MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kỷ luật là thuộc tính của mọi tổ chức, là sợi dây liên kết tất cả các
thành viên trong tổ chức với nhau, bảo đảm cho mọi hoạt động của tổ chức
được chặt chẽ, thống nhất. Kỷ luật là điều kiện cơ bản cho các tổ chức vững
mạnh, hoàn thành nhiệm vụ và phát triển. QĐND Việt Nam là quân đội cách
mạng; kỷ luật là một yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng tổng hợp, là cơ sở
của khả năng chiến đấu, trình độ SSCĐ, sức mạnh chiến đấu và là một trong
những yếu tố quan trọng bảo đảm cho quân đội hoàn thành nhiệm vụ. Trước
yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại, đòi hỏi ngày càng cao đối với việc chấp hành kỷ luật. Trong khi đó quân
đội nói chung và các đơn vị cơ sở nói riêng, thực trạng tình hình chấp hành kỷ
luật hiện nay bên cạnh những ưu điểm, chuyển biến tích cực, vẫn còn không ít
những hạn chế khuyết điểm, ảnh hưởng không nhỏ đến bản chất truyền thống
và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Do vậy GD, RLKL trở thành vấn đề vừa
cơ bản, thường xuyên vừa mang tính cấp thiết hiện nay.
Nhận thức rõ vai trò tầm quan trọng của công tác GD, RLKL. Thời
gian qua, cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp trong các TĐBB ở
BĐCL đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức duy trì nghiêm túc, chặt chẽ
các hoạt động giáo dục, rèn luyện bộ đội và giữ nghiêm kỷ luật, quy định của
đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao, nhất là đối với các
nhiệm vụ khó khăn phức tạp, nguy cơ mất an toàn cao. Mặt khác thực tiễn
hiện nay đang đặt ra những vấn đề và yêu cầu mới cao hơn đối với công tác
GD, RLKL của các TĐBB ở BĐCL.
Tiến hành CTĐ, CTCT trong GD, RLKL là hoạt động có vai trò rất quan
trọng, nhằm củng cố, nâng cao kiến thức, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác
chấp hành kỷ luật của mọi quân nhân. Qua đó làm cho kỷ luật luôn được giữ vững
và chấp hành một cách tự giác, nghiêm minh, tạo sự thống nhất trong nhận thức
114
* Sách tham khảo liên quan đến luận văn
Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Bồi dưỡng năng lực công
Công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên ở các đơn vị huấn
luyện chiến đấu trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Nxb QĐND, Hà
Nội, năm 2006. Cuốn sách làm rõ đặc điểm, vai trò của đội ngũ chính trị viên ở
các đơn vị huấn luyện chiến đấu trong QĐND Việt Nam. Trên cơ sở phân tích,
dự báo những yếu tố tác động đến năng lực tiến hành CTĐ, CTCT và thực trạng
năng lực CTĐ, CTCT của đội ngũ chính trị viên ở các đơn vị cơ sở, cuốn sách đã
đề xuất những giải pháp cơ bản bồi dưỡng năng lực CTĐ, CTCT nhất là trong
nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của đội ngũ của chính trị viên ở các đơn vị huấn
luyện chiến đấu trong Quân đội giai đoạn hiện nay.
Tổng cục Chính trị, Công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện
chiến đấu của đơn vị cơ sở bộ đội Hải quân, Nxb QĐND, Hà Nội, năm 2009.
Cuốn sách đã đề cập đến những đặc điểm, yêu cầu, nội dung, biện pháp tiến hành
CTĐ, CTCT trong huấn luyện chiến đấu và hoạt động của của Chính uỷ - Bí thư
đảng uỷ ở các đơn vị cơ sở bộ đội Hải quân trong huấn luyện chiến đấu.
