Truyện ngắn vũ điệu cái bô dưới góc nhìn phân tâm học - Pdf 52

MỞ ĐẦU
Phê bình phân tâm học ở Việt Nam mặc dù được gieo giống sớm, nhưng không
đâm cành trổ nhánh lên được. Một phần do xã hội còn nặng tư tưởng Nho giáo, coi
tính dục là chuyện kín nơi góc buồng xó bếp nên ai lại đem phơi bày trên mặt giấy. Có
lẽ vì sự “e lệ dậy thì” này mà trong văn học Việt Nam văn chương hoa tình (érotique)
vắng mặt. Phần khác, do “sợ nhi viễn chi” nên các nhà phê bình chỉ hiểu phân tâm
học một cách sơ sơ đại khái như bác sĩ Trực Ngôn trong “số đỏ”. Ấy là chưa kể có
thời học thuyết Freud bị coi là phản động, là nhục mạ con người. phân tâm học, vì thế,
có cơ hội phục hồi và phát triển.Trong sáng tác văn chương, người đầu tiên vận dụng
học thuyết Freud, có lẽ, là Vũ Trọng Phụng trong “làm đĩ”, “giông tố”, “số đỏ”, còn
trong phê bình là Trương Tửu và Nguyễn Văn Hanh.
Phân tâm học đến với văn học Việt Nam là điều tất yếu, vấn đề là văn học Việt Nam
tiếp nhận như thế nào để bắt kịp với thế giới và tạo cho mình một diện mạo mới mẻ
hơn. Có thể nói phân tâm học tồn tại trong văn học nước ta từ văn học trung đại cho
đến văn học hiện đại,ở thời kì văn học trung đại ta thấy rõ yếu tố phân tâm học trong
thơ Hồ Xuân Hương với nhiều hình ảnh, từ ngữ thể hiện tính dục rất khéo léo. Đến
văn học hiện đại phân tâm học đến gần với bạn đọc hơn qua những yếu tố mang đậm
tính sex của nhiều tác giả khác nhau làm nên một bức tranh văn học vô cùng phong
phú. Phân tâm học mang lại cho tác giả một lối viết chân thật,mang đậm ý thức cá
nhân, tác giả không còn sáng tác theo kiểu kể về câu chuyện của ai đó bằng cách nhìn
của mình mà họ viết về cảm xúc của chính bản thân mình, viết về những gì lẩn khuất
sâu trong tâm hồn họ. Từ đó người đọc cũng có được cái nhìn sống động hơn, người
đọc như nhìn thấy đâu đó trong trang sách bóng dáng tâm hồn mình. Chính qua văn
học mà ta thức nhận được tính người của ta, nó suy nghĩ, nói năng. Bởi lẽ, ngôn ngữ
được rèn giũa trong các quan hệ thường ngày với cha mẹ và bạn bè chỉ để hành động:
hỏi, trả lời, để mà sống. Đại thể là, chỉ nhờ vào một cái gì đó như văn học (dù là văn
học truyền miệng trong những kỷ nguyên và những nền văn minh không chữ viết) mà
con người tự vấn về bản thân mình, về số phận vũ trụ của mình, lịch sử của mình,
hoạt động xã hội và tinh thần của mình. Các nhà văn hiện đại được xem là những con
người mẫn cán với thời đại, tiếp thu nhạy bén những lý thuyết mới sáng tạo nên
những tác phẩm tinh tế phù hợp với thị hiếu của độc giả, đem lại cho thế giới cái nhìn

