LUẬN văn THẠC sĩ nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ đào tạo sĩ quan dự bị ở trường quân sự quân khu 3 hiện nay - Pdf 52

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Sĩ quan dự bị là sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam phục vụ ở ngạch dự
bị, là lực lượng nòng cốt của lực lượng DBĐV. Xây dựng đội ngũ SQDB có số
lượng, cơ cấu phù hợp và chất lượng ngày càng cao là vấn đề có ý nghĩa chiến
lược đối với cách mạng nước ta; trực tiếp góp phần xây dựng xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng khu vực
phòng thủ vững chắc; là cơ sở để từng bước tinh giảm đội ngũ sĩ quan thường
trực và chuẩn bị tiềm lực quân sự cho đất nước sẵn sàng đáp ứng yêu cầu động
viên bổ sung cho lực lượng thường trực khi có chiến tranh xảy ra. Đào tạo
SQDB là một khâu đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng và huy động lực
lượng DBĐV. Đây là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên có ý nghĩa chiến lược, lâu
dài trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của Quân đội ta, trực tiếp góp
phần xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị
DBĐV đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống.
TQSQK3 là một trung tâm huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân
viên chuyên môn kỹ thuật, HSQ cho LLVT Quân khu 3; bồi dưỡng kiến thức
Quốc phòng và an ninh cho đối tượng 2 trên địa bàn Quân khu 3, là một trung
tâm giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên. Trong đó, đào tạo SQDB
là một nhiệm vụ xuyên suốt của Nhà trường, kết quả đào tạo SQDB những
năm qua đã góp phần không nhỏ vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự
của các đơn vị dự bị động viên trong LLVT địa phương thuộc Quân khu 3.
Chất lượng đào tạo SQDB ở TQSQK3 là tổng hợp kết quả của nhiều
yếu tố, trong đó CTĐ, CTCT trong đào tạo SQDB giữ vai trò hết sức quan
trọng. Tiến hành CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo SQDB ở TQSQK3 là
vấn đề có tính nguyên tắc nhằm: giữ vững định hướng chính trị; tăng cường
sự lãnh đạo của các cấp uỷ, tổ chức đảng; phát huy vai trò của các tổ chức,
các lực lượng tham gia vào quá trình đào tạo; giáo dục, xây dựng động cơ,
3




* Nhóm các công trình nghiên cứu về công tác đảng, công tác chính
trị trong giáo dục - đào tạo
Trịnh Phúc Thắng (2006), CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo hạ sĩ
quan của Trường Quân sự quân khu 2 hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học
chính trị, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội.
Trần Ngọc Đức (2008), CTĐ, CTCT trong huấn luyện kỹ, chiến thuật
cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩ quan công binh hiện
nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội.
Đào Văn Khá (2010), CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ giáo dục - đào tạo ở
Trường Sĩ quan chỉ huy kỹ thuật thông tin giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc
sĩ khoa học chính trị, HVCT, Hà Nội.
Nguyễn Anh Dũng (2013), Nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong
nhiệm vụ GD - ĐT ở Trường Trung cấp Kỹ thuật Tăng Thiết giáp hiện nay,
Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, HVCT, Hà Nội.
Tống Xuân Thu (2014), CTĐ, CTCT trong đào tạo chỉ huy trưởng
quân sự xã, phường, thị trấn ở các trường quân sự tỉnh, thành phố thuộc địa
bàn Quân khu 7 hiện nay, Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng và Chính quyền
Nhà nước, HVCT, Hà Nội.
Nguyễn Văn Phương (2017), Chất lượng CTĐ, CTCT trong đào tạo
cán bộ ngành quân sự cơ sở ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 hiện nay, Luận văn
thạc sĩ Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, HVCT, Hà Nội.
Những đề tài trên, thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau đã luận giải
và làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn CTĐ, CTCT trong
nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo cho học viên ở các học viện, nhà trường quân
đội; đưa ra các quan niệm CTĐ, CTCT, các tiêu chí; phân tích, đánh giá thực
trạng, chỉ ra nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn có
giá trị. Các đề tài cũng chỉ ra những yếu tố tác động ảnh hưởng đến chất
lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo;


