BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Vũ Lam
NGHIÊN CỨU TRUYỆN DÂN GIAN KHMER
NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN BỐI CẢNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Tp. Hồ Chí Minh, Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Vũ Lam
NGHIÊN CỨU TRUYỆN DÂN GIAN KHMER
NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN BỐI CẢNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 62.22.01.21
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1.TS. Hồ Quốc Hùng
2. PGS. TS. Phan Thị Thu Hiền
Tp. Hồ Chí Minh, Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận án này là công trình nghiên cứu thực
sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS Hồ Quốc Hùng và PGS. TS. Phan Thu Hiền.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày
trong luận án này là trung thực. Có một phần kết quả nghiên cứu
trong luận án này đã được công bố trong các bài báo khoa học của tôi,
còn lại các nội dung khác chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức
nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả
1.2. Nghiên cứu folklore trong bối cảnh – khuynh hướng mới ở phương
Tây. 44
1.2.1. Chuyển hướng trong định nghĩa về folklore 44
1.2.2. Sự đa dạng trong hướng tiếp cận bối cảnh trong nghiên cứu
folklore 50
1.2.3. Một cách hiểu về tiếp cận bối cảnh trong nghiên cứu Văn học dân
gian 58
1.3. Nghiên cứu truyện dân gian trong bối cảnh – những vấn đề về
phương pháp tiếp cận 68
1.3.1. Sự thay đổi trong thu thập và ghi chép tư liệu 68
1.3.2. Sự thay đổi trong nghiên cứu thể loại 72
1.3.3. Sự thay đổi trong cách kiến giải 76
Tiểu kết 81
Chương 2
KHÔNG GIAN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ VỀ TRUYỆN DÂN GIAN KHMER NAM BỘ 83
2.1. Không gian văn hoá tộc người Khmer Nam Bộ 83
2.1.1. Đặc trưng tộc người và đặc điểm cư trú 84
2.1.2. Nét riêng trong tín ngưỡng và phong tục 87
2.2. Những vấn đề về phân loại truyện dân gian Khmer Nam Bộ trong
nghiên cứu truyền thống 96
2.2.1. Phân loại theo đặc tính hình thức 96
2.2.2. Phân loại theo chức năng lí giải lễ hội 104
2.3. Một cách hiểu về thể loại truyện dân gian Khmer Nam Bộ dưới góc
nhìn bối cảnh 113
Tiểu kết 123
Chương 3
XÂY DỰNG CÁC CÔNG CỤ GHI NHẬN TRUYỆN DÂN
GIAN KHMER NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH 126
3.1. Kết cấu bối cảnh kể chuyện dân gian Khmer Nam Bộ 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO 207
I. Tiếng Việt 207
II. Tiếng nước ngoài 221
PHỤ LỤC225
1. Sự tích lễ vào năm mới (Chol Chnam Thmay) của người Khmer 226
2. Sự tích bông cau trong lễ cưới của dân tộc khmer 231
3. Bốn anh tài 235
4. Các câu chuyện xung quanh bàn rượu 243
5. Sự tích địa danh Chằng Ré 249
6. Những câu chuyện trong buổi thương thảo chuẩn bị đám cưới theo
truyền thống 252
7. Truyện kể trong lễ cúng trăng (Ooc om booc) 269
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
VHDG : Văn học dân gian
KHXH&NV : Khoa học xã hội và Nhân văn
KHTN : Khoa học tự nhiên
ĐBSCL : Đồng bằng Sông Cửu Long
Nxb. : Nhà xuất bản
xb. : xuất bản
tr. : trang
Tp. HCM : thành phố Hồ Chí Minh
HN. : Hà Nội
1
DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Nghiên cứu VHDG Việt Nam đã có bề dày lịch sử, nhất là sau năm
1945, và đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Trong đó nổi bật là những công
trình khảo sát thể loại văn học dân gian ở các vùng miền trong nước và các
công trình lí thuyết đi sâu vào tổ chức, cấu trúc thể loại. Đối với lĩnh vực
nghiên cứu truyện dân gian, có thể thấy những kết quả đạt được chủ yếu dựa
tương đối muộn nên việc nghiên cứu lí thuyết và vận dụng vào thực tế vẫn
còn chỗ bất cập. Vì vậy, nghiên cứu truyện kể dân gian Khmer trong bối cảnh
còn giúp cho giới khoa học có thêm những góc nhìn khác về đời sống của loại
hình này cũng như những ưu điểm và giá trị mà nó mang lại.