được nhận thức đầy đủ. Cùng với nhiều công trình nghiên cứa về con người như
thuyết tiến hóa và khoa học về nhận thức, đã đóng góp vào việc tìm hiểu sau hơn về
nhận thức về văn hóa và văn minh nhân loại. Phân tâm học được sáng lập vào khoảng
cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 bởi một nhà thần kinh học người Áo – Sigmund Freud.
Thuyết tâm lý học này đã được đánh giá, mở rộng và phát triển theo nhiều hướng
khác nhau, phần lớn nhờ công của một số học trò của Freud như Alfred
Adler (với Tâm lý học cá nhân), Carl Gustav Jung (với Tâm lý học phân
tích), Wilhelm Reich, và sau nữa là những đóng góp từ các nhà phân tâm mới
như Erich Fromm (với một số cuốn sách rất thú vị: "chạy trốn tự do – escape from
freedom"; "Phân tâm học và Thiền – Zen Buddhism and Psychoanalysis"...), Karen
Horney, Harry Stack Sullivan,Jacques Lacan.
Những luận thuyết cơ bản của phân tâm học chủ yếu bao gồm: Hành vi, kinh nghiệm
và nhận thức của con người phần lớn được định hình bởi các xung năng bẩm sinh và
phi lý. Những xung năng này mang bản chất vô thức. Qúa trình cố đưa những xung
năng này "trồi" lên bề mặt ý thức sẽ gây ra những khángcự tâm lý, được biểu hiện qua
các cơ chế phòng vệ. Bên cạnh những cấu trúc tâm thần mang tính bẩm sinh đó, sự
phát triển của một cá nhân còn được định hình bởi những sự kiện thuở ấu thời.
Những xung đột giữa ý thức về thực tại với phần vô thức của hệ tâm thần (tạo nên sự
dồn nén) có thể là nguồn gốc của những chứng rối nhiễu tâm trí như chứng nhiễu tâm,
lo âu, trầm uất, v.v...Phương thức để giải trừ những ảnh hưởng này từ những nội dung
vô thức là đưa các nội dung đó lên bình diện ý thức. Dưới tầm ảnh hưởng rộng lớn
của phân tâm học, đã có ít nhất 22 nhánh lý thuyết nghiên cứu về sự phát triển tâm trí


con người. Nhiều phương pháp tiếp cận khác trong trị liệu cũng được gọi là " phân
tâm lại khác xa so với lý thuyết. Thuật ngữ phân tâm học cũng dùng cho một phương
pháp nghiên cứu về sự phát triển ở trẻ em.

1.2 Những khái niệm cơ bản của phân tâm học
1.2.1. Khái niệm phân tâm học


S.Freud cho rằng con người được sinh ra với những bản năng thuộc về vô thức. Nó
bao gồm các bản năng sống và bản năng chết.
- Bản năng sống: là sự đói khát, tình dục.
- Bản năng chết: là những bản năng hướng tới sự phá bỏ, tiêu diệt cuộc sống. Những
hành vi gây thương tích, tự hủy hoại bản than ở con người. Những hành vi hung tính,
sự nóng giận cũng là bản năng chết của con người.
1.2.3 Các cơ chế tự vệ.
- Sự dồn nén: kiềm chế những lo lắng lại, che giấu không để lộ ra ngoài.
- Sự phóng chiếu: chuyển những cảm xúc của mình lên người khác.(tâm sự)
- Sự chối bỏ: từ chối, ví dụ không chấp nhận những lo lắng sợ hãi đang tồn tại trong
bản thân.
- Sự thoái bộ: thoái lui về giai đoạn trước, có những hành vi thuộc lứa tuổi trước đó
( hiện tượng trẻ con hóa).
- Sự tạo lập hành động (phản ứng): chuyển những cảm xúc ví dụ lo âu thành hành
động. ( Lo về kết quả học tập – học bài).
- Sự phá bỏ: chuyển những cảm xúc lo âu thành sự hung dữ. ( Lo về kết quả học tập –
đi uống rượu)
- Sự thăng hoa: chuyển lo âu, sợ hãi thành các sản phẩm có ích cho xã hội. ( Ví dụ:
nhà thơ Xuân Diệu chuyển cảm xúc thất tình thành thơ)
- Sự mơ mộng: thỏa mãn những mong muốn trong giấc mơ.
1.2.4 Tính dục ấu thơ
S. Freud cho rằng tâm lý con người phát triển qua các giai đoạn khác nhau sau đây:
- Giai đoạn môi miệng (oral stage): từ khi sinh ra cho đến 1.5 tuổi. Sự thỏa mãn được
thự hiện qua ăn uống, mút, bú mẹ. Nếu đứa trẻ trong thời kỳ này không được thoản
mãn nhu cầu này, thì nó sẽ có những cảm giác tiêu cực như tự ti, lo âu về sự an toàn
vào những giai đoạn sau của cuộc đời.
- Giai đoạn hậu môn (anal stage): từ 1.5 – 3 tuổi. Sự thỏa mãn được thực hiện qua sự
đi đại tiện, tiểu tiện. Thời kỳ này trẻ bắt đầu học cách kiểm soát cơ thể và môi trường
xung quanh qua việc hướng dẫn của cha mẹ, việc quy định vệ sinh và các hoạt động

