CHuyên đề LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI ĐỌC HIỂU MÔN NGỮ VĂN ôn thi THPT QG - Pdf 52

LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI ĐỌC HIỂU MÔN NGỮ VĂN

A/ Phần mở đầu.
Trong những năm gần đây, trong lộ trình đổi mới Bộ Giáo dục đã chủ
trương đổi mới trong kiểm tra đánh giá các môn học, trong đó có môn Ngữ
văn. Cấu trúc đề thi môn Văn có thay đổi rõ rệt: thay vì câu hỏi tái hiện kiến
thức (2,0 điểm) là bài đọc hiểu dành cho mọi đối tượng học sinh ( 3,0 điểm).
- Từ năm 2015, đọc hiểu là một phần yêu cầu cơ bản, bắt buộc trong cấu
trúc đề thi THPT Quốc gia. Nhiều Sở giáo dục còn xem đây là yêu cầu trọng
tâm cho đề thi môn Ngữ văn trong kỳ thi học sinh vào lớp 10 THPT. Tuy
nhiên, để học sinh lấy được điểm cao phần đọc hiểu không hề dễ. Thực tế này
đặt ra yêu cầu cho tất cả những người làm công tác giảng dạy môn Ngữ văn là
phải hết sức chú trọng vào dạy kĩ năng đọc hiểu cho học sinh. Đây cũng là mối
quan tâm của rất nhiều giáo viên và học sinh. Với chuyên đề: luyện kĩ năng
làm bài đọc hiểu môn Ngữ văn, hi vọng sẽ giúp các đồng nghiệp có thêm
phương pháp giảng dạy kiểu bài này.
B/ phần nội dung
I.

Phạm vi đề:

1.1. Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật):
- Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các văn bản đọc thêm)
- Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bản được
học trong chương trình).
1.2. Văn bản nhật dụng (Loại văn bản có nội dung gần gũi, bức thiết đối
với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại
như: Vấn dề chủ quyền biển đảo, thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân
số, quyền trẻ em, ma tuý, ... Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể
loại cũng như các kiểu văn bản song có thể nghiêng nhiều về loại văn bản



2


Enzyme sẽ không đến được các cơ quan để nuôi cơ thể, thể tích máu giảm,
chất điện giải mất đi và cơ thể không thể hoạt động chính xác. Tình trạng thiếu
nước do không uống đủ hàng ngày cũng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của não
bởi có tới 80% thành phần mô não được cấu tạo từ nước, điều này gây trí nhớ
kém, thiếu tập trung, tinh thần và tâm lý giảm sút…”
(Nanomic.com.vn)
- Đoạn trích được viết theo phương thức biểu đạt nào? (Thuyết minh)
* Ví dụ 3:
Đò lên Thach Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.
(Lê Bá Dương, Lời người bên sông)

- Phương thức biểu đạt chủ yếu trong đoạn thơ là phương thức nào? ( Biểu
cảm)
b. Nhận biết phong cách chức năng ngôn ngữ:
“ Nhà di truyền học lấy một tế bào của các sợi tóc tìm thấy trên thi thể nạn
nhân từ nước bọt dính trên mẩu thuốc lá. Ông đặt chúng vào một sản phẩm
dùng phá hủy mọi thứ xung quanh DNA của tế bào.Sau đó, ông tiến hành
động tác tương tự với một số tế bào máu của nghi phạm.Tiếp đến, DNA được
chuẩn bị đặc biệt để tiến hành phân tích.Sau đó, ông đặt nó vào một chất keo
đặc biệt rồi truyền dòng điện qua keo. Một vài tiếng sau, sản phẩm cho ra nhìn
giống như mã vạch sọc ( giống như trên các sản phẩm chúng ta mua) có thể
nhìn thấy dưới một bóng đèn đặc biệt. Mã vạch sọc DNA của nghi phạm sẽ
đem ra so sánh với mã vạch của sợi tóc tìm thấy trên người của nạn nhân”.

“Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn
hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con
mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm
nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì... Trong kẽ
mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt... Biết rằng chúng nó có
nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?” (Trích Vợ nhặt - Kim
Lân)
Chỉ ra những thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn?
e. Nhận diện các phương thức trần thuật
* Ví dụ1: "Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong
người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều
phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như
lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà,
lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mối nhát quất
xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn : Mày chết đi cho ông
nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ !
Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng,
không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.
Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi
cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc
máy ảnh xuống đất chạy nhào tới."
Nêu phương thức trần thuật của đoạn văn? ( Lời trực tiếp: Trần thuật từ ngôi
thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện (Tôi)
- Lời kể gián tiếp: Trần thuật từ ngôi thứ ba – người kể chuyện giấu mặt.
Ví dụ 2 : "Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ
trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ,
viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt
trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực.
Thay bút con, đề xong lạc khoản, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quan
5

anh Tánh nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần anh động viên Việt
tiến lên…Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái
còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút…”

6


Nêu phương thức trần thuật của đoạn văn? (Lời kể nửa trực tiếp: Trần thuật
từ ngôi thứ ba – người kể chuyện tự giấu mình nhưng điểm nhìn và lời kể
lại theo giọng điệu của nhân vật trong tác phẩm)
f. Yêu cầu nhận biết các phép liên kết ( liên kết các câu trong văn bản)
Ví dụ: Đọc kỹ đoạn văn sau và xác định các phép liên kết được sử dụng:
“Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân,
nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ
tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn
trường học của thực dân phong kiến.
Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa
để tiến bộ hơn nữa” . (Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)
( Trả lời: Các phép liên kết được sử dụng là:
- Phép lặp: “Trường học của chúng ta”
- Phép thế: “Muốn được như thế”… thay thế cho toàn bộ nội dung của
đoạn trước đó.)

g. Nhận diện các thao tác lập luận
Ví dụ:
• Thao tác giải thích
“Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng,
không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã,
ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao
tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không

Sách, đặc biệt là những cuốn sách văn học giúp ta hiểu biết về đời sống bên
trong tâm hồn của con người, qua các thời kì khác nhau, những niềm vui và
nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, những khát vọng và đấu tranh của họ. Sách
còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ bao
la này, hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác, với tất cả
mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này. Sách giúp cho
người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nỗi khổ của con người và phải

8


làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.
Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng. Ta đồng ý với lời nhận
xét mà cũng là một lời khuyên bảo chí lí của M. Gorki: “Hãy yêu sách, nó là
nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Vì thế, mỗi chúng
ta hãy đọc sách, cố gắng đọc sách càng nhiều càng tốt”.
( Bàn về việc đọc sách – Nguồn Internet)
2. Câu hỏi ở mức độ thông hiểu:
a.Câu hỏi thường yêu cầu xác định nội dung, chủ đề:
Ví dụ:
(1) Dù mới ngày đầu mở cửa miễn phí chào hè 2015, Công viên nước
Hồ Tây đã ngay lập tức trở thành tâm điểm chú ý của dư luận với nhiều điều
đáng phê phán, đáng xấu hổ phía sau sự kiện mang tính cộng đồng.
(2) Đó là cảnh chen lấn xô đẩy rất phản cảm của người dân đến thụ
hưởng hai chữ “miễn phí”.Nhiều người không ngại nguy hiểm, trèo tường,
trèo rào sắt cố chạm chân tới cái ngưỡng miễn phí để thỏa sức vùng vẫy.
(3) Câu chuyện hỗn loạn, chen chân giành chỗ miễn phí không phải lần
đầu xảy ra. Trước đó người dân đã từng chứng kiến những cảnh hỗn loạn
không kém ở những tụ điểm mua hàng giảm giá, uống bia miễn phí. Dường
như, cứ cái gì miễn phí là gắn liền với chen chúc, xô đẩy, thậm chí sẵn sàng

của những thầy cô trong mùa nắng để nuôi ước mơ cho các em thơ. Mồ hôi rơi
trên thao trường đầy nắng gió của những người lính để giữ mãi yên bình và
màu xanh cho Tổ quốc…
(Nguồn:vietbao.vn ngày 9-5-2014)
- Đặt tiêu đề cho văn bản trên?
d. Nêu tác dụng của phép tu từ nào đó hoặc trích một phần văn bản yêu cầu
học sinh thể hiện sự thông hiểu của nó.
Ví dụ1:
10


