái quát các vấn đề liên quan đến pháp lý tại Mỹ và các thị trường khác, công trình
nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với tác giả trong phần phân tích
hoạt động kinh doanh của Viettel tại thị trường Mỹ La tinh.
13
các giải pháp lựa chọn nhằm hạn chế tác động tiêu cực và phát huy tác động tích
cực của quá trình toàn cầu hoá.
Tất cả các tài liệu, các công trình nghiên cứu nói trên đều đã chỉ ra những tác
động hai chiều của toàn cầu hoá đối với doanh nghiệp và cũng rút ra một số bài học
khá hữu ích về việc xây dựng chiến lược kinh doanh tại thị trường nước ngoài. Tuy
nhiên, phạm vi nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở tổng quan các doanh nghiệp nói
chung mà chưa đi sâu vào từng doanh nghiệp cụ thể. Do đó tác giả lựa chọn đối
tượng nghiên cứu là Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), có thể coi là đơn vị
tiêu biểu nhất trong công tác đầu tư ra thị trường nước ngoài và phạm vi nghiên cứu
là thị trường Mỹ La tinh, thị trường tiềm năng và cũng là thị trường có khoảng cách
địa lý xa nhất tính đến thời điểm hiện tại của Viettel. Trong quá trình nghiên cứu,
tác giả sẽ tiếp tục kế thừa những thành quả của những công trình nghiên cứu trước
đó, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể tại Viettel, đồng thời tiếp tục bổ sung các nội
dung cần thiết để rút ra được những bài học, những giải pháp hữu hiệu nhất cho bản
thân Viettel cũng như các doanh nghiệp viễn thông khác của Việt Nam khi hoạt
động kinh doanh tại thị trường nước ngoài.
3.
Mục đích của nghiên cứu:
Mục đích chính của bài nghiên cứu này nhằm:
Thứ nhất là hệ thống hoá những kiến thức, lý luận chung nhất về toàn cầu hoá
(bao gồm khái niệm, biểu hiện của toàn cầu hoá và toàn cầu hoá kinh tế, những cơ
hội phát triển đối với các doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài trong bối cảnh toàn
cầu hoá).
Thứ hai là phân tích những cơ hội phát triển của Viettel tại thị trường Mỹ La
hai quốc gia Haiti và Peru) từ năm 2010 đến nay.
6.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính. Đầu tiên, bài sẽ
tập trung nghiên cứu nguồn tài liệu thứ cấp liên quan đến khái niệm toàn cầu hoá và
các cơ hội phát triển mà toàn cầu hoá mang lại cho các doanh nghiệp khi triển khai
đầu tư tại thị trường nước ngoài. Sau đó, tác giả sẽ thu thập các số liệu liên quan đến
hoạt động đầu tư và kinh doanh của Viettel tại thị trường Mỹ La tinh, phân tích và so
sánh với cơ sở lý thuyết nói trên để trả lời câu hỏi nghiên cứu và chứng minh giả
thuyết nghiên cứu. Các tài liệu được sử dụng để làm cơ sở cho bài luận văn này là các
nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, các bài báo và báo cáo kết quả kinh
doanh của Viettel.
7.
Kết quả nghiên cứu:
15
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích, bài luận văn đã chứng minh
được giả thuyết 1, giả thuyết 3, giả thuyết 4 và giả thuyết 5 là phù hợp và rút ra
được các kết luận sau: Khi tiến hành đầu tư vào thị trường Mỹ La tinh trong bối
cảnh toàn cầu hóa, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) đã có được (1) cơ hội
mở rộng thị trường; (2) cơ hội tận dụng nguồn lao động dồi dào, chất lượng cao và
giá thành cạnh tranh hơn thị trường trong nước; (3) cơ hội tiết kiệm chi phí giao
dịch do được hưởng ưu đãi từ chính sách khuyến khích đầu tư và (4) cơ hội nâng
cao uy tín cũng như năng lực cạnh tranh.
toàn cầu hóa chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỷ 19, khi chi phí vận chuyển giảm đột
ngột cho phép giá hàng hóa ở Châu Âu và Châu Á trùng hợp với nhau. Thuật ngữ
“toàn cầu hoá” lần đầu tiên được đưa vào cuốn từ điển tiếng Anh của Webster (Hoa
Kỳ) năm 1961 và đến những năm 1980 thì bắt đầu được sử dụng rộng rãi (Nguyễn
Văn Dân 2001, tr.14).