Người Khmer ở Nam Bộ đã cộng cư với người Việt trong nhiều thế kỉ
với những mối quan hệ tiếp biến tương hỗ về mặt văn hóa lẫn kinh tế. Nét đặc
thù văn hóa của người Khmer Nam Bộ là một môi trường có khả năng nuôi
dưỡng và cung cấp khí quyển cho VHDG tiếp tục phát triển. Trong văn hóa
của người Khmer, nhiều khía cạnh của môi trường sinh hoạt và lao động vẫn
còn tương thích và giúp các thể loại VHDG phát triển. Hay nói cách khác,
sinh hoạt văn hóa độc đáo đã giúp người Khmer lưu giữ một bầu không khí có
khả năng tồn tại và phát triển cho các loại hình văn hóa dân gian, trong đó có
VHDG. Vì vậy, nghiên cứu truyện dân gian Khmer Nam Bộ dưới góc nhìn
bối cảnh sẽ giúp cho việc nhìn nhận đúng bản chất của tác phẩm VHDG trong
quá trình hình thành và phát triển của nó. Để hiểu hơn về tộc người Khmer,
ngoài việc tìm hiểu các giá trị văn hóa qua di sản vật thể hữu hình thì việc tìm
3
hiểu các yếu tố phi vật thể có chức năng lí giải những sự kiện xã hội vốn có
cội rễ từ văn hóa là điều cần thiết. Từ đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về tâm
lí dân tộc Khmer và có những ứng xử phù hợp về văn hóa cũng như những
chính sách kinh tế.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Từ việc tiếp cận, phân tích, đối chiếu và hệ thống hóa các lí thuyết
nghiên cứu folklore trên thế giới cũng như sự vận dụng ở Việt Nam theo
hướng xem VHDG là một quá trình, luận án đề xuất một hướng nghiên cứu
truyện kể dân gian trong bối cảnh và thực nghiệm khảo sát trên nguồn truyện
dân gian Khmer Nam Bộ. Với cách làm này, luận án muốn góp phần khắc
phục những điểm “bất cập” của các hướng tiếp cận truyền thống, dựa trên văn
bản thuần túy. Sự bổ sung hướng tiếp cận này có tác dụng làm tăng thêm tính
khoa học cho truyền thống nghiên cứu VHDG ở nước ta.
bằng một cơ chế và phương pháp khác với văn học viết, được phổ biến bằng
một cách thức gắn liền với đời sống sinh hoạt và lao động, và được tồn tại
trong một hình thức có tính nguyên hợp nhiều yếu tố. Do đó VHDG vừa có
đặc tính nghệ thuật lẫn đặc tính xã hội rất đậm nét. Có những lúc, dựa trên
nguyên hợp, việc lí tưởng hóa các yếu tố bên ngoài văn bản được đẩy lên
thành những nhận định theo kiểu “nếu ví các diễn xướng phônclo như cá thì
môi trường sẽ là nước. Cá ra khỏi nước, cá chết” hay “loại trừ khâu diễn
xướng, tác phẩm VHDG chỉ còn là cái xác không hồn”,…. [dẫn theo 22,
tr.359]. Trên cơ sở tính nguyên hợp, các phương pháp như: hệ thống, tổng
hợp, nghiên cứu liên ngành, loại hình học trong VHDG … đều được xem như
những cách thức tiếp cận có hiệu quả. Tuy vậy, về cơ bản, tất cả các yếu tố
5
bên ngoài và bối cảnh văn hóa rộng lớn của VHDG vẫn không phải là đối
tượng nghiên cứu chính của VHDG, cái quan trọng vẫn là văn bản. Vì theo
Chu Xuân Diên:
Bởi vì xét bản chất của văn học dân gian, xét thành phần chủ
thể trong văn học dân gian thì cái hồn lại chính là ngôn từ dù nó
được bộc lộ ra bằng ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết. Và như vậy
thì việc nghiên cứu văn bản văn học của tác phẩm văn học dân
gian không phải là nghiên cứu cái xác không hồn mà chính là
nghiên cứu cái hồn tồn tại trong thể xác của nó [22, tr.316].