* Các luận án, luận văn nghiên cứu về bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện kỷ luật
Lê Văn Làm, Bồi dưỡng rèn luyện ý thức kỷ luật quân sự của học viên
đào tạo sĩ quan ở các nhà trường quân đội hiện nay, Luận án Tiến sĩ Chính trị
học, Học viện Chính trị quân sự, năm 2006. Luận án đã phân tích làm rõ
những vấn đề cơ bản về ý thức kỷ luật quân sự và bồi dưỡng rèn luyện ý thức
kỷ luật quân sự của học viên đào tạo sĩ quan ở các nhà trường quân đội,
những đặc điểm cơ bản của học viên đào tạo sĩ quan, đưa ra những quan niệm
về kỷ luật quân sự và bồi dưỡng rèn luyện ý thức kỷ luật quân sự của học viên
đào tạo sĩ quan. Đề xuất các giải pháp bồi dưỡng rèn luyện ý thức kỷ luật
quân sự của học viên đào tạo sĩ quan ở các nhà trường quân đội.
Nguyễn Xuân Quang, Công tác giáo dục, rèn luyện kỷ luật cho đảng
viên là học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay, Luận văn Thạc sĩ xây
116
117
* Các luận văn nghiên cứu về công tác đảng, công tác chính trị và chất
lượng công tác đảng, công tác chính trị trong giáo dục, rèn luyện kỷ luật
Nguyễn Kim Cường, Công tác đảng, công tác chính trị trong rèn luyện
kỷ luật cho học viên hoàn thiện cán bộ cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Lục
quân 2, Luận văn Thạc sĩ xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quân sự, Hà
Nội, năm 2005. Tác giả đã tập trung nghiên cứu về CTĐ, CTCT trong rèn
luyện kỷ luật của học viên hoàn thiện chỉ huy cấp phân đội ở trường Sĩ quan
Lục quân 2 hiện nay. Luận văn đã luận giải những vấn đề cơ bản về đối
tượng, đặc điểm của học viên; đánh giá đúng thực trạng, nguyên nhân và đề ra
giải pháp CTĐ, CTCT trong rèn luyện kỷ luật của học viên hoàn thiện chỉ huy
cấp phân đội ở trường Sĩ quan Lục quân 2 hiện nay.
Nguyễn Danh Lưu, Công tác đảng, công tác chính trị trong tăng cường
kỷ luật quân đội ở các trung, lữ đoàn thuộc Binh chủng Công binh hiện nay,
Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội, năm 2010.
Luận văn đã đưa ra những vấn đề kỷ luật và tăng cường kỷ luật quân đội đồng
thời luận giải rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn CTĐ, CTCT trong tăng
cường kỷ luật quân đội ở các trung, lữ đoàn thuộc Binh chủng Công binh.
Lê Văn Lân, Công tác đảng, công tác chính trị duy trì chấp hành kỷ luật
ở các Tiểu đoàn học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩ quan
Tăng Thiết giáp, Luận văn Thạc sĩ xây dựng Đảng, Học viện Chính trị, Hà
Nội, năm 2011. Luận văn đã luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về
CTĐ, CTCT, đồng thời, luận văn đã xác định những giải pháp tăng cường
CTĐ, CTCT trong duy trì chấp hành kỷ luật ở các Tiểu đoàn học viên đào tạo
sĩ quan cấp phân đội Trường Sĩ quan Tăng Thiết giáp hiện nay.
Phan Văn Tạo , Chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong quản
lý kỷ luật ở các tiểu đoàn học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội Học
viện Phòng không - Không quân hiện nay, Luận văn Thạc sĩ xây dựng Đảng,
những vấn đề cơ bản về kỷ luật quân sự và chỉ ra biện pháp công tác giáo dục, bồi
dưỡng rèn luyện ý thức kỷ luật quân sự cho các đối tượng của các đơn vị trong quân
119
đội; Nguyễn Khắc Ngọ, “Công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện ở Binh
đoàn Cửu Long”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 10/2015. Đỗ Xuân Tụng, “Sư
đoàn 316 nâng cao hiệu quả Công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện”,
Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 02/2015.
Hai tác giả đã làm rõ những vấn đề cơ bản CTĐ, CTCT trong huấn luyện nói
chung và sự vận dụng sáng tạo cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện của
các đơn vị và đối tượng huấn luyện, góp phần nâng cao cao chất lượng huấn luyện,
SSCĐ, xây dựng đơn vị VMTD.
