Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh viêm màng não do vi khuẩn ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương (2015 2016) - Pdf 52

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm màng não do vi khuẩn (VMNVK) là bệnh nhiễm trùng hệ thần
kinh trung ương gây nên bởi các vi khuẩn có khả năng sinh mủ xâm nhập vào
màng não, thường gặp ở trẻ em, nhiều nhất là ở lứa tuổi dưới 3 tuổi, tỷ lệ tử
vong và di chứng cao tại một số vùng lưu hành bệnh [1],[2]. Theo nghiên cứu
của Ivanka. Lukšić về viêm màng não do vi khuẩn, phân tích 71 báo cáo trên
toàn cầu thấy rằng tỷ lệ mắc là 34,0/100.000 trẻ. Tỷ lệ mắc khác nhau giữa
các vùng, khu vực châu Phi có tỷ lệ mắc cao nhất 143,6/100.000 trẻ, khu vực
Tây Thái Bình Dương có tỷ lệ mắc 42,9/100.000 trẻ; khu vực Trung Đông có
tỷ lệ mắc 34,3/100.000 trẻ. Tỷ lệ tử vong ước tính trên toàn cầu là 14,4%, cao
nhất là khu vực châu Phi 31,3% [3].
Tại Việt Nam, viêm màng não do vi khuẩn vẫn còn là bệnh nhiễm trùng
cơ quan thần kinh trung ương thường gặp ở trẻ em [4],[5]. Theo các nghiên
cứu bước đầu về viêm màng não do vi khuẩn tại Bệnh viện Nhi Trung ương,
các triệu chứng lâm sàng đa dạng, không đặc hiệu, tỷ lệ xuất hiện các loại vi
khuẩn gây bệnh khác nhau qua từng thời kỳ [4],[6],[7], tỉ lệ tử vong trong các
báo cáo này là khoảng 7% [4],[7].
Trong thời gian gần đây, vắc xin phòng bênh do Hemophilus influenza
(HI) được sử dụng phổ biến trong dự phòng nên mô hình căn nguyên gây
bệnh thay đổi, tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh cũng thay đổi [8],[9].
Việc kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong bệnh viện cũng như cộng
đồng làm cho tỷ lệ xác định được căn nguyên vi khuẩn gây bệnh còn thấp
[7],[10], và tính kháng thuốc của vi khuẩn cũng gia tăng không chỉ ở Việt
nam mà cả một số nước trên thế giới [7],[11]. Theo ước tính của CDC (Cơ
quan Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ) hàng năm tại Hoa Kỳ có


2


xác định phải dựa vào kết quả xét nghiệm dịch não tuỷ; tìm được vi khuẩn
qua nhuộm soi, nuôi cấy hoặc tìm được kháng nguyên đặc hiệu [13].
Bệnh viêm màng não do vi khuẩn được Thomas Willis (1621–1675)
mô tả từ những năm 1661 với biểu hiện “viêm màng não và sốt liên tục” và đã
thông báo những ổ dịch nhỏ. Heinrich Quincke (1842–1922) đã sử dụng kỹ
thuật chọc ống sống và phân tích dịch não tủy năm 1891. Vi khuẩn gây bệnh
đầu tiên được phát hiện vào cuối thế kỷ 19 là phế cầu (Streptococus
pneumoniae), HIb (Hemophilus influenzae typ b) và não mô cầu (Neisseria
meningitidis). Liệu pháp kháng sinh được sử dụng lần đầu ở thế kỷ 20 là
sulfonamides bởi Francois Schwentker (1904 - 1954), vắc xin được sử dụng
từ giữa thế kỷ 20 và đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi như một biện pháp
phòng bệnh hiện đại [14]. Từ đó đến nay đã có nhiều nghiên cứu giúp hiểu rõ
hơn về căn nguyên gây bệnh cũng như điều trị, phòng bệnh [15],[16].
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
1.2.1. Nghiên cứu trong nƣớc
1.2.1.1. Đặc điểm dịch tễ lâm sàng, căn nguyên gây bệnh
Đã có một số nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của bệnh nhưng hầu
hết là các nghiên cứu hồi cứu trong thời gian ngắn.