Luận điểm vừa nêu trở thành một nguyên tắc cơ bản cho khuynh
hướng nghiên cứu chính trong suốt thế kỉ XX ở Việt Nam.
Việc xem xét bối cảnh như một phần không tách rời việc thể hiện tác
phẩm VHDG, hoặc xem hành động kể một câu chuyện là một đối tượng
nghiên cứu thì chỉ mới bắt đầu vào những năm 60 của thế kỉ XX ở Hoa Kì và
các nước phương Tây. Ở Việt Nam, hướng tiếp cận này bắt đầu vào những
năm cuối của thế kỉ XX qua một số công trình giới thiệu lí thuyết. Theo thời
gian, những phác họa ban đầu của bức tranh nghiên cứu theo hướng này dần
dần hiện ra như sau.
văn học dân gian không chỉ đơn thuần là dựng lại “không khí sinh
động” để “tạo nên một cái duyên, cái phong cách” của nó, mà thực
chất là một vấn đề phương pháp luận có liên quan chặt chẽ với
những vấn đề phương pháp luận của nhiều phân ngành khoa học xã
hội và nhân văn khác như ngôn ngữ học xã hội, dân tộc học lời nói
(ethnography of speaking), …[22, tr.115, 116].
7
Năm 2005, với nỗ lực của nhiều nhà nghiên cứu, dịch thuật và học giả
nước ngoài, Viện nghiên cứu Văn hóa xuất bản hai quyển sách có tính “kinh
điển” về lí thuyết và phương pháp cho giới nghiên cứu folklore ở Việt Nam:
Folklore thế giới – những công trình nghiên cứu cơ bản và Folklore – một số
thuật ngữ đương đại do Ngô Đức Thịnh và Frank Proschan chủ biên. Trong
lời nói đầu của các quyển sách, tính kinh điển đã thể hiện khá rõ ràng trong sự
bộc bạch mong muốn cung cấp cho người đọc các bài viết về nghiên cứu
folklore thế giới ở hai chiều: quá khứ với những công trình đã in dấu thời gian
và đương đại với những công trình hứa hẹn cho tương lai.
… bao gồm các bài viết đã hình thành nên quá trình tiến triển
và phát triển folklore trong hai thế kỉ qua và những bài viết đại diện
cho những khuynh hướng nghiên cứu mới mẻ và hứa hẹn nhất mới
xuất hiện trong vài thập kỉ gần đây [105, tr.7].
Với các tiêu chí lựa chọn vừa khoa học vừa thực tiễn, hai quyển sách
đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn khái quát và cơ bản về bức tranh
nghiên cứu folklore trên thế giới. Vốn được tuyển chọn có giới hạn và có mục
tiêu rõ ràng, những lí thuyết và thuật ngữ trong đó không chỉ mang đến cho
độc giả sự hiểu biết hệ thống về những phương pháp truyền thống mà còn giới
thiệu một cách đa dạng những hướng đi mới, nhiều tiềm năng. Trong phần
thứ 4 và 5 của quyển Folklore thế giới – những công trình nghiên cứu cơ bản,
các nhà biên soạn đã giới thiệu 14 công trình có giá trị lí thuyết quan trọng,
trong đó tập trung nhiều vào hướng coi trọng thực tiễn, sự kiện diễn xướng,
giao tiếp nghệ thuật, và tính quá trình của folklore. Những bài viết ấy đã
9
học cấu trúc làm nền tảng và phương pháp so sánh làm bệ đỡ, tác giả không
những chỉ ra những ưu điểm và tính chất quốc tế của hướng tiếp cận cấu trúc
và thi pháp học mà còn cho thấy rõ những nhược điểm của hướng nghiên cứu
type và motif qua các tập tra cứu đồ sộ trên toàn thế giới. Để khắc phục
những nhược điểm đó, theo tác giả, hướng tiếp cận diễn xướng là một phương
cách thay thế có tính thực tiễn và nhiều triển vọng.