Những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên rất gần với hướng nghiên cứu của
luận văn, đó là hệ thống tài liệu tham khảo có giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Tuy
nhiên, chưa có công trình khoa học, luận án, luận văn nào nghiên cứu một cách cơ
bản, toàn diện và hệ thống về Chất lượng CTĐ, CTCT trong GD, RLKL của các
TĐBB đủ quân ở BĐCL hiện nay. Do đó, đề tài: “Chất lượng công tác đảng, công
tác chính trị trong giáo dục rèn luyện kỷ luật của các trung đoàn bộ binh ở Binh
đoàn Cửu Long hiện nay ” mà tác giả lựa chọn nghiên cứu không trùng lặp với bất
kỳ công trình khoa học nào đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn chất lượng
CTĐ, CTCT trong GD, RLKL; đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng
CTĐ, CTCT trong GD, RLKL của các TĐBB ở BĐCL hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về chất lượng CTĐ, CTCT trong
GD, RLKL của các TĐBB ở BĐCL.
Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm
các cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị tham khảo, vận dụng vào
nâng cao chất lượng hoạt động CTĐ, CTCT trong GD, RLKL của các TĐBB ở
BĐCL và các TĐBB trong toàn quân.
121
Luận văn có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy, học tập môn CTĐ, CTCT ở các nhà trường quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
122
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ
TRONG GIÁO DỤC, RÈN LUYỆN KỶ LUẬT CỦA CÁC
TRUNG ĐOÀN BỘ BINH Ở BINH ĐOÀN CỬU LONG
1.1. Giáo dục, rèn luyện kỷ luật và những vấn đề cơ bản về chất lượng
công tác đảng, công tác chính trị trong giáo dục, rèn luyện kỷ luật của các
trung đoàn bộ binh ở Binh đoàn Cửu Long
1.1.1. Các trung đoàn bộ binh và giáo dục, rèn luyện kỷ luật của các
trung đoàn bộ binh ở Binh đoàn Cửu Long
* Khái quoát về các trung đoàn bộ binh đủ quân ở Binh đoàn Cửu Long
Binh đoàn Cửu Long (Quân đoàn 4) được thành lập ngày 20 tháng 7
năm 1974 tại căn cứ suối Bà Chiêm, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh
(nay là xã Tân Thành, huyên Tân Châu, tỉnh Tây Ninh), hiện nay đang đóng
dân” và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Trung đoàn bộ binh 3 - Đoàn Hoa Lư được thành lập ngày 23 tháng 9
năm 1965 tại tại xã Lam Kinh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, hiện nay
đóng quân tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Trải qua hơn 50 năm xây
dựng, chiến đấu và trưởng thành, Trung đoàn luôn xây dựng được tinh thần
đoàn kết, hiệp đồng lập công tập thể, ý thức sáng tạo, khắc phục khó khăn để
hoàn thành tốt nhiệm vụ, với những chiến công hiển hách kết tinh thành
truyền thống “Đoàn kết, anh dũng, tự lực, tự cường, đi là chiến thắng, đánh là
diệt gọn”. Trung đoàn vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng 01 lần danh
hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” và nhiều phần thưởng
cao quý khác.
Trung đoàn bộ binh 31, được thành lập ngày 22 tháng 01 năm 1946, tại
Ninh Giang – Hải Dương, hiện nay đóng quân tai Long Thành, Đồng Nai.
Trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Trung đoàn vinh
dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ “Trung đoàn quyết thắng” năm 1948;
Trung đoàn “dũng cảm đánh hăng” năm 1952.
124
* Biên chế, cơ cấu, tổ chức của các trung đoàn bộ binh đủ quân
Trung đoàn bộ binh biên chế gồm: Ban chỉ huy, 4 cơ quan trung đoàn, 3 tiểu
đoàn bộ binh, 7 đại đội trực thuộc và trung đội vệ binh.
Đảng bộ các trung đoàn là đảng bộ cơ sở ba cấp, bao gồm: đảng bộ cơ sở
trung đoàn, đảng bộ bộ phận ở các tiểu đoàn và chi bộ ở các đại đội, cơ quan trung
đoàn. Nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đảng ủy các trung đoàn có số lượng là 15 ủy viên.