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Dân trong cuốn Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh
tế (2001, tr.15), nói một cách khái quát nhất thì có thể định nghĩa toàn cầu hoá là
quá trình rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, làm cho con người ngày càng
thấy mình sống trong một thế giới giống như một nơi chốn duy nhất, một “ngôi làng
toàn cầu” không biên giới. Thuật ngữ “Ngôi làng toàn cầu” được nhà triết học, giáo
sư Marshall McLuhan (Canada) nói đến trong cuốn Understanding Media: The
Extensions of Man (1964), khi đề cập đến khía cạnh toàn cầu của cuộc cách mạng
thông tin.
Một trong những quan niệm nhận được nhiều sự đồng tình nhất là xem toàn cầu
hoá là biểu hiện, là kết quả của sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dẫn
đến phá vỡ sự biệt lập của các quốc gia, tạo ra và làm tăng lên các mối quan hệ gắn
kết và tương tác, sự ảnh hưởng, tác động và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia,
dân tộc trên quy mô toàn cầu trong sự vận động, phát triển. Với quan niệm này thì
toàn cầu hoá và quốc tế hoá chưa có sự phân biệt rõ ràng.
17
Một quan điểm khác lại cho rằng toàn cầu hóa là giai đoạn cao của quá trình
phát triển lực lượng sản xuất thế giới, là kết quả phát triển tất yếu của kinh tế thị
trường và khoa học công nghệ, hay thực chất toàn cầu hoá chính là sự tăng trưởng
của hoạt động kinh tế nói chung đã vượt khỏi biên giới quốc gia và khu vực. Toàn
cầu hoá mang nội dung chủ đạo là toàn cầu hoá kinh tế, phát triển kinh tế vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của toàn cầu hoá. Có thể thấy rằng quan điểm này tập
trung vào khía cạnh phát triển của lực lượng sản xuất khi xem xét bản chất của toàn
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu khách quan của thời đại và bị chi phối bởi
sáu nhân tố cơ bản sau:
Thứ nhất là sự phát triển của lực lượng sản xuất mà biểu hiện tập trung nhất là
ở sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Theo một luận điểm của Các Mác trong cuốn
Tuyên Ngôn của Đảng Cộng sản (1986, tr.47), các cuộc cách mạng công nghiệp đã
dẫn đến sự ra đời của thị trường thế giới, nơi mà các quốc gia, dân tộc phát triển
những mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
Thứ hai là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường. Có thể thấy rằng
cơ chế kinh tế thị trường thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế bằng cách
tạo điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho quy mô sản xuất
không chỉ bó hẹp trong phạm vi của một quốc gia mà mang tính chất toàn cầu. Hiện
nay, đa số các quốc gia đều thống nhất áp dụng một cơ chế để xử lý các mối quan hệ
kinh tế, đó là cơ chế thị trường với phương thức phân bổ nguồn lực từ sức lao động
đến tư liệu sản xuất. Đây chính là cơ sở gia tăng của xu thế toàn cầu hoá.
Thứ ba là sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia. Nhờ sự tiến bộ khoa
học công nghệ và chính sách tự do hóa thương mại, các nước có thể dễ dàng trao
đổi các yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh như vốn, máy móc, nguyên nhiên
liệu, nhân công..., từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty, tập đoàn lớn thực
hiện phân bổ cơ cấu sản xuất trên phạm vi toàn cầu thông qua hình thức đầu tư ra
nước ngoài mà vẫn duy trì được sự quản lý thống nhất. Các công ty hoạt động theo
hình thức này được gọi là công ty xuyên quốc gia. Bằng việc đầu tư và phân bổ dây
chuyền sản xuất kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới và thực hiện các hoạt động
lưu chuyển vốn, lưu chuyển hàng hoá dịch vụ, các công ty này đã góp phần thúc
đẩy thương mại toàn cầu và khu vực.