“Tuổi thơ chân đất đầu trần
Từ trong lấm láp em thầm lớn lên
Bây giờ xinh đẹp là em
Em ra thành phố dần quên một thời
Về quê ăn Tết vừa rồi
Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò
Gặp tôi, em hỏi hững hờ
“Anh chưa lấy vợ, còn chờ đợi ai?”
Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ… một khoảng trời pha lê.
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may…”
(Phạm Công Trứ)
- . Anh/chị hiểu như thế nào về hai câu thơ:
“Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ… một khoảng trời pha lê”?
Ví dụ 2: Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ

văn khoảng 10 dòng tưởng tượng về điều sông Hương sẽ nói với thành phố
Huế.
b. Yêu cầu đưa ra ý kiến riêng của bản thân ngoài quan điểm của tác giả trong
văn bản:
12


Ví dụ:
II/ Để làm tốt bài đọc hiểu:
1. Phân tích đề:
- Đọc kĩ văn bản, xác định số câu hỏi, số vế trong từng câu hỏi, mức
điểm từng câu từng vế.
- Xác định sự liên quan giữa các câu hỏi vì nhiều câu sau liên quan đến
gợi ý của câu trước.
2. Để làm tốt các dạng câu hỏi:
a. Chuẩn bị kiến thức để làm tốt câu hỏi biết của bài đọc hiểu:
Để làm tốt phần này, trước hết phải nắm vững kiến thức cơ bản: Nắm
vững kiến thức cơ bản theo các cấp độ, học sinh sẽ có sự phân biệt sự khác
nhau giữa chúng, Vì thực tế học sinh rất dễ nhầm câu đơn đặc biệt và câu đơn
rút gọn, biện pháp tu từ về từ và biện pháp tu từ về câu, thành phần tình thái và
cảm thái, phương thức biểu đạt và thao tác lập luận….Để làm tốt phần này,
yêu cầu học sinh nắm chắc khái niệm và áp dụng, chỉ ra đúng theo yêu cầu đề
bài.
* Kiến thức về từ:
- Phân loại từ:
Dựa vào cấu tạo:
+ Từ đơn: Một âm tiết, nhiều âm tiết
+ Dựa vào chức năng: danh từ, động từ, tính từ (chú ý cách kết hợp từ
ngữ để xác định từ loại: vận động: danh từ + số từ; tính từ + rất, quá, lắm;
động từ: bị, được…)

- Cách triển khai đoạn văn: quy nạp, diễn dịch, xong hành, móc xích,
tổng-phân-hợp.
14


- Liên kết đoạn: liên kết nội dung, hình thức.
* Văn bản:
- Phong cách ngôn ngữ văn bản:
+ Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt - Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng
ngày, mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, ít trau chuốt…Trao đổi
thông tin, tư tưởng, tình cảm trong giao tiếp với tư cách cá nhân
Gồm các dạng chuyện trò/ nhật kí/ thư từ…
+ Phong cách ngôn ngữ báo chí (thông tấn) -Kiểu diễn đạt dùng trong các loại
văn bản thuộc lĩnh vực truyền thông của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự
(thông tấn = thu thập và biên tập tin tức để cung cấp cho các nơi)
+ Phong cách ngôn ngữ chính luận Dùng trong lĩnh vực chính trị - xã hội.
người giao tiếp thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai quan điểm tư
tưởng, tình cảm của mình với những vấn đề thời sự nóng hổi của xã hội
+ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật -Dùng chủ yếu trong tác phẩm văn chương,
không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con
người; từ ngữ trau chuốt, tinh luyện…
+ Phong cách ngôn ngữ khoa học Dùng trong những văn bản thuộc lĩnh vực
nghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học, đặc trưng cho các mục đích diễn
đạt chuyên môn sâu
+ Phong cách ngôn ngữ hành chính -Dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực
giao tiếp điều hành và quản lí xã hội ( giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân,
Nhân dân với các cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan…)
- Phương thức biểu đạt:
+ Tự sự: Trình bày diễn biến sự việc
+ Miêu tả: Tái hiện trạng thái, sự vật, con người.