Ban Thường vụ có số lượng là 5 ủy viên, đồng chí chính ủy trung đoàn là bí thư,
đồng chí trung đoàn trưởng là phó bí thư đảng ủy. Đảng ủy các trung đoàn, thành
phần cơ bản là chỉ huy trung đoàn, thủ trưởng các cơ quan, phó chủ nhiệm ủy ban
kiểm tra đảng ủy trung đoàn; chính trị viên hoặc tiểu đoàn trưởng 3 tiểu đoàn.
Ngoài ra trung đoàn còn có tổ chức Đoàn thanh niên và Hội đồng quân nhân
và tập thể. VI. Lênin khẳng định: "Trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù ấy, thì
kỷ luật quân sự và cảnh giác quân sự cần phải đề cao tột độ. Để mất thời cơ
hoặc sa vào tâm trạng hoang mang là hỏng hết”. [1, tr.64]
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng, do Đảng Cộng sản
Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện.
Trong quá trình xây dựng quân đội, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
quan tâm GD, RLKL. Người khẳng định: “Kỷ luật là sức mạnh của quân
đội’’[37, tr.306]. Người cũng chỉ rõ: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo,
nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”[35, tr.560]. Kỷ luật quân đội đòi
hỏi mọi quân nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt và chính xác mọi quy định của
pháp luật nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội, chỉ thị,
mệnh lệnh của cấp trên, nhằm bảo đảm cho mọi hoạt động của quân đội trên
mọi lĩnh vực đều được quản lý, chỉ huy tập trung thống nhất, có hiệu quả,
phát huy được trí tuệ và sức mạnh của tổ chức quân đội.
Do vậy, kỷ luật quân đội là toàn bộ những quy định của pháp luật, điều lệnh,
điều lệ, chế độ quy định của quân đội bắt buộc mọi quân nhân phải triệt để chấp hành,
nhằm tạo ra sự thống nhất cao trong ý chí và hành động, bảo đảm cho quân đội phát
huy được sức mạnh, hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
126
Thực tiễn quá trình xây dựng quân đội, kỷ luật đã trở thành một trong
những yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp, là một nguyên tắc trong xây dựng
và tác chiến của quân đội, là vấn đề thuộc phẩm chất đạo đức cách mạng của
mỗi CB, CS và là nhu cầu tất yếu của mọi quân nhân. Mặt khác, nhờ có sự
giác ngộ sâu sắc đường lối chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, có kỷ
luật chặt chẽ, tự giác và nghiêm minh mà Quân đội ta nhiệm vụ nào cũng
hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Kỷ luật của Quân đội ta vừa là sự bắt buộc của tập thể, phản ánh ý chí
nguyện vọng của tập thể, phù hợp với lợi ích của tập thể, vừa là sự tôn trọng
với gia đình, sinh hoạt ở nơi dân cư hay nơi công cộng, CB, CS phải tuyệt đối
chấp hành các quy định của địa phương.
Quan niệm về giáo dục, rèn luyện kỷ luật của các trung đoàn bộ binh
Theo từ điển tiếng Việt: “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách
có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm
cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất, năng lực như yêu cầu đề
ra” [71, tr.379]. Còn :“Rèn luyện là luyện tập một cách thường xuyên để đạt tới
những phẩm chất hay trình độ ở một mức độ nào đó” [71, tr.789]. Rèn luyện có
tác dụng biến nhận thức thành hành động, làm cho ý thức chấp hành kỷ luật
nghiêm túc trở thành thói quen như một nhu cầu của mỗi CB, CS.
Như vậy, giáo dục và rèn luyện luôn có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ
với nhau, có tác động qua lại lẫn nhau. Rèn luyện có hiệu quả, đạt chất lượng
cao phải trên cơ sở giáo dục tốt và ngược lại giáo dục đạt được trình độ sâu
sắc phải thông qua rèn luyện.
Giáo dục, rèn luyện kỷ luật của các trung đoàn là quá trình tác động có
mục đích, có tổ chức theo một hệ thống chặt chẽ, thường xuyên của cấp ủy,
chỉ huy, cơ quan, đơn vị nhằm làm cho CB, CS luôn có bản lĩnh chính trị
vững vàng, có ý thức tổ chức kỷ luật và chấp hành nghiêm kỷ luật trong học
tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị.