4

Phạm Nhật An, Lê Thị Yên nghiên cứu hồi cứu bệnh nhi mắc viêm
màng não do vi khuẩn ở trẻ trên 1 tháng tuổi tại khoa Truyền nhiễm, Bệnh
viện Nhi trung ương năm 2014 [4]; Hoàng Sơn nghiên cứu về đặc điểm phim
chụp CT sọ não của bệnh nhi mắc viêm màng não do vi khuẩn năm 2008 [17],
tác giả chỉ nghiên cứu trong thời gian ngắn, tập trung vào hình ảnh chụp CT
sọ não. Các báo cáo dựa trên hồi cứu hồ sơ lưu trữ, không xác định các yếu tố
liên quan đến tình trạng bệnh, không định typ vi khuẩn.
1.2.1.2. Tác nhân gây bệnh

nguyên theo lứa tuổi và cũng chưa cho thấy được biểu hiện lâm sàng, khả
năng nhạy cảm với kháng sinh, yếu tố ảnh hưởng, liên quan đến kết quả điều
trị bệnh [19].
Nghiên cứu tại Thượng Hải, Trung Quốc của Jintong Tan cũng được
tiến hành hồi cứu và chỉ tập trung vào lứa tuổi sơ sinh, không cho thấy được
căn nguyên gây bệnh cho trẻ em nói chung [20].
1.2.2.2. Yếu tố liên quan với kết quả điều trị
Hầu như chưa có nghiên cứu tiến cứu nào tiến hành đánh giá đầy đủ
vấn đề này. Các nghiên cứu chỉ thực hiện trong thời gian ngắn, hồi cứu dựa
trên hồ sơ hoặc giám sát dịch tễ và chỉ mang tính chất thống kê đơn thuần.
1.2.2.3. Kết quả điều trị
Chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả phác đồ sử dụng kháng sinh
vì các cơ sở điều trị có phương pháp điều trị riêng, chưa dùng phác đồ thống
nhất và chưa có cơ sở khoa học dựa trên việc xác định căn nguyên cụ thể.
Như vậy, tại Việt Nam cũng như trên thế giới chưa thấy có nhiều
nghiên cứu tiến cứu đầy đủ nào về các yếu tố dịch tễ học lâm sàng cũng như


6

căn nguyên, mức độ nhạy cảm với kháng sinh, phác đồ điều trị bệnh VMNVK
ở trẻ em từ sơ sinh đến 16 tuổi.
1.3. Đặc điểm sinh lý trẻ em
1.3.1. Đặc điểm các thời kỳ phát triển của trẻ em
Trẻ em là một cơ thể đang phát triển, quá trình phát triển tuân theo quy
luật chung là từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Trong từng
giai đoạn phát triển của trẻ sẽ có những đặc điểm khác nhau về cấu trúc, chức
năng các cơ quan của cơ thể, có những yếu tố nguy cơ mắc bệnh nhất định,
tác nhân gây bệnh cũng có thể khác nhau [21]. Tổ chức Y tế Thế giới và một
số tác giả Việt Nam cũng thống nhất phân chia các thời kỳ với các yếu tố

từ não thất bên chảy vào não thất 3 qua lỗ Monro, qua cống Sylvius vào não
thất 4, chảy vào khoang dưới nhện qua lỗ Magendie và Luschka. Sau đó được
hấp thu chủ yếu bởi các hạt Pacchioni (là tổ chức đặc biệt của màng nhện),
lưu thông vào hệ tuần hoàn qua các xoang tĩnh mạch, các màng bạch huyết.
Thành phần một số chất trong dịch não tủy: Protein, glucose, muối, bạch
cầu. Các chất này có mặt trong dịch não tủy với hàm lượng thấp. Khi có vi


8

khuẩn gây viêm màng não thì sẽ có phản ứng làm thay đổi thành phần các
chất như protein, bạch cầu, glucose [23].
Tác nhân gây bệnh thường xuất hiện trong dịch não tủy với nồng độ
giảm dần từ khi được điều trị đúng và quá trình điều trị sẽ kết thúc khi dịch
não tủy trở lại vô trùng. Trong quá trình đó, chúng ta có thể làm các xét
nghiệm tìm sự hiện diện của căn nguyên gây bệnh trong dịch não tủy như vi
khuẩn [1],[2].
Giá trị một số thành phần trong dịch não tủy bình thường [2].
Bảng 1.1: Đặc điểm dịch não tuỷ bình thường ở trẻ em.