16


Đây là phần có yêu cầu cao hơn vì học sinh cần phải nêu nội dung, chủ
đề, xác định bố cục, đặt nhan đề cho văn bản.
+ Đặt nhan đề cho văn bản phải đảm bảo tiêu chí: đúng trọng tâm, ngắn
gọn, hay cơ sở đặt nhan đề là phải dựa vào chủ đề, hình tượng trung tâm, ý
nghĩa hoặc phần ghi chú cuối văn bản (không được đặt trùng tên với phần ghi
chú).
VD:
Yêu Tổ quốc từ những giọt mồ hôi tảo tần. Mồ hôi rơi trên những cánh đồng
cho lúa thêm hạt. Mồ hôi rơi trên những công trường cho những ngôi nhà
thành hình, thành khối. Mồ hôi rơi trên những con đường nơi rẻo cao Tổ quốc
của những thầy cô trong mùa nắng để nuôi ước mơ cho các em thơ. Mồ hôi
rơi trên thao trường đầy nắng gió của những người lính để giữ mãi yên bình
và màu xanh cho Tổ quốc…
(Nguồn:vietbao.vn ngày 9-5-2014)
- Đặt tiêu đề cho văn bản trên? (Tình yêu tổ quốc)
+ Xác định nội dung chủ đề bằng nhiều cách: dựa vào nhan đề (nếu có),
dựa vào hình tượng trung tâm của văn bản. Cách tìm hiệu quả nhất là chia văn
bản ra thành nhiều phần, ghi chú nội dung từng đoạn, sau đó gộp các nội dung
ghi chú ấy thành đoạn chủ đề văn bản.
VD:
"Bài ca của Nguyễn Đình Chiểu làm chúng ta nhớ bài Bình Ngô đại cáo
của Nguyễn Trãi. Hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai thời buổi, nhưng một dân
tộc. Bài ca của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ca ngợi những chiến công
oanh liệt chưa từng thấy, biểu dương chiến thắng làm rạng rỡ nước nhà. Bài
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca những người anh hùng thất thế, nhưng
vẫn hiên ngang: "Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc... muôn kiếp nguyện


19


Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa
Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào
Ta nghẹn ngào đất nước Việt Nam ơi!
( Trích “Mặt đường khát vọng”- Nguyễn Khoa Điềm)
1. Cho biết chủ đề của đoạn thơ? Chủ đề ấy đã được triển khai bằng
những nội dung cụ thể nào?
2. Cho biết nét đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn thơ này?
3. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã gửi gắm trong đoạn thơ này phát hiện
nào về nhân dân? Suy nghĩ của anh chị về phát hiện ấy?
Trả lời:
Câu 1:
- Là sự triển khai trực tiếp chủ đề chung của toàn bộ chương V của
trường ca “Mặt đường khát vọng”
- Tư tưởng đất nước của nhân dân.
+ Địa lí quê hương do cuộc đời nhân dân hóa thân mà thành.
+ Lịch sử được hình thành từ chính cuộc sống và quá trình đấu tranh để
bảo vệ sự sống, bảo vệ đất nước của nhân dân.
+ Nền văn hóa cũng được tạo nên từ những sáng tạo, những đóng góp
của nhân dân.
- Trực tiếp triển khai ý tưởng về nền văn hóa nhân dân được kết tinh
trong ca dao cổ
+ Khẳng định giá trị của con người- người ta là hoa đất
+ Thể hiện niềm tin vào hạnh phúc của con người- dù qua cay đắng dập
vùi cô Tấm cũng trở về làm hoàng hậu, trồng khế được trả cục vàng

20

21


qua mọi thử thách khắc nghiệt, mọi khổ đau cay đắng để có thể tiếp tục sống
và có thể tiếp tục ngẩng cao đầu.
- Những phẩm chất phản chiếu trong ca dao cổ tích cũng được bộc lộ
trong đời sống để tạo thành vóc dáng tâm hồn của mỗi cá nhân cũng như của
cả dân tộc.