Năm 2011, trong bài viết Nghiên cứu VHDG và vấn đề văn bản [56],
Hồ Quốc Hùng, trên cơ sở nhận xét về những hạn chế của việc văn bản hoá
tác phẩm VHDG ở Việt Nam, đã đề xuất một góc nhìn "cần phải xem tác
phẩm VHDG dưới góc độ hành động ngôn từ chứ không chỉ dừng lại ở quan
niệm yếu tố ngôn ngữ thuần tuý trong văn bản". Bài viết tuy không nói rõ về
định hướng nghiên cứu theo bối cảnh và môi trường diễn xướng nhưng cách
đặt vấn đề lại tiếp cận với hướng nghiên cứu theo góc độ hành động ngôn từ -
một định hướng của việc nghiên cứu mà chúng tôi vừa dẫn ở trên. Theo đó,
hành động ngôn từ là loại hành động nặng về tính biểu diễn và tác động.
Cần phải xác định lại rằng văn bản VHDG là sự chuyển thể từ
diễn ngôn sang văn bản. Cho nên một diễn ngôn chỉ tương đương
với một trạng thái hành ngôn. Diễn ngôn VHDG chỉ là trạng thái
hành động ngôn từ cụ thể của cá nhân hình thành từ tương tác với
cộng đồng [56, tr.44].
Nhận định này tiệm cận với lí thuyết hành động ngôn từ trong nghiên
cứu văn học của J.L.Austin [6, tr.32], một trong những nền tảng quan trọng
của ngữ dụng học và là cơ sở có tính nền tảng cho hướng tiếp cận bối cảnh
trong nghiên cứu VHDG.
Đi theo một hướng gần với nghiên cứu bối cảnh, Tăng Tấn Lộc trong
công trình viết về đồng dao Vĩnh Long có một phần tiếp cận diễn xướng đồng
10
dao trong đời sống sinh hoạt. Theo tác giả, khái niệm “diễn xướng” vừa là
một loại hình nghệ thuật nguyên hợp của folklore vừa là một quá trình của đời
nghiên cứu tục ngữ trong văn học. Đối tượng chính của luận văn là những câu
tục ngữ trong tác phẩm văn học viết. Cách sử dụng của tục ngữ trong những
hoàn cảnh mà nhà văn miêu tả, cách tiếp nhận hay diễn giải ý nghĩa của
chúng mà nhân vật thể hiện và những cơ chế nào để một tục ngữ được sử
dụng như hành vi giao tiếp trong tác phẩm … là những vấn đề cốt yếu mà tác
giả quan tâm. Tác giả luận văn đã đưa ra những thao tác, những kĩ thuật thực
hiện theo hướng nghiên cứu mới. Theo đó, cơ cấu của mỗi loại bối cảnh sẽ
mang đến cho tục ngữ cách thức sử dụng, cách hiểu của những người tham
gia và tác động của nó trong diễn biến nhận thức của nhân vật, góp phần cho
người đọc hiểu thêm về đặc điểm tính cách của nhân vật trong tác phẩm. Bối
cảnh mà luận văn xem xét là những hoàn cảnh sử dụng của tục ngữ trong tác
phẩm văn học, đều là giả định, nghĩa là bối cảnh được mô phỏng từ đời sống,
được người viết tái hiện trong tác phẩm chứ chưa phải là bối cảnh thực tế.