năng vốn dẫn đến ứng xử sơ khai đối với cái đói, cái khát, tình dục và các xung động
căn bản. "Cái ấy" có tính trẻ con, ích kỷ, phi đạo đức, phi logic, và không mang ý
niệm thời gian. Là nguồn gốc của mọi năng lực tâm linh, "cái ấy" được xem như một
yếu tố chính của nhân cách và là bể chứa những libido hay "thôi thúc bản năng để tạo
ra". "Cái ấy" được lèo lái bởi nguyên tắc về vui thú nghĩa là cố tránh sự đau đớn,
phiền não và cố tìm sự thỏa mãn tức thì cho mọi ao ước, thèm muốn và nhu cầu. Các
nhu cầu ấy nếu không được làm vừa lòng sẽ mang đến kết quả một trạng thái lo âu
hay căng thẳng. Ví dụ, cảm giác đói hay khát sẽ gây ra một cố gắng tức thì để có ăn
hay uống; như các trẻ sơ sinh nếu bị đói sẽ khóc thét cho đến khi được cho bú. Tâm trí
của trẻ sơ sinh có thể xem như hoàn toàn được điều khiển bởi "cái ấy" trong ý nghĩa
nó là một khối lớn những thôi thúc và xung động do bản năng. Tuy nhiên, việc làm
thỏa mãn tức thì các nhu cầu bản năng không luôn luôn thực tế và thậm chí không thể
thực hiện. Nếu được điều khiển hoàn toàn bởi nguyên tắc về vui thú, ta có lẽ giựt
những thứ ta muốn từ tay người khác để thỏa mãn ao ước của mình. Nhưng làm như


thế sẽ gây loạn và không được xã hội chấp nhận. Theo Freud, nếu không được thỏa
mãn với nguyên tắc về vui thú, "cái ấy" sẽ cố gắng giải quyết qua diễn trình sơ cấp
vốn tạo ra một hình ảnh tâm trí về sự vật mong muốn để thay thế cho sự thôi thúc và
làm mờ đi sự lo âu hay căng thẳng. Cái ấy chính là biểu hiện của cái di truyền, có xu
hướng thỏa mãn những nhu cầu bẩm sinh cá nhân. Cái đó chứa đựng những bản năng
như: ăn uống, tự vệ, tình dục…trong đó bản năng tình dục giữ vai trò quyết định toàn
bộ đời sống tâm lý con người, cái nó hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn. Cái ấy và
cái vô thức được ẩn dấu sâu bên trong bộ máy tâm thần cắt nghĩa cho đa số hành vi
con người.
1.3.2 Cái tôi
Cái Tôi là cái trung gian giữa cái ấy và cái bên ngoài. Về mặt nguồn gốc, cái tôi
được xem là một phần của cái nó nhưng đã bị tách khỏi cái nó để tiếp xúc với cái bên
ngoài. Cái tôi con người thường ngày, con người có ý thức. Cái tôi có nhiệm vụ kiểm
soát những vận động theo ý mình, đảm bảo sự tồn tại. Khi cái tôi chống lại nó bằng

