VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THANH TÙNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THANH TÙNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
:
834 04 02
Đảng khoá X về NN, nông dân, nông thôn trong phần nhiệm vụ và giải pháp
đã nêu cụ thể: “Giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên
suốt trong mọi chương trình phát triển KT-XH của cả nước; bảo đảm hài hoà
giữa các vùng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn
và thành thị. Có kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề và chính sách đảm bảo việc
làm cho nông dân, nhất là ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất….
Đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ nông thôn…. Hình thành CTMT quốc gia về
đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm hằng năm đào tạo khoảng 1
3
triệu LĐNT; phấn đấu đến năm 2020 lao động NN còn khoảng 30% lao động
xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%”[3, tr.2-3].
Để cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính
sách về đào tạo nghề, trong đó có chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại
Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27-11-2009 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956);
Đề án đã nêu rõ: “Đào tạo nghề cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước,
của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng
yêu cầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để
phát triển đào tạo nghề cho LĐNT, có chính sách bảo đảm thực hiện công
bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi LĐNT; khuyến khích, huy động
và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho LĐNT” [43, tr.3].
Tuy nhiên, qua thời gian triển khai thực hiện chính sách, bên cạnh
những kết quả, thành công đạt được thì cũng còn bộc lộ nhiều bất cập, có
chính sách chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn , việc dạy nghề chủ yếu còn
tập trung ở các đô thị, vùng đồng bằng , vùng trung du; trong khi khu vực
nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa chưa được quan tâm đúng mức, đào
động cho chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020” [27]; Quyết định số 3577/QĐ-UBND
ngày 14/10/2016 của UBND tỉnh “Quy định về chính sách hỗ trợ đào tạo lao
động cho chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn
tỉnh giai đoạn 2016 - 2020“ [60].
Giai đoạn 2013- 2017 cùng với những thành tựu đạt được trên lĩnh vực
KT-XH, thì công tác đào tạo nguồn nhân lực, trong đó có đào tạo nghề cho
LĐNT tỉnh Quảng Nam cũng đạt nhiều kết quả; sau gần 5 năm thực hiện Đề
án kể từ 2013 đến 2017: Tỷ lệ qua đào tạo nghề của tỉnh từ 30% năm 2013 đã
đạt khoảng 55% vào năm 2017 , trong đó đào tạo sơ cấp nghề (có cấp chứng
chỉ) từ 3 tháng trở lên đạt 22,5% [38].
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được thì công tác đào tạo nghề cho
LĐNT tại tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua cũng còn nhiều tồn tại, hạn
chế đó là: Với sự phát triển KT-XH của tỉnh thì nhu cầu nguồn nhân lực, lao
5
động, nhất là lao động qua đào tạo nghề rất lớn và ngày càng tăng; tuy nhiên
với quy mô đào tạo hiện nay thì các cơ sở dạy nghề chưa đáp ứng được, quy
mô đào tạo hàng năm còn nhỏ, mạng lưới cơ sở dạy nghề còn nhiều bất cập,
cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề còn thiếu, nhiều nghề đào tạo chưa đảm bảo
thiết bị tối thiểu theo quy định; đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề còn
thiếu cả về số lượng và chất lượng; công tác kết nối giữa các doanh nghiệp và
cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh để giải quyết việc làm cho người lao động
sau đào tạo thực hiện chưa tốt; trong đào tạo còn tập trung về mặt số lượng,
chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng đào tạo, người học ra trường tay
nghề nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được so với nhu cầu thị trường lao
nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng trong những năm tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ khi đề án đào tạo nghề cho LĐNT và các văn bản hướng dẫn thực
hiện đề án được ban hành, thì công tác đào tạo nghề cho LĐNT được các cấp,
các ngành từ TW đến địa phương, nhất là các cấp chính quyền ở địa phương
quan tâm; đã có nhiều bài báo, nhiều hội thảo, một số luận án Tiến sỹ , Thạc
sỹ bàn về vấn đề đào tạo nghề cho LĐNT, qua đó đã giúp cho chúng ta có cái
nhìn đầy đủ và đa chiều hơn về công tác này.
Những năm vừa qua đã có các công trình nghiên cứu và nhiều bài viết
nhằm tìm hiểu thực trạng công tác đào tạo nghề nói chung, đào tạo nghề cho
LĐNT nói riêng như: “Đào tạo nghề cho LĐNT vùng đồng bằng Sông Hồng
trong thời kỳ CNH-HĐH” của tác giả Nguyễn Văn Đại; “Đào tạo nghề cho
LĐNT ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Việt Quân; “Một số giải pháp
đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thu
Hoà; “Đào tạo nghề phải gắn với doanh nghiệp”, của Thứ trưởng Bộ Lao
động-TB&XH Lê Quân (Báo Lao động ngày 28/7/2018); “Có nghề nông dân
mới thoát nghèo bền vững”, của Bộ trưởng Bộ Lao động -TB&XH Đào Ngọc
Dung (Báo Dân trí ngày 12/4/2018); “Đào tạo nghề cho nông dân thời kỳ hội
nhập quốc tế”, của Tiến sỹ Nguyễn Tiến Dũng, nguyên Tổng cục trưởng Tổng
cục Dạy nghề, Bộ Lao động -TB&XH... Những bài báo, công trình nghiên
cứu trên đã cung cấp một cái nhìn tổng thể về thực trạng công tác đào tạo
nghề cho LĐNT, thực trạng về việc làm và giải quyết việc làm, cũng như thực
7
trạng về thực hiện các chính sách đào tạo nghề cho LĐNT hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận của chính sách đào tạo nghề cho
LĐNT, đề tài đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
LĐNT tại tỉnh Quảng Nam một cách toàn diện; qua đó, đề xuất các giải pháp
hợp lý, sát thực để hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách đào tạo nghề, trong đó có đào
tạo nghề cho LĐNT ở nước ta hiện nay, tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế và một
số địa phương trong nước để làm cơ sở cho việc phân tích, đưa ra những đánh
giá thực trạng về việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam.
Phân tích, đánh giá các giải pháp thực hiện chính sách đào tạo nghề,
trong đó có chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Quảng Nam.
Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp để tiếp tục thực hiện, hoàn
thiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác này tại tỉnh Quảng Nam trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho LĐNT tại tỉnh Quảng Nam. Việc thực hiện chính sách đào tạo nghề
được xem xét từ góc nhìn công tác xã hội nhằm đánh giá và đề xuất được các
giải pháp để thực hiện hiệu quả các chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, nhóm
đối tượng đang gặp nhiều khó khăn hiện nay tại tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Chủ yếu giai đoạn 2013-2017; tuy nhiên trong quá trình
nghiên cứu có đề cập một số tình hình, kết quả thực hiện giai đoạn 2010 9
10
Luận văn đầy đủ ở file: Luận văn Full