128
Như vậy, từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: Giáo dục, rèn luyện kỷ
luật của các TĐBB ở BĐCL là một nhiệm vụ quan trọng của quá trình thực
hiện nhiệm vụ của đơn vị, là hoạt động có mục đích, có tổ chức của lãnh đạo,
chỉ huy, đội ngũ cán bộ, cơ quan chức năng cũng như sự nỗ lực tự giáo dục,
rèn luyện của CB, CS nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về kỷ luật, xây dựng
tình cảm, củng cố niềm tin, nâng cao ý chí quyết tâm, hình thành thói quen tự
giác chấp hành nghiêm kỷ luật của CB, CS, góp phần xây dựng trung đoàn
VMTD, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ nhiệm vụ được giao.
Giáo dục những thuận lợi, khó khăn trong chấp hành kỷ luật. Chống
mọi biểu hiện tự do tùy tiện, độc đoán, quan liêu, quân phiệt...
Hình thức, biện pháp GD, RLKL
Giáo dục thông qua sinh hoạt chính trị, thông qua quản lý hoạt động
thực tiễn của bộ đội.
Thông qua biện pháp tư tưởng, giáo dục thuyết phục kết hợp với hành
chính cưỡng bức; thông qua thi đua khen thưởng, xử phạt nghiêm minh.
Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác chính sách.
Thông qua hoạt động của tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, Đoàn thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội đồng quân nhân để GD, RLKL cho CB, CS.: Đây là
hình thức, biện pháp cơ bản, quan trọng. CB,CS ở trung đoàn vừa phải tham gia
sinh hoạt chịu sự GD, RLKL của chỉ huy các cấp, vừa phải tham gia sinh hoạt,
chịu sự giáo dục, rèn luyện của tổ chức đoàn, hội đồng quân nhân. Nếu CB, CS
là đảng viên thì phải tham gia sinh hoạt ở chi bộ, đảng bộ. Do vậy, phải thông
qua hoạt động của các tổ chức đó để GD, RLKL cho CB, CS.
Biện pháp
Kết hợp giáo dục chung với giáo dục riêng theo từng đối tượng; giáo dục
thường xuyên với giáo dục theo yêu cầu nhiệm vụ. Tập trung vào những nhiệm
vụ khó khăn vất vả, nguy cơ mất an toàn cao.
Thông qua quản lý, duy trì kỷ luật, thực hiện các chế độ nền nếp chính
quy, chế độ công tác, sinh hoạt và hoạt động thực tiễn hàng ngày ở đơn vị
130
theo yêu cầu của điều lệnh, điều lệ quân đội để GD, RLKL cho CB, CS.
Thông qua hình thức huấn luyện dưới sự điều hành, tổ chức của đội ngũ
cán bộ, giáo viên làm cho CB, CS nắm vững kiến thức cơ bản và kiến thức
liên quan đến GD, RLKL.
Thông qua hình thức tự học tập, tự rèn luyện kỷ luật của CB, CS: Người
học với tư cách là chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện kỷ luật thì
Cán bộ, chiến sĩ với tư cách là chủ thể chấp hành kỷ luật, xây dựng
chính quy, việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, chính xác điều lệnh, điều lệ
quân đội, mệnh lệnh của cấp trên. Vì thế GD, RLKL cho CB, CS nhằm làm
cho mọi hoạt động của họ luôn theo đúng kế hoạch, tác phong khoa học, có
mối quan hệ chặt chẽ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cá nhân với tổ chức…
luôn đúng mực, ứng xử có văn hóa sẽ tạo sự thống nhất cao cả về tư tưởng lẫn
hành động, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, đơn vị thực sự là một khối
thống nhất, tạo thành sức mạnh tổng hợp, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ
được giao, góp phần xây dựng trung đoàn vững mạnh.
Ba là, góp phần đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng vi phạm pháp
luật, kỷ luật, phòng ngừa ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức, lối sống, văn hóa
xấu độc, những tiêu cực ngoài xã hội và sự chống phá của các thế lực thù địch
Trong những năm gần đây, tệ nạn tiêu cực và sự xuống cấp đạo đức, lối
sống của một bộ phận CB, ĐV, thanh niên và sinh viên trong xã hội thực sự là
nguy cơ đáng báo động. Các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chống phá bằng
chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng nước ta. Trong đó, mục tiêu
quan trọng của chúng là làm xói mòn đạo đức, lối sống, làm tha hóa, hư hỏng
con người mà đối tượng chúng tập trung là thế hệ trẻ trong và ngoài quân đội.