những hình ảnh bên trong tâm trí của nó. Cũng qua quá trình đó, đứa trẻ sớm nhận ra
rằng việc tạo nên những hình ảnh trong tâm trí không hề giúp thỏa mãn được những
nhu cầu của nó, và hệ quả là trẻ bắt đầu phân biệt được giữa bản thân nó và thế giới
bên ngoài, bắt đầu học cách tìm kiếm những sự vật bên ngoài để phù hợp với những
hình ảnh bên trong tâm trí của nó. Quá trình này tạo điều kiện cho cái tôi tách biệt ra
khỏi cái ấy và được xem là quá trình đồng nhất hóa. Đây là một trong những khái
niệm quan trọng nhất trong lý thuyết phân tâm.
1.3.3 cái siêu tôi
Yếu tố chót được phát triển của nhân cách là "cái siêu tôi" vốn được tổ chức để chứa
đựng các tiêu chuẩn và khuôn mẫu được nhập tâm về đạo đức mà ta lãnh hội từ bậc
cha mẹ và xã hội, nghĩa là tri giác của ta về tội lỗi, về điều cấm kỵ, về đúng và sai.
Cái siêu tôi cung cấp những hướng dẫn để phán đoán, và vận hành chủ yếu trong vô
thức nhưng một phần cũng thuộc về ý thức. Theo Freud, cái siêu tôi bắt đầu xuất hiện
khi trẻ em được khoảng năm tuổi và gồm có hai nhóm: Khuôn mẫu siêu tôi: gồm có
những quy tắc và tiêu chuẩn cho các ứng xử tốt vốn gồm những ứng xử được cho
phép bởi xã hội và bậc cha mẹ. Tuân theo các quy tắc này sẽ mang đến cảm giác tự
hào, giá trị và thành đạt. Lương tâm: gồm có thông tin về những việc được bậc cha
mẹ và xã hội xem là xấu xa. Những ứng xử ấy thường bị chỉ trích hay cấm đoán và
dẫn đến những hậu quả xấu, sự trừng phạt hay cảm giác có tội và hối hận. Có sự đối
nghịch ở đây: cái siêu tôi cố sức làm cho hành động mang tính thích hợp với xã hội,
trong khi "cái ấy" chỉ muốn được thỏa mãn tức thì. Cái siêu tôi vận hành để hoàn
thiện và văn minh hóa các ứng xử của con người, để cầm chân mọi thôi thúc khó được
chấp nhận của "cái ấy", và khiến cho cái tôi hành động dựa vào các tiêu chuẩn đạo
đức thay vì dựa vào nguyên tắc về hiện thực. Cái siêu tôi có mặt trong cả ba phần: ý
thức, tiềm thức và vô thức.
Cái siêu tôi là lực lượng đối lập với cái tôi ngăn cản cái tôi trong quá trình phát triển,
kìm hãm sự thỏa mãn của cái tôi, đó là “cái Tôi lý tưởng” không bao giờ vươn tới
được và hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt chèn ép. Cái siêu tôi là một dạng thức
kiểm soát từ bên trong của mỗi cá nhân. Theo quan điểm của Freud, cái Siêu Tôi được


an toàn cho con người chủ thể và cho phép một số ước muốn của "cái ấy" được biểu
lộ, nhưng chỉ khi các hậu quả xấu của hành động là không đáng kể. Có thể xem cái tôi
như một đầy tớ của ba người chủ khó tính. Nó phải làm hết khả năng để phụ vụ cả ba,
vì vậy luôn luôn cảm thấy bị vây quanh bởi sự nguy hiểm do tạo ra bất mãn của các
người chủ. Tuy nhiên, dường như cái tôi trung thành với "cái ấy" hơn, có khuynh
hướng bỏ qua các chi tiết nhỏ của hiện thực để giảm thiểu xung đột trong khi giả vờ
vẫn tôn trọng hiện thực. Nhưng cái siêu tôi đang liên tục theo dõi mọi động thái của