Thứ tư là sự ra đời của các tổ chức kinh tế toàn cầu, các khối kinh tế khu vực
và liên khu vực, các hiệp định kinh tế thương mại song phương và đa phương. Các
19
20
Theo Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng trong bài nghiên cứu Toàn cầu hoá kinh tế Đặc trưng và những biểu hiện chủ yếu trong cuốn Những vấn đề của toàn cầu hoá
kinh tế (2001), toàn cầu hoá kinh tế là một quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đã
đạt đến trình độ đưa vào lưu thông kinh tế toàn cầu đến cả các khâu của quá trình tái
sản xuất xã hội, dựa trên sự phân công lao động toàn cầu, thông qua các loại hình
quan hệ kinh tế khác nhau giữa các nước và theo đó các nền quốc gia xâm nhập và
gắn bó chặt chẽ với nhau, chuyển hoá thành nền kinh tế toàn cầu.
Các nhà kinh tế thuộc Tổ chức thương mại và phát triển thuộc Liên hợp quốc
(UNCTAD) cho rằng: “Toàn cầu hóa kinh tế liên hệ tới các luồng giao lưu không
ngừng tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia
cùng với hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu, nhằm quản lý các
hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng gia tăng đó”.
Các chuyên gia Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng toàn
cầu hóa kinh tế là sự vận động tự do của các yếu tố sản xuất nhằm phân bổ tối ưu
các nguồn lực trên phạm vi toàn cầu. Theo quan điểm của Qũy Tiền tệ quốc tế
(IMF) thì toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng không ngừng các luồng mậu dịch, vốn,
kỹ thuật với quy mô và hình thức phong phú, làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
các nền kinh tế trên thế giới.
Từ các quan điểm trên có thể rút ra kết luận rằng khái niệm toàn cầu hoá kinh
tế chủ yếu xoay xung quanh ba vấn đề chính. Đó là sự phân công lao động toàn cầu;
sự tự do lưu chuyển của hàng hoá, dịch vụ và các nguồn lực sản xuất như vốn, công
nghệ, nhân công vượt ra ngoài biên giới quốc gia; và mối quan hệ kinh tế ngày càng
gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau của các nước trên toàn thế giới.
Theo Nguyễn Hoàng Hải trong bài nghiên cứu Tác động của toàn cầu hoá kinh
tế với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam (2004, tr.5), một số các thuật ngữ liên
quan trực tiếp đến vấn đề toàn cầu hoá kinh tế có thể kể đến là: khu vực hoá kinh tế
và hội nhập kinh tế:
-
Thiết chế quản lý nền kinh tế dựa vào những thế mạnh của bản sắc dân tộc.
1.1.3. Nội dung và biểu hiện của toàn cầu hoá kinh tế
Toàn cầu hóa kinh tế được thể hiện chủ yếu ở hai bình diện: mở rộng địa bàn
sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ. Và liên quan đến hai bình diện đó là các
quá trình tự do hóa hoạt động kinh tế mà trong đó nổi bật lên các quá trình chính là
tự do hóa thương mại, tự do hóa tài chính và tự do hóa đầu tư (Nguyễn Văn Dân
2001, tr.17). Quan điểm này cũng tương tự như quan điểm của O.T. Bogomolov
trong cuốn Thách thức đối với trật tự thế giới – toàn cầu hóa kinh tế không giải
22
quyết được những vấn đề giữa các quốc gia và những vấn đề xã hội của nhân loại
(2000). Ông cho rằng “những đặc trưng nổi bật của toàn cầu hóa kinh tế chính là sự
liên kết trong các hoạt động kinh tế quốc tế mà bao trùm lên tất cả là các dòng trao
đổi thương mại, hàng hóa và dịch vụ, các dòng vốn và đầu tư trực tiếp”. Như vậy,
để có cái nhìn rõ ràng hơn về các biểu hiện của quá trình toàn cầu hóa kinh tế,
chúng ta sẽ đề cập đến khái niệm và nội dung cụ thể của ba xu hướng tự do hóa
thương mại, tài chính và đầu tư.
