HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THU THỦY
PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG
TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA
Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2018
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
5
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
5
1.2. Giá trị của các công trình đã được tổng quan và vấn đề đặt ra cần tiếp tục
nghiên cứu trong luận án
3.1. Thực trạng phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình
văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
72
3.2. Những vấn đề đặt ra từ việc phát huy giá trị gia đình truyền thống trong
xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
101
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY
GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH
VĂN HÓA Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
114
4.1. Những quan điểm cơ bản phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây
dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
114
4.2. Những giải pháp chủ yếu phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây
dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
122
KẾT LUẬN
149
: Hệ thống chính trị
KTTT
: Kinh tế thị trường
TCH
: Toàn cầu hóa
UBND
: Ủy ban nhân dân
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là một xã hội thu nhỏ, trong đó hiện diện đầy đủ
các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hoá, quan hệ tổ
chức… Gia đình chính là cơ sở để kiến tạo nên một xã hội rộng lớn. Do đó, sự trường
tồn của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại và trình độ phát triển
của mỗi gia đình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “… Nhiều gia đình cộng lại mới thành
xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã
hội là gia đình” [78, tr.111].
Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để đạt được mục
tiêu trên, Đảng, Nhà nước yêu cầu các cấp, ngành, cộng đồng và nhân dân phải thực
hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, trong đó chú trọng xây dựng “Gia đình văn hóa” là
Tuy nhiên, trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH cũng có nhiều vấn đề đang
đặt ra cần phải được nghiên cứu làm sáng tỏ. Nổi bật như: chưa có sự thống nhất,
tường minh trong nhận thức về giá trị GĐTT; chưa được cụ thể hóa đầy đủ các giá trị
của GĐTT thành các tiêu chuẩn, tiêu chí của danh hiệu GĐVH; hoạt động của các
chủ thể phát huy, nhất là của các cơ quan quản lý Nhà nước chưa đủ mạnh; nhận thức
của người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát huy các giá trị GĐTT chưa
đầy đủ, sâu sắc… Những hạn chế này dẫn đến tình trạng một bộ phận gia đình, người
dân trong vùng chưa phân biệt rõ những giá trị nào của GĐTT cần phát huy, những
nội dung nào không còn giá trị, không phù hợp với yêu cầu mới hiện nay, phát huy
những giá trị GĐTT bằng cách nào, v.v...
Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và những bất cập nêu trên, tác giả chọn
đề tài: “Phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở
vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” làm luận án tiến sĩ với mong muốn góp phần
tìm ra những giải pháp khả thi để phát huy các giá trị tốt đẹp của GĐTT trong xây
dựng GĐVH ở vùng ĐBSH trong bối cảnh mới hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và phân tích làm rõ thực trạng phát huy giá trị GĐTT trong
xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH, luận án đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu
nhằm phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH đáp ứng yêu cầu
đổi mới hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài liên quan đến luận án.
- Khái quát cơ sở lý luận phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở
vùng ĐBSH.
3
- Làm rõ thực trạng phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng
ĐBSH và vấn đề đặt ra hiện nay.
4
4.2. Phương pháp cụ thể
Luận án sử dụng nhiều phương pháp trong nghiên cứu chuyên ngành triết học chính trị xã hội như: lôgic - lịch sử, phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp… Ngoài ra
luận án đã sử dụng phương pháp thu thập thông tin, gồm:
Thông tin thứ cấp: thu thập tư liệu, tài liệu, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của
Đảng, báo cáo, thống kê của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và kết quả của các
công trình nghiên cứu đã công bố về vấn đề gia đình, giá trị GĐTT và xây dựng
GĐVH ở vùng ĐBSH, ở Việt Nam hiện nay.
Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học thông qua phiếu hỏi đối với
một số chỉ tiêu đánh giá như: thực trạng nội dung, cách thức tuyên truyền, giáo dục và
chủ thể phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay… Đối
tượng hỏi là những người đã qua giáo dục phổ thông, đủ điều kiện nhìn nhận, đánh giá
quá trình nhận thức những giá trị GĐTT của bản thân từ khi sinh ra đến tuổi trưởng
thành ở vùng ĐBSH. Điều tra 06 tỉnh đại diện cho vùng như đã nêu trong phạm vi
nghiên cứu. Tổng số 900 phiếu chia đều cho 6 tỉnh, mỗi tỉnh 150 phiếu hỏi. Thời gian
thực hiện khảo sát từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2016.
5. Đóng góp mới của luận án
- Góp phần làm rõ thực trạng phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở
vùng ĐBSH và những vấn đề đang đặt ra hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu, khả thi nhằm thực hiện tốt phát huy giá trị
GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Góp phần cung cấp một số luận cứ lý luận, thực tiễn cho việc hoạch định các chính
sách liên quan đến xây dựng GĐVH ở Việt Nam nói chung và vùng ĐBSH nói riêng.
- Làm tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy những
chuyên đề liên quan đến vấn đề gia đình, xây dựng GĐVH ở Việt Nam trong chuyên
ngành chủ nghĩa xã hội khoa học và các chuyên ngành liên quan như: xã hội học, chính
trị học, văn hoá học, phụ nữ học…
7. Kết cấu của Luận án
xung đột giữa cha mẹ và con cái, chăm sóc trẻ con khi các bà mẹ đi làm. Ông đã
tiến hành khảo sát, so sánh các tình huống cụ thể tại vùng nông thôn Lancashire
trước và trong khi xảy ra nạn đói ở Ai Len, đồng thời đưa ra phát hiện của mình về
sự biến đổi gia đình trong bối cảnh văn hóa, lịch sử đa dạng ấy. Ông cũng khẳng
định, cuộc sống của các cư dân Lancashire được đáp ứng tốt nhất khi có sự giúp
đỡ của họ hàng.
6
Jessie Bernard, The future of marriage (Tương lai của hôn nhân), Yale
University Press [162]. Cuốn sách luận bàn về hôn nhân, giới tính, những thay đổi
trong hành vi hôn nhân, quan điểm, kiến thức, sự chênh lệch giữa hôn nhân của
nam giới và nữ giới. Jessie Bernard cũng đưa ra dự đoán các cặp vợ chồng ngày
nay đang phải đấu tranh để cải thiện cuộc sống hôn nhân bằng cách cùng nhau làm
việc, chia sẻ việc nuôi dạy con cái, kết hợp hài hòa trách nhiệm liên kết trong gia
đình với quyền tự chủ cá nhân…
Janet Finch, Family obligations and social change (Gia đình và đời sống
gia đình), Cambrige: Polity Press [161]. Cuốn sách luận bàn về bản chất của cuộc
sống gia đình, đặc biệt là các khái niệm về trách nhiệm, nhiệm vụ và nghĩa vụ. Tác
giả đã xem xét các cuộc tranh luận chính trị phổ biến trong lĩnh vực này từ tập hợp
các tài liệu nghiên cứu trong các khoa học xã hội. Bà dựa vào quan điểm lịch sử,
sử dụng các bằng chứng thực nghiệm về các gia đình đương đại, nêu bật những
khoảng trống trong nghiên cứu về những chủ đề này. Toàn bộ luận bàn được đặt ra
trong bối cảnh những thay đổi kinh tế, xã hội ở thế kỷ 20 bao gồm chính sách xã
hội, các điều khoản về an sinh xã hội đã tạo ra áp lực bên ngoài đối với cuộc sống
gia đình. Tác giả cho rằng điều này ảnh hưởng đến nhu cầu hỗ trợ và năng lực của
các thành viên trong gia đình để thực hiện chúng.
Charles L.Jones, Lorne Tepperman, Susannach J.Wilson, The futures of
the Family (Tương lai của gia đình) [20]. Nội dung cuốn sách bàn về sự biến đổi
của gia đình, những vấn đề của gia đình đương đại và dự báo gia đình trong
nghĩa gia đình; quan điểm xã hội học về gia đình; sự đa dạng của các hình thái gia
đình; hôn nhân và gia đình theo quan điểm giới; đường đời và sự phát triển, biến
đổi của gia đình theo đường đời; biến đổi gia đình và các cách tiếp cận lý thuyết
về gia đình. Qua nội dung cuốn sách, có thể thấy tác giả đã luận giải nhiều vấn đề
vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn quan trọng về gia đình. Cuốn sách
đã góp phần làm cho việc nghiên cứu bức tranh về gia đình ngày càng mang tính
tổng thể, khái quát nhưng lại rõ nét và sáng tỏ hơn.
Lê Trọng Ân, Tìm hiểu tác phẩm: Nguồn gốc gia đình của chế độ tư hữu và
của nhà nước [3]. Tác giả đã giới thiệu, định hướng cho người đọc nghiên cứu
một cách toàn diện, có kết quả về tác phẩm kinh điển quan trọng này. Trên cơ sở
phân tích tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả đã khẳng định:
những chỉ dẫn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là lý luận cơ sở và cần
thiết cho việc nghiên cứu gia đình hiện đại, GĐVH ở Việt Nam hiện nay.
8
Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý, Gia đình học [60]. Cuốn sách là một công
trình nghiên cứu khoa học công phu, hệ thống. Các tác giả đã làm nổi bật một số
nội dung nghiên cứu lý thuyết hướng vào việc xây dựng, phát triển chuyên ngành
gia đình học; làm rõ được những đặc điểm của gia đình Việt Nam trong truyền
thống và những đặc trưng của quá trình hình thành, phát triển của gia đình Việt
Nam từ truyền thống đến hiện đại; làm rõ được khía cạnh giới trong gia đình và xã
hội; những vấn đề về quản lý nhà nước về gia đình và nêu lên những định hướng,
giải pháp cũng như điều kiện để thực hiện những giải pháp xây dựng gia đình Việt
Nam phù hợp với yêu cầu của giai đoạn hiện nay.
Cuốn sách của Lê Thị Quý, Quản lý nhà nước về gia đình: lý luận và thực
tiễn [101] đã viết và tập hợp bài viết của một số nhà nghiên cứu về lĩnh vực quản
lý Nhà nước về gia đình. Đây là tài liệu hữu ích, cung cấp cho tác giả luận án
những kiến thức cơ bản của lý luận quản lý nhà nước về gia đình, đồng thời nó là
tài liệu thực địa ở một số địa phương để phục vụ cho việc nghiên cứu, xây dựng
Bùi Xuân Mỹ, Lễ tục trong gia đình người Việt Nam [90]. Cuốn sách được
kết cấu thành 9 chương nội dung bao gồm: Chương 1 - Sơ sinh, thơ ấu; chương 2 Trưởng thành; chương 3 - Hôn nhân; chương 4 - Về già; chương 5 - Tang ma;
chương 6 - Quan hệ; chương 7 - Thờ phụng tổ tiên; chương 8 - Tín ngưỡng dân
gian và chương 9 - Các lễ tết trong năm. Cuốn sách đã phân tích các lễ tục trong
gia đình Việt Nam để thấy rõ được cách lý giải thế giới, những suy nghĩ, khát
vọng vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn của con người Việt Nam trong lịch sử để
từ đó tiếp tục kế thừa những điểm hợp lý, đồng thời xoá bỏ được những hủ tục, mê
tín dị đoan trong thực hiện lễ tục của gia đình người Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, nhóm nghiên cứu đầy đủ về văn hoá GĐTT trên tất cả các phương
diện, điển hình như:
Toan Ánh, Nếp cũ, con người Việt Nam, phong tục cổ truyền - Thành phố
Hồ Chí Minh [2]. Cuốn sách đã giúp người đọc tìm hiểu phong tục Việt Nam qua
những tục lệ trong gia đình như sinh con, nuôi nấng, dạy dỗ con, việc gây dựng
tương lai cho con cái…, đồng thời thông qua lễ, tết, hội hè... tác giả góp phần tô
đậm thêm bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam của tập hợp tác giả Đặng Văn
Lung, Nguyễn Sông Thao và Hoàng Văn Thụ [71]. Cuốn sách giúp người đọc biết
và hiểu sâu hơn về các phong tục, tập quán thông qua lễ, tết, tục hội, tang ma, hôn
nhân… của dân tộc Việt và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
10
Thứ ba, nhóm nghiên cứu về văn hoá truyền thống của người Việt, trong đó
văn hoá gia đình là thành tố cấu thành quan trọng nhất. Các công trình nghiên cứu
tiêu biểu như:
Chương trình KX-07-02: Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam
hiện nay của Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang [67]. Ở công trình này, dưới quan
điểm khách quan, tinh thần khoa học, các tác giả đã nghiên cứu và trình bày một
cách cụ thể về quá trình hình thành, phát triển và sự biến đổi của các giá trị truyền
thống Việt Nam trong lịch sử. Đồng thời, với quan điểm lịch sử cụ thể, công trình
châu thổ Bắc Bộ trong xã hội nông nghiệp cổ truyền.
Phạm Xuân Nam, Gia đình Việt Nam - các giá trị truyền thống [92]. Trong
cuốn sách này, tác giả đã khẳng định: trải qua nhiều thế hệ gia đình Việt Nam đã
được hình thành, phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây
dựng nên bản sắc văn hoá dân tộc. Đồng thời, trên cơ sở phân tích thực tiễn đất
nước, tác giả cũng đưa ra dự báo về xu hướng vận động, biến đổi của các giá trị
truyền thống trước sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường (KTTT) và quá
trình hội nhập quốc tế.
Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên, Giá trị truyền thống trước
thách thức của toàn cầu hóa [22]. Cuốn sách đã đề cập đến các giá trị truyền
thống (trong đó có cả giá trị truyền thống trong gia đình) và những vấn đề liên
quan đến TCH. Qua đó, luận bàn đến những thách thức, khó khăn cũng như những
cơ hội do TCH mang đến với việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của
dân tộc Việt Nam.
Đặng Cảnh Khanh, Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống
[59]. Tác giả Đặng Cảnh Khanh đã biên soạn cuốn sách với mục đính cung cấp
kiến thức và nhận thức lại một cách nghiêm túc, sâu sắc đối với người học, nghiên
cứu những vấn đề liên quan đến gia đình, đặc biệt là tầm quan trọng của gia đình
và cộng đồng trong việc giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp, phát huy tính ưu
việt của tinh hoa văn hóa dân tộc, xây dựng GĐVH, hạnh phúc trên cơ sở gìn giữ,
tiếp thu các giá trị văn hóa trong GĐTT Việt Nam. Nội dung cuốn sách đã giải
quyết được các vấn đề cơ bản như: khái quát cơ sở lý luận về vai trò của gia đình
và cộng đồng trong việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống; Phân tích thực
trạng việc giáo dục các giá trị truyền thống trong gia đình và cộng đồng; rút ra một
số nhận định và khuyến nghị. Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả
12
luận án khi tiến hành nghiên cứu, phân tích thực trạng giáo dục các giá trị văn hóa
GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay.
hoá GĐTT dưới góc độ đề cao như là những chuẩn mực mà con người, gia đình
hiện nay cần kế thừa, phát huy.
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu về thực trạng và xu hướng biến đổi
của gia đình Việt Nam hiện nay
Nguyễn Hữu Minh, Gia đình Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập từ cách tiếp cận so sánh [88]. Cuốn sách bao gồm 31 bài
viết khoa học có chất lượng, hàm lượng khoa học cao của cả các nhà nghiên cứu
trong nước và nước ngoài khi tham dự hội thảo khoa học cùng tên tại Viện nghiên
cứu Gia đình và Giới. Nội dung cuốn sách giúp cho người đọc có cái nhìn khách
quan, đang dạng về những vấn đề cụ thể như:
Thứ nhất, nghiên cứu gia đình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế từ cách tiếp cận so sánh. Các tác giả nhấn mạnh
đến tầm quan trọng của gia đình trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập. Luận bàn
về vai trò của người phụ nữ trong gia đình, về sự phân hóa chức năng giáo dục
trong quá trình biến đổi cấu trúc xã hội và về vị thế kinh tế, xã hội của gia đình.
Thứ hai, nghiên cứu sự biến đổi nhanh chóng cơ cấu, chức năng gia đình
Việt Nam từ sự giảm quy mô, tăng tỷ lệ gia đình hạt nhân, giảm tỷ số phụ thuộc
trong gia đình đến những thay đổi về chức năng gia đình trong quá trình thực hiện
CHN, HĐH và hội nhập. Thông qua các bài viết, có thể thấy chức năng xã hội hóa
của gia đình có nhiều biến đổi: cha mẹ ít có thời gian quan tâm đến giáo dục con
cái hơn trước trong khi con cái của họ lại đang dành nhiều thời gian vui chơi, đàn
đúm với bạn bè, tham gia các mạng xã hội. Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài
gia đình như sự du nhập, tác động của văn hóa ngoại lai, các hành vi tệ nạn xã hội,
internet, games… đến việc giáo dục đạo đức, lối sống, nhân cách cho con cái ngày
càng tăng lên. Sự bảo lưu thậm chí là rập khuôn đậm nét các quan niệm truyền
thống của người dân về hôn nhân và gia đình. Mối quan hệ tâm lý, tình cảm gắn
kết giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái trong gia đình, chức năng tái sinh sản của
gia đình… cũng thay đổi rõ rệt.
Thứ ba, nghiên cứu về giá trị gia đình. Ở mảng nghiên cứu này, các bài viết
đã cung cấp thông tin phong phú đa dạng về sự biến đổi mạnh mẽ các giá trị gia
Nguyễn Linh Khiếu, Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hoá xã hội ở
nông thôn [63]. Trong nội dung cuốn sách, tác giả khẳng định được vị trí, vai trò
to lớn của gia đình đối với sự phát triển cá nhân và xã hội cũng như vai trò của
phụ nữ nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời chỉ ra
15
được đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam cùng những yếu tố tác động đến gia
đình, đến vai trò của người phụ nữ trong quá trình đô thị hoá. Từ đó, tác giả đã
đưa ra những dự báo về những biến đổi về gia đình trong mối quan hệ biến đổi đời
sống kinh tế, văn hoá ở nông thôn Việt Nam hiện nay.
Lê Thi, Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới [122]. Cuốn
sách đã đề cập đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi
mới với những nội dung: khái quát biến đổi về gia đình nói chung, sau đó đi sâu
vào nghiên cứu sự biến đổi của hôn nhân, vấn đề xã hội hóa trẻ em và việc thực
hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội đảng lần thứ IX (chương 1); Nghiên cứu mối
quan hệ trong gia đình từ cách tiếp cận giới, bất bình đẳng trong thực hiện chiến
lược dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam, bạo lực gia đình, phân biệt đối xử
giữa con trai, con gái, ly thân, ly hôn, tâm trạng phụ nữ đơn thân…(chương 2), để
từ đó nghiên cứu xây dựng văn hóa gia đình và GĐVH.
Dương Thị Minh, Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong
giai đoạn hiện nay [89], cũng đã bàn sâu về vấn đề nêu trên. Cuốn sách đã đề cập
đến các nhân tố tác động đến sự biến đổi gia đình và vai trò người phụ nữ trong
gia đình. Chỉ ra đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam và xu hướng biến đổi vai
trò của người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phân tích thực tiễn, tác
giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ
trong việc xây dựng gia đình mới, GĐVH ở Việt Nam.
Lê Ngọc Văn, Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam [154]. Cuốn sách
được chia làm ba phần, cụ thể: Phần 1, tác giả đã khái quát và hệ thống hoá về
những vấn đề cơ bản của gia đình và biến đổi gia đình; Phần 2, phân tích thực
Nguyễn Thị Thọ, Đạo đức gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường ở
nước ta hiện nay [125]. Luận án đã phân tích, làm rõ vai trò của đạo đức gia đình,
tác động của KTTT đến đạo đức gia đình trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất
các giải pháp phù hợp nhằm góp phần xây dựng, hoàn thiện đạo đức gia đình theo
hướng tiến bộ, tích cực.
Phạm Thị Bình, Tác động của kinh tế thị trường đến chức năng gia đình ở
Việt Nam hiện nay [12]. Luận án đã làm rõ được vai trò, chức năng của gia đình và
phân tích thực trạng tác động của KTTT đến chức năng gia đình để từ đó đề ra các
giải pháp phù hợp, khả thi nhằm củng cố và phát huy những mặt tích cực, hạn chế
những tác động tiêu cực trong thực hiện chức năng gia đình ở Việt Nam hiện nay.
Nguyễn Thị Minh Phương, Định hướng giáo dục cho con trong các gia
đình nông thôn ngày nay [98]. Luận án phân tích, làm rõ đặc điểm gia đình nông
17
thôn hiện nay và tập trung phân tích quá trình tương tác trong giáo dục con cái,
những tác động của gia đình đến quá trình học tập, kết quả học tập của học sinh.
Luận án chỉ rõ đường hướng lựa chọn giáo dục của gia đình trong bối cảnh chuyển
đổi của làng xã hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy, gia đình tiếp
tục giữ chức năng giáo dục con cái, nhưng yếu kém trong khả năng kiểm soát kiến
thức mà các con được dạy ở trường. Từ đó, đề ra giải pháp góp phần nâng cấp, cải
thiện giáo dục nhằm đáp ứng xu hướng nguyện vọng và mong đợi giáo dục đối với
con cái ở gia đình nông thôn trong bối cảnh hiện nay.
Đoàn Thị Thanh Huyền, Giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình
hiện nay [54]. Luận án đã nghiên cứu tình hình người chưa thành niên vi phạm
pháp luật và nhận thức của các bậc cha mẹ về vấn đề này nhằm nhận diện thực
trạng giáo dục pháp luật cho con cái lứa tuổi Trung học cơ sở, Trung học phổ
thông trong các gia đình tại tỉnh Quảng Ninh hiện nay. Từ đó, đề xuất một số giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục pháp luật cho con cái trong
gia đình hiện nay.
độc lập tương đối trong sự phát triển. Nó có tính quy luật vận động riêng, trong đó,
các “quan hệ kinh tế không đóng vai trò yếu tố cơ bản quyết định cuối cùng mà là
các quan hệ máu mủ, tình cảm và trách nhiệm” [122]. Chúng ta không thể đơn giản
chỉ lấy yếu tố kinh tế, sự biến động của xã hội để giải thích mọi hiện tượng xảy ra
trong đời sống tinh thần, tình cảm và biến đổi các mối quan hệ trong gia đình. Phải
xem xét, nghiên cứu sự biến đổi cấu trúc, chức năng, các mối quan hệ trong gia đình
từ cả hai phía: nội tại trong mỗi gia đình và sự tác động của yếu tố kinh tế, xã hội.
Cũng trong bài viết, tác giả đã phân tích sự tác động của yếu tố khoa học kỹ thuật,
kinh tế, xã hội... làm biến đổi văn hóa trong gia đình theo cả hướng tích cực và tiêu
cực. Vì vậy, xây dựng GĐVH hiện nay cần thiết phải kết hợp hài hòa văn hóa
GĐTT với các giá trị văn hóa hiện đại. Việc tiếp thu các giá trị tinh thần mới của
gia đình hiện đại không mâu thuẫn với việc giữ gìn, phát huy giá trị đạo đức truyền
thống tốt đẹp, vốn có của gia đình Việt Nam.
Hoàng Bích Nga, Để có một gia đình văn hóa [93]. Cuốn sách đã phân tích
tương đối hoàn chỉnh các yếu tố để có một gia đình văn hóa như: tình yêu và hôn
nhân, các giai đoạn phát triển của gia đình; sự giáo dục của cha mẹ đối với con
cái, các mối quan hệ trong gia đình như làm chồng, làm vợ, làm ông, làm bà, làm
con, làm cháu… và quan hệ với láng giềng, quê hương, đất nước. Thông qua nội
dung cuốn sách, người đọc có thể rút ra câu trả lời “để có một gia đình văn hóa”,
bản thân mỗi người trong gia đình phải thực hiện tốt bổn phận, trách nhiệm của
19
mình đối với gia đình, sống giản dị, không tham những thú vui thiếu lành mạnh,
không xa vào các tệ nạn xã hội… Cuốn sách cũng chỉ rõ vai trò quan trọng của
cuộc vận động xây dựng GĐVH đối với sự hình thành, phát triển gia đình Việt
Nam trong thời đại mới, đồng thời, khẳng định cần phải tiếp tục duy trì thực hiện
“Phong trào xây dựng gia đình văn hóa” không chỉ ở chiều rộng mà cần thực hiện
theo chiều sâu để đạt kết quả, hiệu quả cao nhất.
Vũ Ngọc Khánh, Văn hoá gia đình Việt Nam [61]. Nội dung cuốn sách đã
đó, đề xuất các giải pháp khả thi nhằm xây dựng gia đình Việt Nam trong bối cảnh
đổi mới và hội nhập quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.1.2.4. Các công trình nghiên cứu về gia đình vùng đồng bằng sông Hồng
Mai Huy Bích, Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng [7]. Tác giả
nghiên cứu đặc điểm, cấu trúc, chức năng của các gia đình vùng ĐBSH từ góc độ
dân tộc học và xã hội học. Trên cơ sở đó, làm rõ giữa tính cộng đồng và chức năng
tái sinh sản, chức năng xã hội hoá trẻ em, mục đích của hôn nhân trong gia đình
Việt Nam truyền thống và hiện đại.
Khuất Thu Hồng, Gia đình truyền thống - Một số tư liệu nghiên cứu xã hội
học [49]. Cuốn sách đã làm rõ vấn đề hôn nhân truyền thống ở Đồng bằng sông
Hồng, đồng thời hướng dẫn một số phương pháp phỏng vấn cá nhân và đưa ra kết
quả nghiên cứu vấn đề này tại Đại Đồng - Hà Tây cũ và Hà Nội.
Tô Duy Hợp, Sự biến đổi của làng - xã Việt Nam hiện nay (ở Đồng bằng
sông Hồng) [50]. Tác giả đã phân tích sự biến đổi của làng liên quan đến nhiều
vấn đề, trong đó có đề cập đến biến đổi văn hóa gia đình và dòng họ. Cũng trong
cuốn sách, tác giả cho rằng, gia đình nông thôn ở vùng đồng bằng sông Hồng đang
có một số biến đổi như: tính bình đẳng giữa vợ chồng được khẳng định hơn so với
truyền thống; tính áp chế của các thế hệ trước đối với thế hệ sau có xu hướng giảm
trong các quyết định quan trọng; xu hướng thống nhất những giá trị chung trong
gia đình được duy trì nếu nó không lệch chuẩn…
Phan Hồng Giang, Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và
sông Cửu Long [40]. Cuốn sách đã phân tích rất nhiều vấn đề trong đó có phân
tích thực trạng một số lĩnh vực của đời sống văn hóa nông thôn (qua nghiên cứu
định lượng), thực trạng các thiết chế và hoạt động văn hóa mới, vai trò truyền
thông đại chúng, dư luận xã hội trong đời sống văn hóa nông thôn ở vùng đồng
bằng sông Hồng và sông Cửu Long.
Lê Thị Thanh Hương, Ứng xử của người dân vùng Đồng bằng sông Hồng
trong gia đình [56]. Các tác giả cho rằng, việc ứng xử trong quan hệ gia đình ở
nội dung và phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSH đối với sự phát triển văn
22
hóa, xã hội ở địa phương. Đánh giá thực trạng công tác lãnh đạo và đề xuất một số
giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các tỉnh
ủy đối sự phát triển văn hóa - xã hội ở ĐBSH đến năm 2025 như: nâng cao nhận
thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng; tiếp tục đổi mới nội dung, phương
thức lãnh đạo; nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong các cơ quan chuyên trách về công tác văn hóa - xã hội tỉnh; nâng cao
hiệu quả quản lý của chính quyền tỉnh và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc,
các tổ chức chính trị trong phát triển văn hóa - xã hội ở địa phương; đẩy mạnh
kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết và sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm
lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội.
Như vậy, có thể thấy, qua thu thập tài liệu tổng quan nghiên cứu và theo
hiểu biết của cá nhân, Tác giả nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp
việc phát huy giá trị gia đình truyền thống trong việc xây dựng gia đình văn hóa ở
vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng và Việt Nam nói chung hiện nay.
1.2. GIÁ TRỊ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC TỔNG QUAN VÀ VẤN ĐỀ
ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN
1.2.1. Giá trị của các công trình nghiên cứu luận án cần tham khảo
Thứ nhất, những tác phẩm nước ngoài nghiên cứu về gia đình như trên đã
nêu, giúp cho tác giả luận án có thêm nguồn tài liệu phong phú để hiểu sâu hơn về
gia đình, cấu trúc gia đình, hôn nhân cũng như sự tác động của công nghiệp hóa, đô
thị hóa tới đời sống gia đình, các quan hệ họ hàng và xu hướng biến đổi của gia
đình trong tương lai. Các kiến thức thu được góp phần giúp tác giả luận án có cách
nhìn khách quan, tương đối toàn diện khi nghiên cứu về gia đình và các nhân tố ảnh
hưởng đến phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH vùng ĐBSH hiện nay.
Thứ hai, đối với tài liệu nghiên cứu trong nước