Chúng lợi dụng mặt trái của cơ chế thị trường, kẽ hở của giao lưu, hội nhập, tận
dụng triệt để những tiêu cực xã hội để truyền bá những tư tưởng phản
động, lối sống thực dụng, tham lam, ích kỷ, đề cao đồng tiền, coi tiền là
thước đo giá trị đạo đức tinh thần xã hội. Mưu đồ đó nhằm làm mất
phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu lý tưởng cách mạng, tha hóa
đạo đức, lối sống đối với quân đội, nhân dân và thế hệ trẻ. Vì vậy, tiến
hành tốt các hoạt động GD, RLKL sẽ làm cho CB, CS ở trung đoàn
132
vững vàng về chính trị, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của
Đảng, có nhận thức đúng về kỷ luật và xây dựng nhu cầu chấp hành kỷ
Quan niệm trên chỉ ra:
Mục đích CTĐ, CTCT trong GD, RLKL: Nhằm nâng cao nhận thức,
ý thức tự giác, trình độ chấp hành kỷ luật của CB , CS; phát huy vai trò,
trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng và sức mạnh, hiệu lực của kỷ
luật; khắc phục những hạn chế, yếu kém trong thực hiện dân chủ, chấp
hành kỷ luật. Nhằm giữ nghiêm kỷ luật, góp phần nâng cao chất lượng
tổng hợp, trình độ SSCĐ của đơn vị, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được
giao.
Chủ thể tiến hành CTĐ, CTCT trong GD, RLKL ở các trung đoàn: là cấp ủy
tổ chức đảng các cấp là chủ thể lãnh đạo; cán bộ chính trị các cấp và cơ quan chính trị
trung đoàn là chủ thể tiến hành.
Lực lượng tiến hành CTĐ, CTCT trong GD, RLKL ở các trung đoàn: là
chính ủy, phó chính ủy, người chỉ huy, cơ quan chính trị trung đoàn; chính trị viên,
chính trị viên phó tiểu đoàn, đại đội, đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các trung đoàn.
Đối tượng tác động của CTĐ, CTCT trong GD, RLKL ở các trung
đoàn là: các tổ chức, các lực lượng, CB, CS trong các trung đoàn.
Nội dung tiến hành CTĐ, CTCT
Giáo dục cho mọi CB, CS thấy rõ mục đích, bản chất của kỷ luật, từ đó
xây dựng ý thức tự giác chấp hành hiến pháp, pháp luật của nhà nước, điều
lệnh, điều lệ quân đội, quy định của đơn vị.
Lãnh đạo, tổ chức động viên bộ đội chấp hành kỷ luật có nền nếp trong
mọi hoạt động của đơn vị.
Phát huy vai trò các tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, vai trò
xung kích của đoàn viên thanh nhiên trong GD, RLKL.
Kết hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp các cấp, các nghành trong
đơn vị và địa phương nơi đóng quân, hậu phương gia đình tham gia GD, RLKL.
Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo môi trường thuận lợi cho mọi
lực lượng chấp hành tốt kỷ luật.
Hình thức tiến hành CTĐ, CTCT
135
Trong đó, một bộ phận HSQ, BS của các TĐBB ở BĐCL có trình độ
văn hóa tương đối cao; thành phần xuất thân, nghề nghiệp trước khi nhập ngũ
đa dạng; nhiều đồng chí có mức sống cao và khá trải nghiệm trong đời sống
xã hội. Tỷ lệ HSQ, BS là con em của cán bộ viên chức Nhà nước khá cao.
Qua thống kê của Phòng Quân lực Binh đoàn từ năm 2012 đến 2017 cho thấy
hầu hết số HSQ, BS có tuổi đời rất trẻ, độ tuổi từ 18 đến 21 chiếm 78,48%.