1.1.3.1. Tự do hóa thương mại:
Theo Từ điển Chính sách thương mại quốc tế của Trung tâm nghiên cứu kinh
tế quốc tế (Đại học Adelaide, Australia), tự do hoá thương mại là thuật ngữ dùng để
chỉ hoạt động loại bỏ các cản trở hiện hành đối với thương mại hàng hoá và dịch vụ.
Theo khái niệm này, nếu đặt trong bối cảnh thương mại quốc tế thì tự do hoá thương
mại chính là quá trình hướng tới xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa hàng hoá trong
nước và hàng nhập khẩu, tạo điều kiện cho sự tự do lưu chuyển dòng hàng hoá liên
biên giới giữa các quốc gia với nhau.
Nói một cách khái quát, tự do hoá thương mại là hành động loại bỏ mọi cản trở
đối với các hoạt động giao thương quốc tế nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho thương
mại quốc tế phát triển. Các rào cản gây trở ngại cho thương mại quốc tế bao gồm:
Thương mại Thế giới (WTO), thành lập năm 1995, với tiền thân của nó là Hiệp định
chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT), thành lập từ năm 1947 (Nguyễn Văn
Dân 2001, tr.17-18). Trên thực tế, WTO hay GATT trước đây chính là biểu hiện
sinh động nhất cho quá trình tự do hóa thương mại thông qua các diễn đàn đa biên.
-
GATT là một khuôn khổ hợp tác đa phương, ban đầu nhằm mục tiêu cắt
giảm thuế quan, dành các ưu đãi cho các nước đang và chưa phát triển và các quy
chế thoả thuận khu vực, sau đó mở rộng sang hàng rào phi thuế quan, thuế hoá các
biện pháp phi thuế quan, xem xét chính sách thương mại của các bên tham gia, mở
rộng sang lĩnh vực dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, môi trường. Sau khi WTO ra đời,
ngoài việc tiếp tục theo đuổi mục tiêu của GATT là tự do hóa thương mại toàn cầu,
WTO hoạt động như một tổ chức toàn cầu chặt chẽ, có những thể chế, nguyên tắc
và cách thức hoạt động rõ ràng. Như vậy, có thể kết luận rằng sự mở rộng về quy
mô, số lượng thành viên tham gia và nội dung đàm phán của GATT và sau này là sự
phát triển không ngừng của WTO đã cho thấy tính phổ biến của hình thức tự do hoá
thương mại thông qua các diễn đàn thương mại đa biên.
Tự do hóa thương mại thông qua hội nhập khu vực:
-
Đặc trưng của quá trình tự do hoá thương mại thông qua hội nhập khu vực
là được tiến hành thông qua đàm phán về các vấn đề liên quan đến thương mại
24
trong phạm vi một khu vực cụ thể và dựa trên nguyên tắc có đi có lại giữa các quốc
Tương tự như hai hình thức đã kể trên, mục tiêu chủ yếu của các hiệp định
thương mại song phương cũng là hướng tới tự do hoá thương mại, thể hiện bằng
cách cắt giảm và gỡ bỏ hàng loạt các rào cản thuế quan, phi thuế quan, và các rào
cản thương mại khác giữa hai quốc gia.
-
Trên thực tế, hình thức này không phải luôn luôn mang lại lợi ích cho tất cả
các bên tham gia, bởi tùy thuộc theo điều kiện, tính chất và quy mô nền kinh tế mà
mỗi nước sẽ nhận được những mức độ tác động khác nhau. Do vậy, khi áp dụng
25
hình thức tự do hoá thương mại qua các hiệp định thương mại song phương, các
quốc gia, đặc biệt là các nước nhỏ cần phải có sự cân nhắc thận trọng trong khi đưa
ra các nhượng bộ.