cái tôi, khuyến khích cái tôi tránh làm bậy và trừng phạt về việc làm bậy bằng cảm
giác có tội, lo âu và tự ti. Để vượt qua sự xung đột này, cái tôi phải dùng đến các cơ
chế phòng vệ tâm lý. Thuật ngữ "sức mạnh của cái tôi" được dùng để chỉ khả năng
của cái tôi trong việc đương đầu hiệu quả với các đòi hỏi của các lực kia. Những
người với sức mạnh của cái tôi đúng mức sẽ có khả năng điều hòa các lực với nhau,
duy trì cảm xúc ổn định, và chịu nổi các áp lực bên trong lẫn bên ngoài. Những người
kém sức mạnh của cái tôi sẽ cảm thấy bị xâu xé, giành giựt giữa các lực cạnh tranh;
còn những người mạnh quá có thể trở nên cứng cỏi và bất khuất. Theo Freud, bí quyết
để dẫn đến một nhân cách lành mạnh là sự cân bằng giữa "cái ấy", cái tôi và cái siêu
tôi.
Trong nhãn quan của Phân tâm học thì nhà sáng tạo trượt đi trong những trò chơi,
huyễn tưởng và những giấc mơ không biên giới. Người sáng tạo lao vào địa hạt của
mình như những đứa trẻ lao vào cuộc chơi của chúng, ở đó những luật lệ riêng được
thiết lập, kiến thiết nên một thế giới của cái khác kết hợp với sự tri nhận của họ về thế
giới khách quan. Cứ thế người sáng tạo thụ hưởng những lạc thú của mình khi thế
giới khác biệt không ngừng được tạo sinh. Có những ước muốn ở đời sống trần trụi
không được thỏa mãn đã sinh ra những huyễn tưởng, những mộng mơ và từ đó sinh ra
những giấc mơ ban ngày. Phân tâm học cho đó là giấc mơ khi tỉnh, người tỉnh mộng
mơ và hoang tưởng để tác phẩm được sinh ra. Tác phẩm văn chương ra đời trong tính
huyễn tưởng, trong sự chấp chới giữa vô thức, tiềm thức và ý thức, trong sự đấu tranh
giữa những ức chế bị kìm nén và sự khát khao giải phóng những ẩn ức bị kìm nén.

những cảm nghĩ xa cách. Trong những giờ phút như vậy, tình dục và tình yêu tăng
cường lẫn cho nhau và hòa hợp với nhau một cách lành mạnh. Nhưng trong “vũ điệu
của cái bô” Nguyễn Quang Thân đề cập đến vấn đề thỏa mãn tính dục không cần tình
yêu của nhân vật như một thói quen tha hóa không thể từ bỏ. Soi chiếu truyện ngắn
này dưới góc nhìn của phân tâm học mà cụ thể là của những lý thuyết cơ bản của phân
tâm học đã nêu ở trên tác giả gửi gắm tới bạn đọc cuộc sống của một con người rơi
vào bản năng tình dục, sống vô cảm chỉ biết lấy tình dục để thỏa mãn cuộc sống của
chính mình một cách mù quáng.
2.1 Khái quát về truyện ngắn “vũ điệu của cái bô”


Vũ điệu của cái bô là một truyện ngắn độc đáo đã thành công khi dùng tiếng cười
để tái hiện bi kịch bị tha hoá vì nghèo đói của một bộ phận trí thức giàu tài năng, tâm
huyết nhưng không có khả nàng chiến thắng hoàn cảnh. Qua truyện ngắn này tác giả
muốn làm rõ một chủ đề của văn học nước ta thời kỳ đổi mới qua truyện ngắn này:
chủ đề về tấn bi hài kịch của người trí thức. Trong Vũ điệu của cái bô, Nguyễn Quang
Thân cho người đọc thấy nhiều bất ổn của đời sống qua chính tình thế "lệch chuẩn"
phi lý của Hảo, một phó tiến sĩ có tài nhưng "không có đất dụng võ’’. Là kỹ sư ở nhà
máy giày, Hảo còn trẻ, say mê sáng tạo, thừa nhiệt tình, tâm huyết, từng dày công
nghiên cứu và cho ra đời một loại keo dán giày hảo hạng. Trớ trêu, "khách hàng đã
tẩy chay thứ giày bong mũi của nhà máy" trước khi loại keo dán giày của anh "qua
được bát quái trận thủ tục" Nhà máy đóng cửa, cuộc sống của Hảo trở nên bấp bênh.
Sợ "mọc đuôi dài ra", Hảo buộc phải chấp nhận "bán mình". "Hai mươi tờ giấy bạc
năm ngàn đủ sức mạnh biến Hảo thành người trông trẻ mẫn cán trong ba mươi ngày',
"chăn một thằng bé lên ba tuổi rưỡi ', phục vụ nó "đi bô' có thể là một công việc hết
sức bình thường với một cô gái nông thôn thất học. Nhưng với một ngươi yêu nghề
như Hảo thì đó lại là một sự trái ngược chua xót. Nhiệt huyết, tài năng bị xem thường,
đề tài khoa học nghiêm túc bị xếp xó, Hảo phải sống bằng một thứ "khoa học giả cầy”
được mã hoá bằng cụm từ "nghiên cứu có tính chiến lược '. Lý tưởng không còn đất
sống, lòng tự trọng của kẻ sĩ bị thui chột vì số tiền trông trẻ bằng ba lần lương tháng.