Tính chất dịch não tuỷ

Tuổi
Sơ sinh

Ngoài sơ sinh

Áp lực

5-10 CmH2O


> 50% glucose máu

1.4. Đặc điểm dịch tễ bệnh viêm màng não do vi khuẩn
1.4.1. Tỷ lệ mắc
1.4.1.1. Trên thế giới
Tác giả I. Luksie phân tích 71 báo cáo về gánh nặng bệnh tật viêm màng
não do vi khuẩn thấy rằng ước tính tỷ lệ mắc trên toàn cầu là 34,0/100.000
(16,0 - 88,0). Khu vực được gọi là “Vành đai viêm màng não” thì tỷ lệ mắc


9

143,6/100.000 trẻ/năm, sau đó là khu vực Tây Thái Bình Dương là 42,9; sau
đó là Trung Đông 34,3. Tỷ lệ tử vong trung bình là 14,4% (5,3% - 26,2%),
cao nhất là khu vực châu Phi (31,3%) [3].
Hoa Kỳ là một quốc gia phát triển, áp dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ
thuật trong Y học, cơ sở y tế, trang thiết bị hiện đại đã giảm tỷ lệ mắc của
nhiều loại bệnh tật. Tuy nhiên, báo cáo năm 2011 cho thấy tỷ lệ mắc viêm
màng não vi khuẩn từ 1,38 - 2/100.000 trẻ, tỷ lệ tử vong từ 14,3 - 15,7% [24].
Báo cáo của Namaitijiang Maimaiti về căn nguyên gây bệnh viêm màng
não do vi khuẩn ở một số nước khu vực Đông Nam Á cho thấy tỷ lệ mắc từ
18,4 – 24,6/100.000 dân [25], một số quốc gia có báo cáo về bệnh do phế cầu
như Malaysia, Singapore, Thailand cho thấy tỷ lệ viêm màng não do phế cầu
ở các nước cũng khác nhau từ 0,1 – 8,6/100.000 dân [26].
1.4.1.2. Tại Việt Nam
Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác, mặc dù đã áp dụng
nhiều thành tựu của khoa học kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị nhưng tần
suất mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, di chứng vẫn còn cao [1],[2]. Tại Việt Nam, báo
cáo từ năm 2000 - 2002 cho thấy tỷ lệ mắc viêm màng não do não mô cầu ở

năm, nhưng cũng có thể tăng nhẹ ở các thời điểm giao mùa. Nghiên cứu của
Hoàng Sơn, Trần Thị Thanh Nhàn cho thấy viêm màng não do vi khuẩn xảy
ra rải rác quanh năm nhưng cũng có thời gian trong năm có tỷ lệ mắc bệnh
cao hơn, có thể tăng nhẹ vào thời điểm mùa đông xuân [34],[17]. Nghiên cứu
của Mamoudou và cộng sự trong 15 năm thì thấy tỷ lệ mắc cao hơn vào
khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm [35]. Một số nghiên cứu
cho thấy những vùng có điều kiện thời tiết, độ ẩm khác nhau có thể có tỷ lệ
mắc bệnh khác nhau. Nghiên cứu hồi cứu của Ghotaslou ở Iran từ 1991 –
2013 thấy rằng ở miền Bắc có độ ẩm cao hơn thì tỷ lệ mắc cao hơn [18].


11

1.4.2.3. Tuổi mắc bệnh
Viêm màng não do vi khuẩn có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp
nhiều hơn ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, đặc biệt là dưới 2 tuổi [2]. Đặng Đức Anh
nghiên cứu tại Hà Nội từ 2000 - 2002 cho thấy tỷ lệ trẻ dưới 1 tháng là 24%,
1-11 tháng là 23% [33]. Tuy nhiên, tại bệnh viện Nhi Trung ương, nghiên cứu
của Nguyễn Văn Lâm (2009), Phạm Nhật An (2014) thực hiện với trẻ trên 1
tháng tuổi thấy tỷ lệ trẻ từ 1-12 tháng chiếm 70,3% - 71,4% [4],[7]. Nghiên
cứu của Levy C tại Pháp thì 61,7% bệnh gặp ở trẻ 2 - 24 tháng tuổi [36].
Ở lứa tuổi dưới 2 tuổi thì cơ thể trẻ chưa hoàn chỉnh cả về cấu trúc, chức
năng của các cơ quan, đặc biệt là hệ thống miễn dịch thụ động từ mẹ truyền
cho giảm dần nên nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn lứa tuổi lớn.
1.4.2.4. Giới tính
Bệnh có thể gặp ở cả 2 giới nam và nữ. Qua các nghiên cứu tại nhiều khu
vực đã được báo cáo thì thấy tỷ lệ trẻ nam thường cao hơn nữ. Tác giả Bùi Vũ
Huy (2008) báo cáo về viêm màng não do vi khuẩn thì thấy tỷ lệ nam/nữ là
1,1/1 [37]. Theo nghiên cứu của Đặng Đức Anh và cộng sự tại Hà Nội từ
2000 - 2002 thì tỷ lệ nam/nữ là 1,6/1 [33]. Một số nghiên cứu của các tác giả


phế cầu

kính hiển vi
Hình 1.2 :Hình ảnh vi khuẩn phế cầu

Nguồn: />

13

Phế cầu là cầu khuẩn Gram dương, hình ngọn nến hai đầu to giáp vào
nhau, hai đầu nhọn quay ra ngoài, không di động, không sinh nha bào, trong
bệnh phẩm hay trong môi trường nuôi cấy có nhiều albumin thì có vỏ [15].
Nuôi cấy: Phế cầu phát triển tốt trong môi trường có nhiều chất dinh
dưỡng, nhiệt độ thích hợp là 37oC, không khí có 5% CO2. Trên môi trường
thạch máu, khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, trong như giọt sương [15],[39].
Tính kháng nguyên: Phế cầu có 2 loại kháng nguyên là kháng nguyên vỏ
và kháng nguyên thân trong đó kháng nguyên vỏ quyết định sự khác nhau
giữa các typ [39]. Đến nay đã xác định được 90 týp huyết thanh phế cầu.
Trong đó, phế cầu týp 23 gây bệnh phổ biến nhất ở nhiều vùng trên thế giới.
Phức hợp polysaccharide vỏ của vi khuẩn phế cầu có mối liên quan chặt
chẽ đến khả năng gây độc, có tính quyết định trong quá trình xâm nhập và
gây bệnh của vi khuẩn [40].
Ngoài ra, kháng nguyên vỏ kích thích tạo kháng thể đặc hiệu loài, bảo vệ
vật chủ thông qua việc tăng khả năng thực bào, tiêu diệt vi khuẩn bởi các bạch
cầu đa nhân. Đây là cơ sở khoa học cho việc sản xuất vắc xin phòng bệnh.
Độc tố: Phế cầu không có nội và ngoại độc tố [39],[41].
- Khả năng gây bệnh
Trong điều kiện bình thường, trẻ khỏe mạnh thì vẫn có một tỷ lệ mang vi
khuẩn ở hầu họng nhưng có thể chỉ gây viêm mũi họng. Khi phế cầu xâm

tạo ra nhiều sợi fibrin, tế bào bạch cầu thoái hóa…khi lắng đọng sẽ gây dính
tắc hệ thống lưu thông dịch não tủy, gây tình trạng dãn não thất (ứ nước não
thất) và sẽ gây tình trạng di chứng nặng nề. Đây là đặc điểm khác biệt của phế
cầu khi gây bệnh[40].


15

1.4.3.2. Não mô cầu
- Đặc điểm vi sinh
Não mô cầu là vi khuẩn được Weichselbaum phân lập năm 1897, thuộc
giống Neisseria, chỉ gây bệnh cho người. Vi khuẩn có hình hạt cà phê, kích
thước khoảng 1 µm, vỏ mỏng, bắt màu gram âm [39]. Não mô cầu kém chịu
đựng với ánh sáng, thuốc sát trùng, dưới ánh nắng, bị tia cực tím tiêu diệt
ngay tức thì, rất nhạy cảm với cloramin 0,5- 1% và với cồn 70 [39],[44].

Hình ảnh não mô cầu khi nhuộm

Hình ảnh não mô cầu trên môi trường

Gram soi trên kính hiển vi

nuôi cấy.

Hình 1.3:Hình ảnh vi khuẩn não mô cầu
(Nguồn: [45]

- Độc tố của vi khuẩn
Não mô cầu có nội độc tố là Lipopolysaccharid (LPS). Nội độc tố có vai
trò quan trọng trong việc gây ra các tổn thương và tình trạng nặng của bệnh

máu não mô cầu chống lại các thực bào và bổ thể nhờ bao vỏ, do đó khó bị
tiêu diệt bởi đại thực bào [30],[42],[44]. Não mô cầu xâm nhập qua hàng rào
máu não, vào màng não theo bao sợi dây thần kinh khứu giác, mạch máu đi
vào hộp sọ hoặc trực tiếp qua đường bạch huyết. Khi đó, cả 3 lớp màng não
đều viêm, xung huyết, phù nề, xuất tiết, phản ứng viêm từ màng nuôi, màng


17

nhện lan vào màng trong não thất, rồi tới nền não, vòm não, tiểu não và cả
dịch tủy sống [30],[44].
Quá trình gây bệnh: Trong giai đoạn cấp của bệnh, một lượng lớn nội
độc tố của não mô cầu được tạo ra, và một số thành phần khác của vi khuẩn
đã kích hoạt quá trình đáp ứng viêm và tạo ra những chất trung gian gây thoát
mạch ở vi tuần hoàn (leukotrien C4 và D4), vón kết bạch cầu đa nhân và đơn
nhân (leukotrien B4, yếu tố hoạt hóa tiểu cầu PAF), co mạch ở phổi
(tromboxan A1, prostaglagdin F1). Các leukotrien, bổ thể hoạt hóa và nội độc
tố tác động trực tiếp trên bạch cầu đa nhân gây tích tụ những tế bào viêm (đa
nhân, tiểu cầu) ở phổi, giải phóng các men của chúng, làm tổn thương nội
mạc của phổi và khởi kích hội chứng suy thở cấp ARDS; Hệ đông máu hoạt
hóa tạo ra thrombin và các cục huyết khối tiểu trong vi tuần hoàn, hàng loạt
chất vận mạch được giải phóng như catecolamin, histamine, serotonin,
bradykinin, arachidonat, vv.. [30]. Các tổn thương như trên gây nên các triệu
chứng như các chấm (petechia) hoặc ban (rash) xuất huyết hoại tử; viêm khớp
(xuất huyết hoại tử do viêm mạch máu), viêm màng tim…., hiếm hơn, có thể
gặp các tổn thương viêm hoại tử tuyến thượng thận (hội chứng WaterhouseFriderichsen), tổn thương phổi và dẫn tới nhiễm khuẩn huyết có sốc, sốc nặng
trong vòng vài giờ và có thể tái sốc, tử vong nhanh trong 24 – 48 giờ [30].
1.4.3.3. Haemophilus Influenza
- Đặc điểm sinh học
Haemophilus influenzae (H. influenzae) là vi khuẩn ký sinh ở đường hô

- Khả năng gây bệnh: Hay gây bệnh viêm màng não ở lứa tuổi sơ sinh
hoặc những trường hợp có tổn thương niêm mạc ruột. Romain Basmaci
nghiên cứu viêm màng não do Escherichia coli ở 325 trẻ trong thời gian
2001 - 2013 tại Pháp thấy 71,1% ca bệnh gặp ở trẻ sơ sinh [55].


19

1.4.3.5. Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus)
- Đặc điểm vi khuẩn: Tụ cầu vàng là loại cầu khuẩn Gram dương, cư trú
trên bề mặt da, niêm mạc đường hô hấp, sinh dục [56].
- Khả năng gây bệnh: Thường gặp khi có các tổn thương trên da như
mụn nhọt, áp xe, viêm tấy vùng đầu - mặt gây nhiễm trùng máu, từ đó vi
khuẩn xâm nhập qua hàng rào máu não gây viêm màng não. Các trường hợp
nhiễm trùng máu do tụ cầu vàng trên cơ địa trẻ có bệnh lý tim bẩm sinh thì có
thể gây viêm màng não, áp xe não [13] .
1.4.4. Khả năng nhạy cảm với kháng sinh
Trong những năm gần đây tình trạng kháng thuốc kháng sinh của vi
khuẩn luôn là vấn đề được quan tâm xem xét. Một số báo cáo và cảnh báo về
vấn đề kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh với xu hướng ngày
càng gia tăng. Theo số liệu của CDC ước tính, hàng năm tại Mỹ có hơn 2
triệu người bị ảnh hưởng bởi tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn, khoảng
23.000 người chết [12], đặc biệt là tình trạng kháng thuốc có thể lây lan từ
người này sang người khác khi ăn uống, sống cùng nhau trong gia đình [57].
Khả năng nhạy cảm, đề kháng của vi khuẩn với kháng sinh phụ thuộc vào rất
nhiều vấn đề với nhiều cơ chế khác nhau [58].
Hiện nay, kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng cũng có thể
là yếu tố nguy cơ gây nên tình trạng kháng thuốc. Báo cáo của Larsson và
cộng sự (2010) tại Ba Vì, Việt Nam cho thấy có đến 91% trẻ được khảo sát đã
được sử dụng kháng sinh [11].

Phế cầu: Theo số liệu điều tra của một số nghiên cứu tại Việt Nam trong
giai đoạn 1990 - 2003 cho thấy 40 - 70% trẻ khoẻ mạnh mang phế cầu vùng
hầu họng và 26-83% các trường hợp viêm đường hô hấp cấp tính có nguyên


21

nhân là phế cầu [48],[63]. Trẻ nhỏ dưới 5 tuổi thì 60% trẻ khoẻ mạnh có phế
cầu (từ 1 đến vài typ huyết thanh) [43]. Gili khảo sát 740 trẻ không được tiêm
vắc xin ở 4 thành phố lớn của Israel cho thấy 43% trẻ mang phế cầu ở hầu
họng [65].
- Trong các vụ dịch
Trong các vụ dịch thì tỷ lệ người mang vi khuẩn tăng cao hơn nên tỷ lệ
mắc có khả năng tăng cao và có nguy cơ gây các ổ dịch mới. Trong một số vụ
dịch đã được báo cáo, có thể có tới trên 50% số người khoẻ mang vi khuẩn
não mô cầu. Đó là nguồn lây rất quan trọng của bệnh trong cộng đồng [30].
1.4.6. Tính cảm nhiễm và miễn dịch
1.4.6.1. Khối cảm nhiễm
Tất cả mọi người đều có nguy cơ mắc bệnh VMN do vi khuẩn, nhưng trẻ
nhỏ thì nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Đặc biệt là khi mắc các bệnh viêm đường
hô hấp do vi rút hoặc vi khuẩn khác gây phá hủy hàng rào niêm mạc thì nguy
cơ mắc bệnh xâm nhập cao hơn. Bệnh nhân cắt lách hoặc thiếu máu hồng cầu
hình liềm là những người nhạy cảm đặc biệt với các bệnh do phế cầu
[15],[43].
1.4.6.2. Tính miễn dịch trong trường hợp tái nhiễm
Là tính miễn dịch đặc hiệu loài và vững bền. Đây là cơ sở khoa học cho
việc bào chế vắc xin phòng bệnh.
Hiện nay đã có vắc xin phế cầu được bào chế chứa 23 loại kháng nguyên
vỏ quan trọng và được sử dụng dụng trong phòng bệnh ở các nước từ nhiều
năm nay [43].

cơ gây dịch sau khoảng 1-2 tuần [30],[46],[66].


23

1.5. Đặc điểm bệnh
1.5.1. Biểu hiện lâm sàng bệnh viêm màng não do vi khuẩn
1.5.1.1. Các thể bệnh
- Thể tối cấp: Bệnh diễn biến nhanh chóng với các triệu chứng nặng như
co giật kéo dài, tăng trương lực cơ, hôn mê nhanh chóng và có thể tử vong
trong vài ngày.
- Thể không điển hình (Viêm màng não mủ mất đầu): Trẻ đã được sử
dụng kháng sinh trước khi điều trị nhưng không đúng, không đủ liều nên làm
cho triệu chứng mờ nhạt, không điển hình cả về lâm sàng và xét nghiệm.
- Thể điển hình: Bệnh diễn biến cấp tính với đầy đủ các triệu chứng lâm
sàng và cận lâm sàng.
1.5.1.2. Triệu chứng thể điển hình
Bệnh diễn biến cấp tính, tình trạng nặng tăng dần sau 1 - 2 ngày kể từ
khi có triệu chứng đầu tiên. Thường có biểu hiện tình trạng nhiễm khuẩn, rối
loạn chức năng thần kinh trung ương [2],[42],[43].
- Hội chứng nhiễm trùng cấp tính
Biểu hiện ổ nhiễm khuẩn tiên phát như viêm tai chảy mủ, áp xe ở ngoài
da, viêm mũi họng do vi khuẩn, viêm phổi - màng phổi.....
Tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc như sốt cao đột ngột tới 39 - 40oC; li
bì, mệt mỏi, môi khô, lưỡi bẩn, da xanh tái [2].
- Biểu hiện tổn thƣơng thần kinh trung ƣơng
Triệu chứng cơ năng (tam chứng màng não)


24

xác định được các biểu hiện liệt thần kinh khu trú [4],[51]. Khoảng 50% số ca
bệnh thường khởi phát từ từ cùng với biểu hiện của viêm long đường hô hấp
trên, viêm phổi, ỉa lỏng, co giật [21].
1.5.1.4. Biểu hiện lâm sàng bệnh do não mô cầu
- Thời gian ủ bệnh từ 1 - 14 ngày (thường từ 3- 4 ngày) kể từ khi tiếp
xúc với nguồn bệnh [67]. Nôn, ăn kém gặp ở mọi lứa tuổi, đau họng thường
gặp ở trẻ lớn trên 15 tuổi. Khi vi khuẩn đã gây viêm màng não thì triệu
chứng xuất hiện đột ngột: nhức đầu dữ dội, nôn, cổ cứng và hôn mê trong
vài giờ [31],[44],[47].
- Giai đoạn muộn hơn: Biểu hiện lâm sàng thường khá điển hình
[30],[46],[47]. Sốt thường gặp ở trẻ nhỏ, sốt cao liên tục, tình trạng nhiễm
trùng nhiễm độc rõ. Sau đó các triệu chứng diễn biến rất nhanh trong vài giờ
như đau cơ khớp, chi lạnh [67].
- Phát ban hoại tử hình sao trên da, thường xuất hiện sớm ở những vùng
da non như bẹn, mông, bìu rồi nhanh chóng lan ra toàn thân. Các biểu hiện
trên da này có thể liên quan đến việc xuất hiện sốc do hoại tử thượng thận
làm giảm adrenalin trong máu, các trường hợp này có thể dẫn đến hội chứng
Waterhouse-Friderichsen tử vong nhanh chóng trong vòng 48 giờ [67].
- Ngoài ra có các biểu hiện khác như: viêm màng não tuỷ cấp có mủ,
nhiễm khuẩn huyết (meningococcemia) 15 – 20%, viêm khớp, viêm màng
trong tim [49].
- Thể nhiễm khuẩn không có triệu chứng thường hay gặp trong các vụ
dịch và đó là nguồn lây truyền dịch rất quan trọng trong cộng đồng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status