Tự do hóa thương mại đơn phương:
-
Đây là hình thức một quốc gia đơn phương tự nguyện cắt giảm các hàng
rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu từ nước
ngoài. Mục tiêu của hình thức tự do hóa thương mại này là nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn và các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thị trường thế giới, thúc đẩy
sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước bằng cách tăng cường mức độ cạnh
tranh trên thị trường nội địa, từ đó tạo động lực cho sự phát triển của toàn bộ nền
chính từ chính phủ sang thị trường, mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa
Nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội.
Do vậy, mức tự do hóa tài chính được thể hiện ở tỷ số giữa tiền mở rộng (tiền mặt
và tiền gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại) trên thu nhập quốc dân. Tỷ lệ này
càng cao, mức tự do hóa tài chính càng lớn.
Nội dung cơ bản của tự do hoá tài chính bao gồm: Tự do hoá lãi suất và giá cả,
tự do hóa hoạt động tín dụng và giảm thiểu thủ tục hành chính của các tổ chức tín
dụng nhà nước, tự do hoá hoạt động ngoại hối, tự do hoá hoạt động của các tổ chức
tài chính trên thị trường tài chính, cắt giảm thuế và lạm phát trên thị trường tài
chính quốc gia. Cụ thể:
-
Tự do hóa lãi suất và giá cả là cho phép các định chế tài chính, ngân hàng
tự do xác định các mức lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, tự do ấn định các mức phí
trong phạm vi hoạt động tài chính.
-
Tự do hóa hoạt động tín dụng và giảm thiểu thủ tục hành chính của các tổ
chức tín dụng nhà nước là việc xóa bỏ các hạn chế, định hướng chủ quan hay ràng
buộc về số lượng trong quá trình cấp và phân phối tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động tín dụng và mở rộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế.
-
Tự do hóa hoạt động ngoại hối là việc xóa bỏ các hạn chế về quản lý ngoại
hối và thực hiện điều hành tỷ giá hối đoái theo nguyên tắc thị trường.
-
khích phát triển, các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành theo tín hiệu thị
trường.
-
Tự do hóa tài chính với nước ngoài là loại bỏ kiểm soát vốn và các hạn chế
trong quản lý ngoại hối bao gồm tự do hóa giao dịch vãng lai và tự do hóa giao dịch
vốn.
Việc tự do hóa thị trường tài chính thực chất là điều kiện thúc đẩy và là bước
đi quan trọng cho một quá trình khác cao hơn là hội nhập các thị trường tài chính
quốc tế, để từ đó tiến tới toàn cầu hóa tài chính, khi mà các thị trường quốc gia khác
nhau về một sản phẩm hay một dịch vụ tài chính trở thành một thị trường toàn cầu
duy nhất.
Hiện nay có rất nhiều các tổ chức kinh tế tài chính khu vực và toàn cầu đã
được thành lập để đáp ứng yêu cầu của quá trình tự do hóa, toàn cầu hóa tài chính
như Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng
châu Á (ADB)... Các tổ chức này tham gia vào việc điều chỉnh quan hệ tài chính –
tiền tệ giữa các quốc gia thành viên và thực hiện cho vay để hỗ trợ quá trình phát
triển kinh tế - xã hội. Với yêu cầu các quốc gia muốn được cấp vốn thì cần phải cải
cách hệ thống tài chính quốc gia hoặc khu vực theo xu hướng tự do hóa, phù hợp
với thông lệ quốc tế, các tổ chức như World Bank hay IMF đang nhằm vào mục tiêu
hướng các thị trường quốc gia hội nhập vào thị trường tài chính toàn cầu.
28
1.1.3.3. Tự do hóa đầu tư
Có ý kiến cho rằng tự do hóa đầu tư cũng tương tự như tự do hóa thương mại
hàng hóa và dịch vụ, ở chỗ đều cùng tiến hành việc hạn chế, cắt giảm và tiến tới xóa
bỏ các rào cản đối với các đối tượng của tự do hóa. Nếu như rào cản thương mại