văn học vấn đề đối cực nam nữ dẫn đến một vài thảo luận nữa về chủ đề tình yêu và
tình dục. Freud khi nhận thấy một cách cực đoan trong tình yêu có sự biểu lộ – hay
một thăng hoa – của bản năng tính dục hơn là nhận ra rằng ham muốn tính dục là một
biểu lộ của nhu cầu muốn yêu thương và hợp nhất. Ông đã diễn tả ý niệm này trong
Three Contributions to the Theory of Sex (Ba cống hiến cho lý thuyết về tính dục),
cho rằng Libido ở đàn ông hay đàn bà . Sự hấp dẫn dục tính giữa hai phái chỉ được
điều động từng phần bởi nhu cầu tẩy trừ áp lực; đó chính là nhu cầu hợp nhất với cực
tính dục khác. Thực vậy, sự hấp dẫn của bản năng tính dục làm cho chị ta sẵn sàng lao
vào cuộc sống tình dục với bất kì người đàn ông nào nhằm tìm kiếm sự khoái lạc ,
thõa nhục vọng của mình. Những cuộc tình của chị là những cuộc hoan lạc không có
tình yêu. Chị nhìn nhận đàn ông như một con đực giúp chị thỏa mãn chứ không phải
là con người mà chị yêu thương thật sự. “Chị ngắt lời ông: "Anh yêu em đi!". Chị
quyết định tặng ông một bữa tiệc chia ly no xôi chán chè như bữa cơm người ta vẫn
thường cho tử tù ăn trước ngày ra trường bắn. Ông sững sờ vì hạnh phúc, cũng như
kẻ tử tù kia đang nằm mơ thấy cái cọc thì bỗng thấy trước mắt mình một con gà mái
quay, nghẹn ngào nhìn nhưng không ăn được. Ông cũng không ăn được. Ông đổ tội
cho tính đãng trí, bỏ quên chai rượu tắc kè ở nhà, chửi sự quản lý khách sạn xuống
cấp vì cái giường cứ kêu cót két, chửi rủa cả cái váy ngủ của chị, làm gì mà phải
dùng đến hai cửa ra vào làm ông lầm lẫn lung tung, sự xa xỉ điển hình của nền dân
chủ tư sản!”. Người đàn ông đầu tiên của chị mà tác giả miêu tả là ông Vị, một con
người có chức quyền, giúp chồng chị trong làm ăn và cuối cùng là người thõa mãn
dục vọng của chị . “Ông ấy giúp đỡ chồng chị đến nơi đến chốn nhưng không hề để
mắt đến chị, món mỡ nước miệng mèo. Đã có ai ở thành phố này dám coi chị như củ
khoai cơ chứ? Lòng tự ái nổi lên, chị tìm cách khám phá con người mẫu mực kia và


chị yêu ông ấy lúc nào không biết. Khi chị hiểu ra sự cao đạo của ông ấy là một cái
bẫy chinh phục nguy hiểm của những người có tuổi thì cũng là lúc chị chán ông ta”
Đàn ông đối với chị chỉ là công cụ giúp chị đạt được điều gì đó trong cuộc sống, dến
khi không còn được thỏa mãn thì chị sẵn sàn vứt bỏ và tìm cho mình một đối tượng

giờ đây anh lạnh băng. Cũng chẳng phải anh trinh bạch như gã chăn cừu của Đô-đê
nâng niu giấc ngủ của cô chủ trên vai mình. Chị cũng không phải là một vì sao lạc.


Chị phô bày cái bản năng dữ dội nhưng bao giờ cũng hồn nhiên của một người đàn
bà. Nhưng anh không thèm chị. Giá chị để cho anh bình tĩnh anh sẽ an ủi chị như một
người anh. Nhưng chị đã quýnh lên và cáu: "Trí thức chỉ là thế này thôi à? Trong
sách người ta không dạy anh ư?". Chị hạ mình trước anh, làm cả những điều chị
chưa hề làm với người khác. Nhưng anh chỉ rúm ró lại trong nỗi đau của một hàn sĩ.
Chị trần truồng đi ra cửa để về phòng mình, ném đại mảnh vải Thái Lan nhỏ xíu vào
mặt anh rồi rít lên trong cơn giông bão đàn bà: "Lại một con sứa nữa! Tôi còn căm
ghét anh hơn cả ba thằng kia!"”Chị sẵn sàng vứt bỏ lòng tự trọng của mình van xin
Hảo thỏa mãn chị và khi không đạt được mục đích chị chửi rủa, mạt xát trong cơn dục
vọng lên cao. Phụ nữ từ xưa đến nay trong chuyện thầm kín đều là người bị động,chỉ
biết cam chịu nhưng chị lại khác chị mang trong mình một ham muốn dữ dội nên luôn
tìm cách đạt được nó cho dù đối tương là ai. Chị tìm thấy sự đồng điệu kể cả với anh
đạp xích lô, phải chăng bản năng tính dục đã chi phối quá mạnh trong ý thức cũng
như hành động của chị? Những người không đáp ứng dục vọng của chị thì chỉ là
những con sứa bất lực, vô nghĩa trong trò chơi tình dục mà chị đã tạo ra. Cuối cùng
anh chàng xích lô trở thành người tình mới, người mà chị tìm thấy sự hoang lạc khi ở
bên cạnh vào mỗi đêm.“Một tháng sau, khi đã bình phục sau trận ốm, chị cho một
anh xích-lô gửi nhờ xe. Anh ta kể: nhà, vợ con anh bị cháy thành tro, hai tháng nay
anh ngủ trong xe ở sân ga, chân cầu. Bà Múi thầm thì với Hảo: "Cứ cách một đêm
hắn lại lên phòng ngủ của cô. Thằng khốn nạn!". “
Ngược lại, những người đàn ông đến với chị đều xuất phát từ nhu cầu sinh lý, ham
vẻ đẹp mở màng của chị chứ chẳng yêu thương gì. Ông vị tỏ ra là người bệ vệ, ông ta
đến với chị nhưng không phải là tình yêu mà chỉ để vui thú trong những ngày nghỉ và
ông ta luôn lo sợ mối quan hệ giữa hai người sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông ta.
“ Còn ông Vị thì tìm mọi cách để sử dụng đôi bàn tay vàng. Ông càu nhàu: "Tại sao
em lại không mặc bộ bi-ki-ni hai mảnh của Thái ấy?". Ông vẫn thường phàn nàn mốt

những ham muốn tình dục và cố gắng thỏa mãn bằng mọi cách. Chính sự cô đơn đã
đẩy nhân vật sống với bản năng nhiều hơn là lý trí mà tiêu biểu là nhân vật nữ chủ
nhà xinh đẹp. Theo Freuch :Libido ( xung năng tính dục): Năng lượng tình dục nằm
trong vùng vô thức của con người, là khát vọng ham muốn tình dục xuất phát từ bản
năng sinh tồn của Id. Freud coi vô thức là bể chưa các xung năng và trong đó xung
năng tính dục này đóng vai trò quan trọng nhất, cung cấp năng lượng cho mọi hoạt
động tâm thần. Đối với các nhân vật tình dục là điều không thể thiếu trong cuộc
sống, nó trở nên quá quan trọng đến mức đọc toàn bộ truyện ngắn ta gần như được
xem một cuốn phim về cuộc sống hoang lạc của con người. Vấn đề đáng nói ở đây là
con người tìm đến tình dục vì cô đơn nhưng sau mỗi lần thỏa mãn con người ta lại
càng cô đơn rồi lại tìm sự giải thoát trong tình dục. Cái vòng lẩn quẩn ấy cứ bám lấy
con người một cách dai dẳng không chịu buông tha. Theo các nhà khoa học, ngày nay
tình dục không chỉ đơn giản là phương thức duy trì nòi giống mà còn là một nhu cầu
văn hóa, một phần quan trọng không thể thiếu được để tạo nên cuộc sống hạnh phúc
của con người, là một bảo đảm chắc chắn cho hôn nhân và vững bền. Tuy nhiên
không phải bất kỳ loại tình dục nào cũng đem lại hạnh phúc cho con người, có những
loại tình dục làm cho con người đau khổ, dằn dặt, suy hoại về đạo đức, nhân cách và
suy đồi về nồi giống của con người, đó là tình dục sai lệch hay tình dục bất bình