Đề số 2: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
“Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố
chiến tranh thổi bạt tới những miền đất xa lạ…Cái gì đang chờ họ phía trước?
Tự nhiên tôi muốn nghĩ rằng con người Nga đó là người có ý chí kiên cường
không gì bẻ gãy được, và sống bên cạnh bố, chú bé kia khi đã lớn lên có thể
đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường, nếu
như Tổ quốc kêu gọi.Với một nỗi buồn thấm thía, tôi nhìn theo hai bố con. Có
lẽ cuộc chia tay của chúng tôi sẽ thanh thản, tốt đẹp; nhưng Vaniusca mới đi
được ít bước, đôi chân lũn cũn, chuệch choạng chợt quay lại nhìn tôi, vẫy vẫy
bàn tay bé xíu hồng hồng. Bỗng như có một bàn chân con vật nào đó, mềm
mại nhưng móng sắc nhọn bóp nghẹt lấy tim tôi, và tôi vội vàng quay mặt đi.
Không, những người bạc đầu đứng tuổi trong chiến tranh không chỉ khóc
trong chiêm bao đâu. Họ cũng khóc trong thực tại đấy. Nhưng cái chính ở đây
là đừng làm tổn thương trái tim em bé, đừng để cho em thấy những giọt nước
mắt đàn ông hiếm hoi, nóng bỏng lăn trên má anh”
1. Hãy cho biết nội dung chính của đoạn văn trên? Nội dung ấy được
triển khai bằng những ý nào?

2. Điều gì làm cho anh chị đáng suy ngẫm nhất trong đoạn văn đó? Vì
sao?


23


thể cản bước con người đi tới tương lai. Nó như một bài học cuộc sống với
mỗi con người chúng ta tự xem lại bản thân để từ đó lựa chọn một thái độ
sống đúng, một thái độ đối diện với gian nan thử thách.
b. Trách nhiệm với trái tim em bé, với tâm hồn ngây thơ của em Em bé
phải trải qua nhiều những mất mát, những đau đớn khi người thân, gia đình bị
giết hai trong chiến tranh. Em bé ấy vừa có trở lại tình yêu thương của một
người cha. Tình yêu ấy đã trả lại cho em niềm vui, sự hồn nhiên, ngây thơ của
một đứa trẻ. Cuộc sống như thế khiến em trưởng thành hơn, vững vàng hơn,
vượt qua mọi trở ngại để lên đường nếu Tổ quốc cần. Em bé ấy là hiện thân
của tương lai, không chỉ là tương lai của con người mà của cả đất nước.
Những suy nghĩ này xuất phát từ ý thức trách nhiệm và tình yêu với con
người, với tương lai và cũng là với đất nước. Nó góp phần tạo nên giá trị nhân
văn cho tác phẩm, gây xúc động cho người đọc, góp phần tỏa sáng giá trị nhân
văn cho tác phẩm, tạo dư âm còn lại cho những vấn đề được đặt ra trong tác
phẩm.
Câu 3: Đặc sắc nghệ thuật trong đoạn trích
- Kết hợp nhiều phương thức biểu đạt:
+ Miêu tả hình ảnh bé Vaniusca
+ Tự sự: kể lại khoảnh khắc cuối cùng trong cuộc chia tay khi bé đi
được ít bước, quay lại vẫy tay chào tác giả.
+ Nghị luận: sự thể hiện những suy tư, suy nghĩ về số phận con người,
tương lai con người, thái độ và cách sống của những con người đi qua chiến
tranh, đã mang trong mình nhiều tổn thương, đau đớn.
+ Biểu cảm khi thể hiện cảm xúc của nhân vật tôi; nỗi xúc động mạnh
mẽ trong giây phút chia tay em bé.Tất cả góp phần tạo nên một đoạn văn trữ
tình ngoại đề đầy cảm động, để khơi dậy những cảm xúc sâu lắng cho người
đọc.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status