Mặc dù vậy, luận văn đã có sự thể nghiệm bước đầu đối hướng tiếp cận mới
khá thành công, nó cung cấp những góc nhìn mới về ý nghĩa, cách sử dụng,
cơ chế sử dụng tục ngữ trong mối quan hệ giới tính, tuổi tác, … Và hơn hết,
nó gợi mở ý tưởng cho nhiều công trình khoa học khác.
Những công trình vừa nêu tuy còn khái quát nhưng đã cho thấy một
cách rõ ràng về tình trạng thưa thớt của việc nghiên cứu VHDG trong bối
cảnh ở Việt Nam. Hướng đi này đến nay cơ bản vẫn dừng lại ở mức độ giới
thiệu lí thuyết, còn sự vận dụng vào thực tế chỉ mới xuất hiện ở một số luận
án, luận văn với phạm vi chưa rộng. Điều đó cũng gián tiếp thừa nhận rằng,
dù nghiên cứu bối cảnh đã manh nha từ sớm, nhưng đến nay tiếp cận văn bản
12
ở Việt Nam vẫn là hướng chủ yếu trong nghiên cứu VHDG, nó cần nhiều sự
đầu tư hơn nữa để chuyển hướng. Song song đó, những khảo sát mang tính
tổng quan nêu trên còn cho thấy một nguyên lí: những vấn đề lí thuyết mới có
thể thay đổi cách nhìn đối tượng và có khả năng tạo ra những giá trị mới.
Nhưng không phải vì vậy mà phủ nhận thành tựu từ những khuynh hướng đi
trước. Ngược lại, nó nhằm bổ sung hoàn thiện hơn quy trình nghiên cứu hiện
trong suốt 300 trang sách viết về vốn văn hóa vùng đất Nam Bộ do Viện Văn
hóa thực hiện, VHDG Khmer chỉ được trình bày trong khoảng 01 trang giấy
[128, tr.256], điều đó cũng đủ thấy vị trí của nền văn học này trong tổng thể
văn hóa vùng được tìm hiểu giản đơn đến mức nào. Thậm chí trong quyển
sách gần đây nhất -Văn hóa Khmer Nam Bộ - nét đẹp trong bản sắc văn hóa
Việt Nam [40] - các tác giả đã không dành bất cứ phần nào nói về VHDG của
người Khmer.
Thứ hai, một số công trình nghiên cứu sâu vào các lĩnh vực cụ thể của
đời sống văn hóa (nhân chủng, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, …) với mục
đích là có cái nhìn rõ ràng và chi tiết hơn về các khía cạnh văn hóa để làm cơ
sở đề xuất các chủ trương an sinh xã hội phù hợp. Thuộc nhóm này có các tài
liệu: Người Việt gốc Miên [60], Phum sóc Khmer ở đồng bằng Sông Cửu
Long [11], Vài nét về người Khmer Nam Bộ [19], Vấn đề dân tộc ở Đồng
bằng Sông Cửu Long [31], … Trong những công trình này, dù dưới nhiều
mục đích khác nhau, các câu chuyện dân gian Khmer vẫn xuất hiện với tư
cách là những luận cứ giải thích cho các vấn đề thuộc về văn hóa hay dân tộc
học. Truyện dân gian, dưới dạng này hay dạng khác, là minh chứng và giải
thích cho nhiều nét sinh hoạt văn hóa và phong tục tập quán của người
14
Khmer. Chẳng hạn trong phần viết về lễ hội của người Khmer, các nhà nghiên
cứu cho rằng lễ hội thường gắn với truyền thuyết đậm chất Phật giáo, “dù
ngày nay truyền thuyết trở nên không còn quan trọng” [76, tr.74] nhưng lễ tiết
thì vẫn bắt buộc phải diễn ra. Điều này có nghĩa là yếu tố tinh thần của lễ hội
vốn nằm trong truyền thuyết dân gian có thể bị lược bỏ hoặc xem nhẹ vì nó
không đóng vai trò chính. Tương tự như vậy, ở một số lễ hội khác, truyền
thuyết là công cụ tinh thần để lí giải chứ không phải là yếu tố chính để người
ta trao lại cho đời sau. Những luận điểm khoa học của các công trình đó là
những gợi ý cho luận án này về mặt đối chiếu, so sánh với những gì diễn ra
trong thực tiễn.
3.2.2. Các công trình về VHDG.
được duy trì triệt để: một số truyện được miêu tả kĩ, một số truyện khác thì
đơn giản. Từ cách nghiên cứu của Lê Hương, việc xem xét truyện dân gian
với chức năng của nó trong hoàn cảnh cụ thể đã được lưu ý từ sớm nhưng
chưa thành hệ thống và chưa có nhiều thao tác thực hiện.
Trong lời giới thiệu cho cuốn Truyện cổ Khơ me Nam Bộ, tác giả
Huỳnh Ngọc Trảng đánh giá:
Trước cách mạng tháng Tám 1945, những tập sách hay bài
nghiên cứu về đồng bào Khơ me Nam Bộ có đề cập đến các mặt
lịch sử, văn hóa, khảo cổ học, dân tộc học, … nhưng phần thực sự
gọi là VHDG thì chưa có gì đáng kể ngoài việc đưa ra một số
truyền thuyết còn hạn hẹp…Dưới thời thống trị của chủ nghĩa thực
dân mới, vấn đề sưu tầm và nghiên cứu VHDG Khơ me Nam Bộ
16
cũng không được chú ý. Rải rác đây đó, trên các tạp chí xuất bản ở
Sài Gòn, người ta thỉnh thoảng bắt gặp đôi chuyện kể Khơ me Nam
Bộ được giới thiệu một cách tình cờ, tùy tiện [114, tr.3].
Nhận định trên cho thấy nửa đầu thế kỉ XX về trước, việc nghiên cứu
VHDG Khmer Nam Bộ ít được tập trung đầu tư và các hướng nghiên cứu
thường tập trung vào các tư liệu đã được văn bản hoá ít chú trọng điền dã,
hoặc chưa để ý nhiều đến việc nghiên cứu VHDG mà nặng về văn hóa lịch
sử.
Sau khi đất nước thống nhất, công tác sưu tầm và tập hợp các nguồn
truyện dân gian Khmer mới thực sự phát triển theo hướng folklore tư liệu, tức
là dựa trên những văn bản ghi lại lời nói, lời kể của những cuộc điền dã. Phần
lớn các văn bản có ghi tên, tuổi, địa điểm cư trú của người cung cấp nhưng
không mô tả hoàn cảnh diễn xướng. Cụ thể, nhà văn Anh Động [30] sưu tầm
và giới thiệu 08 truyện; Huỳnh Ngọc Trảng với tuyển tập Truyện dân gian
Khơ Me Nam Bộ (2 tập) [114] đã đặt những cơ sở cho việc nghiên cứu
VHDG Khmer sau này. Với 124 truyện kể các loại và một bài viết giới thiệu
khái quát đặc điểm truyện dân gian Khmer, tuyển tập là sự tổng hợp từ kết
về nguồn VHDG Khmer Nam Bộ.
Liên quan đến nhóm các tài liệu xuất bản còn có nhóm công trình ở
dạng tuyển tập, tổng tập VHDG như Hợp tuyển thơ văn Việt Nam - Văn học
dân tộc ít người [12]; Ngụ ngôn các dân tộc thiểu số Việt Nam [39]; Tuyển
tập Văn học dân gian Việt Nam (tập 3) [133]; Tổng tập văn học các dân tộc
thiểu số Việt Nam [132] … Do tính chất “tuyển” và “tổng” của các công trình
dạng này nên cách tiếp cận chủ yếu của các tác giả là tập hợp từ nhiều tài liệu
đã xuất bản và một số tài liệu sưu tầm. Với mục đích phân loại và lưu trữ,