thường, tình dục sa đọa và đồi bại. “Rồi chị nhìn xoáy vào mắt anh (anh khẽ rùng
mình) khuôn mặt lặng lẽ, buồn chán và sung mãn của chị bỗng bừng sáng”. Người
đàn bà với bản năng tình dục mạnh mẽ kia được tác giả miêu tả với cái vẻ buồn bã, cô
độc hiện rõ trên khuôn mặt. Người phụ nữ ấy trơ trọi trong cuộc sống hôn nhân của
chính mình khi phải sống vò vỏ một mình, cái mà chị nhận được ở chồng mình chỉ là
tiền cấp dưỡng. Với chị có lẽ anh không trở về nữa “Chị kể một cách buồn chán, mệt
mỏi; là người tiêu tiền, chị không có cái say mê của những con sói săn mồi. Chị là
con kền kền cái lười biếng rỉa xác một con voi”. Chính vì vậy mà chị lao vào những
cuộc tình chóng vánh nhằm tìm được thú vui trong cuộc sống và bớt đi cái cảm giác
cô độc lạnh lẽo trong cuộc sống vô nghĩa. Chị bám lấy tình dục như cái cọc gỗ khi bị

mặt khẳng định đất nước đã đổi thay theo đúng tinh thần nhân loại, mặt khác cũng
khẳng định ý thức tiếp nhận của công chúng Việt Nam là đúng đắn, là tiến bộ, là hợp
quy luật của tri thức loài người. Điều đáng nói là muốn tiếp nhận một quan niệm mới,
người tiếp nhận phải có một số những điều kiện. Phải là người có tầm nhìn xa thế nào,
phải có tâm hồn cởi mở phóng khoáng thế nào, phải có sự nhạy cảm với cái mới như
thế nào thì mới thấy ngay được cái hay, cái đặc sắc của luận thuyết phân tâm học.
Ở đây, tôi chỉ nói riêng về sự miêu tả cái tính dục trong truyện ngắn “vũ điệu của
cái bô” của Nguyễn Quang Thân như một minh chứng cho việc phân tâm học hiện
nay đã có tầm ảnh hưởng nhất định đối với văn học Việt Nam. Thông qua yếu tố bản


năng tính dục trong con người tác giả muốn lên án thói dâm ô và hành vi sống buông
thả của những người có tiền và có quyền; đồng thời, nói lên bi kịch của người trí
thức trong thời bao cấp rất đáng cảm thông và chia xẻ. Tác phẩm như một bức tranh
xã hội Việt Nam lúc bấy giờ với những con người cô đơn trong trò chơi xác thịt, nơi
tình yêu không thể thăng hoa. Tình yêu hoàn thiện nhất là ở đấy thân xác con người
cũng được thỏa mãn và tinh thần cũng được bình an và thăng hoa. Tình yêu đích thực
có cả sự tầm thường và sự cao đẹp. Thông thường, người ta mô tả tình dục, nhưng
đằng sau nó phải có một ý nghĩa xã hội, triết học hay ít nhất là để miêu tả một tính
cách nào đó hay là biểu hiện sự khát sống. Nhưng ở đây chỉ là những nổi đau,những
bi kịch và sự khát thèm tình dục đơn thuần. Có thể nói phân tâm học đã mang lại cho
tác phẩm một hương vị và màu sắc mới, gần hơn với hiền thực cuộc sống của mỗi
con người chúng ta. Vì mọi cách tiếp cận văn học trên thế giới, bất luận mới hay cũ,
hình thức hay nội dung đều đáng được lưu ý, miễn là góp phần làm sáng tỏ được các
hiện tượng của văn học Việt Nam, phát hiện được ít nhiều các khía cạnh mới đều là có
giá trị.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Thế Hà,(2014), “tiếp nhận cấu trúc văn chương”,NXB văn học,
2. Đỗ Lai Thúy,(2003), “phân tâm học và tình yêu” NXB văn hóa thông tin Hà Nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status