100% HSQ, BS tuyển chọn có trình độ văn hoá từ phổ thông cơ sở trở lên,
trong đó có 73,4% đã tốt nghiệp phổ thông trung học; 5,99% có trình độ đại
học, cao đẳng; 73,9% có sức khoẻ loại 1. Về nghề nghiệp trước khi nhập ngũ
có 72,5% là học sinh và lao động tự do; 7,1% là công nhân ở các nhà máy, xí
nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; cá biệt có cả HSQ, BS xuất thân
là đảng viên, giáo viên, công chức Nhà nước. 100% HSQ, BS có phẩm chất
chính trị tốt, đủ điều kiện, tiêu chuẩn để nhập ngũ.
Hai là, công tác đảng, công tác chính trị trong GD, RLKL của các
TĐBB ở BĐCL được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình thực
hiện các nhiệm vụ và mọi hoạt động, sinh hoạt của đơn vị
Công tác GD, RLKL của các TĐBB ở BĐCL, được tiến hành thường
xuyên liên tục, cùng với một quá trình thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện,
SSCĐ, xây dựng nền nếp chính quy, công tác dân vận..đầy khó khăn, vất vả,
được tiến hành liên tục trong mọi điều kiện, thời tiết, cường độ lao động cao.
Do đó CTĐ, CTCT trong GD, RLKL của các TĐBB ở BĐCL cũng được tiến
có kế hoạch chặt chẽ, phải tiến hành đồng thời nhiều nhiệm vụ, hoạt động với
cường độ cao, liên tục từ quản lý nắm bắt, giải quyết tư tưởng, động viên bộ
đội, kiện toàn các tổ chức, bảo vệ chính trị nội bộ, giáo dục chính trị, tuyên
truyền, cổ động, thi đua khen thưởng trong thực hiện nhiệm vụ,...Đặc điểm
này đòi hỏi chủ thể và lực lượng tiến hành CTĐ, CTCT trong GD, RLKL của
các TĐBB ở BĐCL phải nghiên cứu nắm chắc đối tượng tác động, tiến hành
GD, RLKL ở các đơn vị, duy trì thực hiện tốt các chế độ nền nếp chính quy
137
trong sinh hoạt, học tập, công tác nhằm tạo thói quen chấp hành kỷ luật cho
CB, CS; đồng thời hạn chế được mức độ vi phạm kỷ luật của CB, CS
Phát huy dân chủ, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy cao
nhất quyền và nghĩa vụ của CB, CS trong quá trình GD, RLKL và tự giác chấp
hành kỷ luật, đấu tranh với những biểu hiện tự do vô kỷ luật, ngại học tập, ngại rèn
luyện, những hiện tượng vi phạm kỷ luật Quân đội, quy định của đơn vị.
Thông qua sinh hoạt, hoạt động của các tổ chức Đảng, Đoàn, tổ chức
chỉ huy và Hội đồng quân nhân để giáo dục, rèn luyện kỷ luật. Thông qua các
nội dung hoạt động: sinh hoạt chính trị, tuyên truyền cổ động, văn hóa văn
nghệ, thi đua, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, kiểm tra, sơ- tổng kết,
khen thưởng, xử phạt nghiêm minh trong đơn vị.
Kết hợp giữa giáo dục chung với giáo dục riêng, giữa tổ chức giáo dục
rèn luyện với tính tích cực, tự giác học tập rèn luyện của từng CB, CS.
Phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ quản lý,
các cấp, các ngành trong GD, RLKL.
Kết hợp chặt chẽ giữa đơn vị với địa phương nơi đóng quân, hậu
phương và gia đình CB, CS để GD, RLKL.
Hoạt động CTĐ, CTCT trong GD, RLKL của các trung đoàn phải
được tiến hành thường xuyên, liên tục; đi vào tất cả mọi lĩnh vực, mọi mặt
hoạt động của CB, CS, không để hoạt động nào của CB, CS tách rời hoạt
động CTĐ, CTCT, ở đâu có hoạt động của CB, CS ở đó có hoạt động CTĐ,
CTCT trong GD, RLKL.
* Những vấn đề có tính nguyên tắc tiến hành CTĐ, CTCT trong giáo
dục, rèn luyện kỷ luật của các trung đoàn bộ binh ở Binh đoàn Cửu Long
Thứ nhất, thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức