LUẬN văn THẠC sĩ đảng bộ tỉnh quảng bình lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội từ năm 2001 đến năm 2010 - Pdf 52

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chính sách xã hội giữ vai trò rất quan trọng trong hệ thống chính sách
của Đảng và Nhà nước Việt Nam, góp phần thúc đẩy thắng lợi của sự nghiệp
cách mạng. Mục tiêu của CSXH là nhằm xây dựng và phát triển con người,
đem lại cuộc sống hạnh phúc cho con người, góp phần lành mạnh hóa xã hội
và tạo ra động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nghị quyết
Trung ương 5 (khóa XI) chỉ rõ: “Chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan
trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững trong mọi
giai đoạn phát triển” [25, tr.68].
Hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây
dựng và tổ chức thực hiện các CSXH. Thông qua CSXH mà quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bảo đảm ngày càng đầy đủ, hoàn
thiện hơn, góp phần tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng nước Việt
Nam XHCN “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Quảng Bình là địa phương phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của
chiến tranh, cũng là địa phương luôn phải đối phó với thiên tai khắc nghiệt,
bão lũ. Ngay sau ngày đất nước thống nhất, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới,
Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Quảng Bình đã tập trung mọi nỗ lực giải quyết
các vấn đề về CSXH và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, do
hậu quả nặng nề của chiến tranh cùng với những bất cập trong chỉ đạo, điều
hành, quản lý… việc thực hiện CSXH của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế. Một số
mặt yếu kém kéo dài, chậm được khắc phục như vấn đề giải quyết việc làm cho
người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; giảm nghèo chưa bền
vững, tỷ lệ hộ cận nghèo và tái nghèo còn cao; chất lượng giáo dục chưa đồng
đều giữa miền núi với miền xuôi, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; công
tác đào tạo nghề còn nhiều bất cập; hệ thống chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế
3




thành tựu và hạn chế, đưa ra các quan điểm và giải pháp đối với một số
CSXH chủ yếu: vấn đề việc làm, vấn đề phân hoá giàu nghèo và công bằng xã
hội... ở nông thôn nước ta trong điều kiện đổi mới. Công trình đề cập đến
phân tầng xã hội ở nông thôn, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, miền núi và đưa
ra các quan điểm cơ bản giải quyết vấn đề công bằng xã hội ở nông thôn;
Nguyễn Thị Kim Ngân (2008), “Nỗ lực phấn đấu thực hiện có hiệu quả chính
sách an sinh xã hội”, Tạp chí Cộng sản, số 7-2008. Tác giả trình bày chính
sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, nêu lên những thành tựu đạt được
cũng như khó khăn và thách thức đối với chính sách an sinh xã hội; Mai Ngọc
Cường (2013), Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách đã giới thiệu khái quát về đặc điểm,
mục tiêu, nguyên tắc và quá trình thực hiện CSXH, cũng như hệ thống các
CSXH phổ biến ở các nước và những nội dung có khả năng ứng dụng ở Việt
Nam. Đồng thời, các tác giả đã đề cập đến thực trạng, thành tựu, hạn chế của
CSXH ở Việt Nam dưới nhiều lĩnh vực như: chính sách giảm nghèo; chính
sách tạo việc làm... Trên cơ sở đó, các tác giả đưa ra những giải pháp và một số
khuyến nghị về xây dựng hệ thống CSXH ở Việt Nam trong những năm tới.
Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách xã hội ở các địa phương
Phạm Quang Nghị (2007), “Hà Nội làm tốt hơn nữa công tác thương
binh, gia đình liệt sĩ, người có công”, Tạp chí Cộng sản, số 7-2007. Tác giả đã
tóm lược những thành tựu trong công tác thương binh, liệt sĩ và người có
công với cách mạng trong thành phố Hà Nội trên các mặt như: Thực hiện
chính sách, chăm sóc người có công, hỗ trợ nhà ở, chăm sóc nghĩa trang liệt
sĩ, mộ liệt sĩ. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp để Hà Nội làm tốt hơn
nữa công tác thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công; Phạm Văn Hồ
(2012), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội ở Tây
Nguyên từ năm 1996 đến năm 2006, Luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

6


nhằm tăng cường năng lực hoạt động các cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lượng
đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tạo việc làm ổn định lâu dài ở tỉnh
Quảng Bình; Phan Văn Cầu (2014), Giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn ở tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Đại học Kinh tế - Đại học
Quốc gia Hà Nội. Luận văn hệ thống hóa và góp phần làm rõ nội hàm của vấn
đề việc làm nói chung và việc làm của người lao động nông thôn nói riêng.
Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho người lao
động ở nông thôn tỉnh Quảng Bình từ 2008 đến năm 2013, chỉ rõ những thành
tựu, hạn chế trong vấn đề này và nguyên nhân của nó. Đề xuất một số giải
pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho người lao
động ở nông thôn tỉnh Quảng Bình đến năm 2020; UBND tỉnh Quảng Bình và
Hội Khoa học lịch sử Việt Nam (2014), “Báo cáo khoa học Hội thảo Quốc
gia về Quảng Bình 410 năm hình thành và phát triển”. Nxb Chính trị - Hành
chính. Cuốn sách là tuyển tập các bài viết của các nhà khoa học trên mọi miền
Tổ quốc và ở Quảng Bình viết về quá trình hình thành và phát triển vùng đất
và tỉnh Quảng Bình, những chuyển biến cơ bản về KT - XH Quảng Bình
trong thực hiện đường lối đổi mới. Các bài viết đã khái quát tình hình KT XH của tỉnh và vấn đề giải quyết việc làm của tỉnh trong thời gian qua đã có
nhiều chuyển biến. Cùng với việc mở mang phát triển các chương trình phát
triển kinh tế trọng điểm, đa dạng hoá ngành nghề, loại hình kinh tế, tỉnh đã ban
hành chính sách tạo môi trường để người lao động tự tạo việc làm. Tuy nhiên,
vấn đề giải quyết việc làm cho lao động vẫn còn nhiều khó khăn, cần phải tiếp
tục tăng cường. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp đưa Quảng
Bình phát triển nhanh và bền vững.
Những công trình khoa học trên đã đề cập ở những góc độ khác nhau
về cả phương diện lý luận, thực tiễn trong thực hiện CSXH ở Việt Nam nói
chung và ở tỉnh Quảng Bình nói riêng. Song, chưa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu một cách độc lập, có tính hệ thống trong thời gian cụ thể về quá

- Về không gian: Tập trung nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Quảng Bình
8


5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về CSXH.
* Cơ sở thực tiễn
Đề tài dựa vào các văn kiện nghị quyết, các báo cáo tổng kết của Đảng
bộ, của chính quyền các cấp; các số liệu có liên quan đến việc thực hiện CSXH
của tỉnh Quảng Bình được công bố trong niên giám thống kê, trong công trình,
đề tài, đề án, các bài báo khoa học… có liên quan đến hoạt động lãnh đạo thực
hiện CSXH của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình từ năm 2001 đến năm 2010.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành lịch sử,
trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc. Ngoài ra,
đề tài còn kết hợp sử dụng các phương pháp khác như: thống kê, phân tích,
tổng hợp... để làm sáng tỏ các nội dung có liên quan.
6. Ý nghĩa của luận văn
Góp phần vào việc tổng kết công tác CSXH của Đảng trong thời kỳ đổi
mới (qua thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Bình).
Những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo
thực hiện CSXH (2001 - 2010), góp phần phục vụ quá trình thực hiện CSXH
ở địa phương trong những năm tiếp theo.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy Lịch sử Đảng, lịch sử Đảng bộ địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (6 tiết), Kết luận, Danh mục tài liệu
tham khảo và Phụ lục.

và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết
tham gia” [21, tr.34]. Thực hiện CSXH chính là quá trình cụ thể hóa quyền con
người đã được ghi nhận và bảo vệ trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước
10


cũng như các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Thông qua CSXH mà quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bảo đảm ngày càng đầy
đủ, hoàn thiện hơn, góp phần tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng
nước Việt Nam XHCN “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Hai là, CSXH bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người
Mục tiêu cơ bản của CSXH là bảo đảm ổn định xã hội, tạo điều kiện
cho sự tăng trưởng và phát triển, hướng tới sự công bằng, tiến bộ xã hội,
không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và cuộc sống tốt
đẹp, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân. Do đó, dưới CNXH, CSXH luôn
được áp dụng với tất cả các lĩnh vực trong xã hội: “Chính sách xã hội bao
trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo
dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc” [19,
tr.86]. Chính vì vậy, việc nhận thức và thực hiện đúng CSXH là tạo ra động
lực to lớn thúc đẩy sự nghiệp phát triển KT - XH, thúc đẩy quá trình cách
mạng XHCN. Con người được thỏa mãn nhu cầu và lợi ích chính đáng của
mình, sẽ hoạt động tích cực sáng tạo, thúc đẩy tiến bộ xã hội. CSXH đúng đắn
sẽ khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nhân dân lao động, nâng cao tính
tích cực lao động và tính tích cực chính trị - xã hội của con người, thúc đẩy sự
phát triển kinh tế và mọi mặt đời sống xã hội. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI đã khẳng định: “Ngay trong khuôn khổ của hoạt động kinh tế, CSXH có
ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, là một nhân
tố quan trọng để phát triển sản xuất” [19, tr.86].
Ba là, CSXH phù hợp là động lực phát triển kinh tế bền vững.
Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện CSXH,

hơn bản chất CNXH. Mở đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng đã
chỉ rõ: “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính
sách xã hội, nhưng mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế”
[19, tr.86]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) của Đảng, cùng với
làm rõ những đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng,
12


Đảng xác định phương hướng thực hiện “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh
phúc con người là động lực to lớn phát triển mọi tiềm năng sáng tạo của nhân
dân trong xây dựng xã hội chủ nghĩa” [20, tr.13]. Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII (1996) của Đảng đã bổ sung một quan điểm quan trọng là “Tăng
trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng
bước và trong suốt quá trình phát triển” [21, tr.13]. Như vậy, trải qua các thời
kỳ lịch sử, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực
hiện CSXH luôn phản ánh sâu sắc bản chất của CNXH ở nước ta.
* Chủ trương của Đảng về chính sách xã hội (2001 - 2005).
Mục tiêu, phương hướng:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) của Đảng xác định mục
tiêu, phương hướng CSXH là: “Thực hiện các chính sách xã hội hướng vào
phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo
động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực
hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp
pháp” [21, tr.104].
Phương hướng giải quyết các CSXH được Đảng xác định: “Các chính
sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao trách nhiệm của
chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia
của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội” [21, tr.108].
Mục tiêu cụ thể:
Về giải quyết việc làm: Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề giải

người dân địa phương” [21, tr.301].
Về công tác DS - KHHGĐ: Bước vào thập niên đầu của thế kỷ XXI,
khi mức sinh đã tiệm cận mức sinh thay thế (trung bình mỗi phụ nữ trong độ
tuổi sinh đẻ có 2,1 con), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng
xác định chính sách dân số nhằm chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất
lượng dân số phù hợp với những yêu cầu phát triển KT - XH. Nâng cao chất
lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình; giải
14


quyết tốt mối quan hệ giữa phân bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát
triển nguồn nhân lực. Đồng thời, “Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con
người (HDI) của nước ta. Tốc độ tăng dân số đến năm 2010 còn khoảng
1,1%” [21, tr.160].
Giải pháp:
Một là, tiếp tục thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính
sách Nhà nước về CSXH thành cơ chế, chính sách, luật pháp.
Hai là, tăng đầu tư cho thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu về
việc làm, giảm nghèo và dân số.
Ba là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp
trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và điều hành thực hiện CSXH.
Bốn là, nghiên cứu, đánh giá và cảnh báo những tác động của việc hội
nhập kinh tế quốc tế đến thực hiện các CSXH.
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình
Điều kiện tự nhiên
Quảng Bình là tỉnh ven biển Bắc Trung bộ Việt Nam với diện tích tự
nhiên 8.065,27 km2, phía Đông có bờ biển dài 116,04 km, có vịnh và cảng
Hòn La, cảng Gianh, cảng Nhật Lệ; có chung biên giới với nước Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Lào 201,87 km ở phía Tây, phía Bắc tiếp giáp tỉnh Hà Tĩnh
với chiều dài địa giới 136,5 km, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị với địa giới

hóa nghiêm trọng là những thách thức to lớn đối với quá trình phát triển bền
vững. Do đó, đòi hỏi trong chiến lược phát triển KT - XH của tỉnh nói chung,
thực hiện CSXH nói riêng phải giải quyết bài toán làm sao khai thác có hiệu
quả tài nguyên thiên nhiên, nhưng đồng thời phải khắc phục những khắc
nghiệt của tự nhiên; giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực
hiện CSXH và giữ gìn, tái tạo, bảo vệ môi trường tự nhiên.
Điều kiện kinh tế - xã hội
Mặc dù đã đạt được thành tích quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế, “Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm (1996 - 2000) đạt 8,2%.
16


Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng bình quân 5,3%/năm, công
nghiệp tăng 17,2%/năm, dịch vụ tăng 7%/năm. Tổng sản phẩm nội tỉnh
(GDP) bình quân đầu người gấp 1,3 lần so với năm 1995” [2, tr.18]. Song,
nền kinh tế tỉnh Quảng Bình vẫn là nền kinh tế sản xuất nông nghiệp phụ
thuộc nhiều vào thiên nhiên, hiệu quả thấp, thiếu tính bền vững. Ở các xã
vùng cao, vùng sâu, biên giới, sản xuất tự cung tự cấp là phổ biến, thậm chí
một số nơi như đồng bào dân tộc Rục còn tình trạng kinh tế hái lượm. Các cơ
sở công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ có quy mô nhỏ bé, ở vùng miền
núi, vùng biên giới hầu như không có.
Dân số Quảng Bình năm 2000 là 807.787 người, đến năm 2005 là
850.650 người, mật độ dân số bình quân 105 người/km². Dân cư phân bố
không đều, 85,5% sống ở vùng nông thôn và 14,5% sống ở thành thị. Dân số
của tỉnh Quảng Bình tính theo mức tăng dân số tự nhiên bình quân hằng năm
cả thời kỳ 2001 - 2005 là 1,43% [39, tr.6].
Quảng Bình có nguồn lao động với 380.306 người, phần lớn lao động
chủ yếu tập trung ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Lực lượng lao động qua
đào tạo là 53.295 người, chiếm tỷ lệ 14%. Lao động qua đào tạo nghề chủ yếu
được phân bổ trong lĩnh vực sản xuất vật chất như: các ngành công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản, khai khoáng, chế biến nông lâm thuỷ

KT - XH nhằm phát huy những lợi thế vốn có, hạn chế đến mức thấp nhất
những trở lực, đưa ra các quyết sách đúng đắn. Tiến hành thực hiện CSXH
thông qua các chính sách cụ thể như: giải quyết việc làm, XĐGN, chính sách
đối với người và gia đình có công, chính sách DS - KHHGĐ... nhằm giải
quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế đồng thời từng bước thực hiện
CSXH, đảm bảo vì sự phát triển của con người.
* Tình hình thực hiện chính sách xã hội ở tỉnh Quảng
Bình trước năm 2001
Ưu điểm
Quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về
CSXH, từ năm 1986 đến năm 2000, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Bình đã có
18


nhiều nghị quyết, quyết định cụ thể hóa phù hợp với thực tiễn địa phương. Xác
định rõ là phải gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, tăng
trưởng kinh tế phải luôn đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Ngay trong Đại
hội Đảng bộ lần thứ XII (1996) của tỉnh đã đề ra tư tưởng chỉ đạo “giải quyết
tốt các mối quan hệ kinh tế và xã hội; kinh tế và quốc phòng, an ninh; coi trọng
tính thống nhất hiệu quả kinh tế - xã hội, lợi ích kinh tế là động lực tinh thần
trong mọi lĩnh vực hoạt động, trong từng địa phương cơ sở…” [1; tr. 43].
Quá trình tổ chức thực hiện, do nhận thức rõ tính chất, đặc điểm thời kỳ
xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang xây dựng nền kinh tế
thị trường theo định hướng XHCN nên Đảng bộ, UBND tỉnh thường xuyên
quan tâm, gắn chặt hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng với chỉ đạo của
chính quyền từ cấp tỉnh đến huyện và xã, tạo được sự đồng thuận, ủng hộ của
các tổ chức, đơn vị và các doanh nghiệp nên đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng trên các mặt: lao động việc làm, XĐGN, đền ơn đáp nghĩa, công tác DS
- KHHGĐ... Cụ thể:
Về giải quyết việc làm, xác định đây là một nội dung cơ bản của CSXH,

làm cho gần 7,2 vạn lao động” [2; tr.25].
Về công tác xóa đói, giảm nghèo, với tinh thần vì người nghèo, vì đời
sống cộng đồng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ
đạo công tác XĐGN với quyết tâm “Xây dựng và thực hiện bằng được
chương trình xóa đói, giảm nghèo, phấn đấu đến năm 2000 không còn hộ đói,
giảm nhanh hộ nghèo” [1, tr.102]. Cùng với cách làm đa dạng và thực hiện
đồng bộ các chương trình, dự án giảm nghèo, như: Huy động mọi nguồn lực
như nguồn vốn, lao động, hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề trong công
tác giảm nghèo; chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực,
hiệu quả nhằm đa dạng hóa thu nhập; phát triển kinh tế trang trại, hỗ trợ dạy
nghề miễn phí cho người nghèo gắn với việc làm; cung cấp dịch vụ khuyến
nông - lâm - ngư miễn phí cho người nghèo làm nông nghiệp; phát triển thị
trường lao động, động viên người lao động tự tạo việc làm; khuyến khích nhà
20


đầu tư phát triển vào nông nghiệp để tạo thêm việc làm mới cho người dân địa
phương; tích cực tham gia thị trường lao động trong nước và đẩy mạnh xuất
khẩu lao động; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo nghề và chủ động giải quyết
việc làm. Bên cạnh đó, chương trình xoá mái nhà tạm cho hộ nghèo được thực
hiện nghiêm túc, giúp một số hộ nghèo ổn định chỗ ở, yên tâm làm ăn, tập
trung đầu tư cho sản xuất kinh doanh, tạo thu nhập ổn định để vươn lên xoá
đói, giảm nghèo. Nhờ đó, “đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Bình
quân mỗi năm giảm 3% số hộ đói nghèo, đưa tỷ lệ số hộ đói nghèo từ 36,4%
năm 1995 xuống còn 20,3% năm 2000” [2, tr.25].
Về chính sách ưu đãi xã hội đối với người và gia đình có công, thực
hiện các quyết định, hướng dẫn của BLĐ - TB & XH, tỉnh Quảng Bình tích
cực điều tra số người bị chết trong thời gian chiến tranh là liệt sỹ. Giải quyết
trợ cấp thường xuyên cho thanh niên xung phong, du kích chống Pháp và
chống Mỹ, người bị bắt tù đầy và hoạt động tiền khởi nghĩa. Phong trào

không sinh con thứ 3, không lựa chọn giới tính khi sinh con... Ngoài đẩy
mạnh truyền thông thay đổi hành vi người dân, hằng năm, ngành dân số tỉnh
tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép với chăm sóc sức khoẻ sinh sản
nhằm nâng cao sự hiểu biết cho phụ nữ về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, vận
động thực hiện tốt công tác DS - KHHGĐ. “Việc tuyên truyền, vận động giáo
dục truyền thông về dân số - kế hoạch hóa gia đình được triển khai kịp thời và
hoạt động có hiệu quả, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên từ 2,17% năm 1996
xuống 1,43% năm 2000” [2, tr.26].
- Hạn chế: Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc thực hiện CSXH
của tỉnh Quảng Bình trong những năm 1986 - 2000 còn bộc lộ những hạn chế,
thiếu sót sau:
Về giải quyết việc làm, mặc dù hằng năm tỉnh đã tạo việc làm cho 1,3 1,5 vạn lao động, song tình trạng “Lao động thiếu việc làm còn nhiều” [2,
tr.39], là vấn đề bức xúc. Việc tuyên truyền, giáo dục trong nhân dân về định
hướng nghề nghiệp thiếu thường xuyên, chưa coi trọng việc học nghề, nâng
22


cao tay nghề cho người lao động. Số cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp trên địa
bàn khả năng thu hút lao động còn thấp. Mối quan hệ, phối hợp giữa các cơ sở
đào tạo với các doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo,
giải quyết việc làm còn hạn chế. Ngành nghề đào tạo còn đơn điệu, chưa thực
sự chú trọng tìm hiểu nhu cầu của các địa phương, các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế để tổ chức đào tạo nghề theo đơn đặt hàng, có địa chỉ,
theo nhu cầu của người sử dụng, nhất là các nghề có yêu cầu cao về kỹ thuật
như: cơ khí, tự động hóa, dịch vụ khách sạn cao cấp... Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chậm; sản xuất nông nghiệp phân tán,
manh mún, chủ yếu vẫn độc canh cây lúa và mang nặng tính tự cấp, tự túc.
Việc ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực
sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật ở nông
thôn còn ít; lao động dư thừa nhiều, chủ yếu là lao động thủ công, trình độ

độ, chính sách tuy làm tích cực song một số vụ việc khó khăn phức tạp còn để
kéo dài; năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ làm công tác chính
sách còn bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ. Việc tổng hợp báo cáo định kỳ của
các đơn vị cơ sở ở một số nơi chưa đáp ứng với yêu cầu.
Về công tác DS - KHHGĐ, ở tỉnh mới tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ
sinh, ít chú trọng đến chất lượng dân số, cơ cấu phân bổ dân cư. “Tỷ lệ tăng
dân số còn cao 2,59% (chỉ tiêu Đại hội đề ra 2%)” [1, tr.26]. Kết quả giảm
sinh không vững chắc, mức sinh, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên có chiều hướng
gia tăng, nhất là ở các địa phương có nhiều đồng bào theo Đạo Thiên chúa,
dân tộc ít người. Một số ít cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước
không gương mẫu thực hiện công tác DS - KHHGĐ.
Những hạn chế trên xuất phát từ những nguyên nhân: Quảng Bình là
một tỉnh nghèo, điểm xuất phát thấp, thiên tai khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng thấp,
thiếu sức thu hút đầu tư phát triển và hội nhập; một số cán bộ, đảng viên nhận
thức chưa thật sự sâu sắc quan điểm đổi mới của Đảng; sự lãnh đạo, chỉ đạo

24


của cấp ủy Đảng, quản lý và điều hành của chính quyền, của các ngành, các
cấp có mặt còn lúng túng, thiếu năng động [2, tr.44].
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình về thực hiện chính
sách xã hội (2001 - 2005)
* Mục tiêu chung
Trên cơ sở đường lối, quan điểm, mục tiêu CSXH của Đảng và tình hình
thực tiễn địa phương, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ XIII
(01/2001) xác định mục tiêu chung của CSXH là:
Tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng, hiệu
quả, khả năng hội nhập của nền kinh tế, tạo sự chuyển biến tiến bộ các
lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, giải quyết việc làm; cơ

và xuất khẩu lao động. Tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới, bảo đảm việc làm
cho người lao động có nhu cầu việc làm. Từng bước bảo đảm việc làm ổn định,
có thu nhập cao và an toàn lao động.
Về xóa đói, giảm nghèo: Đẩy mạnh xã hội hóa công tác XĐGN, kết
hợp chương trình XĐGN với các chương trình phát triển KT - XH với mục
tiêu: “đến năm 2005 cơ bản xóa hộ đói, giảm hộ nghèo bình quân hàng năm
từ 4 - 5% theo tiêu chuẩn mới” [2, tr.78]. Phát huy sức mạnh tổng hợp, trong
đó coi trọng yếu tố tự lực vươn lên của hộ nghèo để cải thiện một bước về
việc làm, ăn, ở, mặc, chữa bệnh, học tập đối với hộ nghèo, người nghèo. “Xóa
đói giảm nghèo phải trở thành một bộ phận cấu thành trong kế hoạch phát
triển KT - XH các cấp từ tỉnh đến cơ sở. Tăng đáng kể đầu tư cho miền núi,
vùng sâu, vùng xa, vùng có hoàn cảnh khó khăn, trước hết ưu tiên đầu tư cho
70 xã hiện có 40% hộ nghèo đói trở lên” [2, tr.78]. Hạn chế đến mức thấp
nhất hộ tái nghèo.

26


Về chính sách ưu đãi xã hội đối với người và gia đình có công: Vận
động toàn dân tích cực tham gia các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, uống
nước nhớ nguồn… để “Chăm lo thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội đối
với cán bộ lão thành, tiền khởi nghĩa, người có công với cách mạng, giúp
đỡ, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, phụng dưỡng các Bà mẹ Việt
Nam anh hùng, bảo đảm ổn định và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần
cho các đối tượng chính sách phù hợp với khả năng của tỉnh và mỗi địa
phương” [2, tr.79].
Về công tác DS - KHHGĐ: là tỉnh có tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng
năm còn cao, nhất là ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít
người và vùng đồng bào có đạo, Tỉnh xác định cần phải đẩy mạnh thực hiện
xã hội hóa công tác DS - KHHGĐ, gắn với việc nâng cao chất lượng dịch vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status