6


CTĐ, CTCT trong từng nhiệm vụ. Các tác giả đã đi sâu phân tích, luận giải
làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu, diễn
tập chiến thuật, bồi dưỡng năng lực chỉ huy tham mưu và bảo quản, sử
dụng trang bị kỹ thuật ở các đơn vị và các trường sĩ quan trong Quân đội
nhân dân Việt Nam; đánh giá thực trạng ưu điểm và hạn chế chất lượng
CTĐ, CTCT trong từng nhiệm vụ; chỉ rõ nguyên nhân của ưu điểm, hạn
chế; rút ra những kinh nghiệm nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong các
nhiệm vụ. Trên cơ sở dự báo xu hướng phát triển, xác định phương hướng,
yêu cầu, các tác giả đã đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng
CTĐ, CTCT trong từng nhiệm vụ ở các đơn vị cơ sở, các trường sĩ quan
hiện nay và các năm tới.
* Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến
công tác đảng, công tác chính trị trong đào tạo, xây
dựng đội ngũ sĩ quan dự bị
Phan Viết Đô (2011), Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ
đào tạo sĩ quan dự bị ở Trường quân sự Quân khu1 hiện nay, Luận văn thạc sĩ
khoa học chính trị, HVCT, Hà Nội.
Nguyễn Ngọc Lê (2012), Xây dựng đội ngũ SQDB của Tỉnh Quảng
nam giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, HVCT, Hà Nội.
Nghiêm Khắc Tiệp (2016), Chất lượng xây dựng đội ngũ SQDB ở
Thành phố Hà Nội hiện nay, Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng và Chính quyền
Nhà nước, HVCT, Hà Nội.
Các đề tài trên đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của CTĐ,
CTCT, trong nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị.
Các tác giả đã phân tích, luận giải những vấn đề về lý luận và thực tiễn
nhiệm vụ đào tạo, xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị, đi sâu phân tích đặc điểm,

dựng vững mạnh toàn diện”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 5, tr.67-69.
Đoàn Thế Chiên (2016), “Trường Quân sự Quân khu 3 chú trọng xây
8


dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ”, Tạp chí Quốc phòng toàn
dân, số 4, tr.64.
Trần Minh Tuấn (2016), “Nâng cao chất lượng đào tạo từ xây dựng đội
ngũ cán bộ, giáo viên”, Báo Quân đội Nhân dân ngày 06/4/2016.
Đây là các bài viết có liên quan trực tiếp đến công tác GD - ĐT ở
Trường QSQK3. Trên cơ sở phân tích làm rõ những quan điểm đường lối của
Đảng về công tác GD - ĐT; chỉ thị, nhiệm vụ công tác nhà trường hằng năm
của Bộ Tổng Tham mưu, Tư lệnh Quân khu, nghị quyết của Đảng uỷ Nhà
trường và chỉ thị hướng dẫn của các cơ quan chức năng, các bài viết đã chỉ ra
những đặc điểm chi phối tới công tác GD - ĐT của nhà trường. Đồng thời làm
rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới phương pháp giảng dạy và công
tác, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng GD - ĐT. Song, các bài viết
chưa đi sâu nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng của đội ngũ cán bộ, giáo
viên và những nguyên nhân còn tồn tại, đồng thời chưa xác định được bộ giải
pháp mang tính tổng thể để xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên Nhà trường
đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới.
Các đề tài, công trình khoa học trên đã đi sâu nghiên cứu, luận giải các
vấn đề trong phạm vi, tính chất và giới hạn khác nhau. Nhưng chưa có đề tài,
công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống
dưới góc độ khoa học chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà
nước về “Nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong
nhiệm vụ đào tạo sĩ quan dự bị ở Trường Quân sự quân khu 3 hiện nay”.
Do vậy, luận văn tuy có kế thừa, tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của
một số công trình khoa học, song hướng nghiên cứu của đề tài là độc lập,
không trùng lặp với bất kỳ đề tài, công trình khoa học nào đã được công bố.

đội, xây dựng lực lượng DBĐV; về CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân
Việt Nam.
* Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT trong giáo dục, đào tạo ở TQSQK3,

10


các báo cáo sơ kết, tổng kết CTĐ, CTCT của các cấp uỷ đảng, cơ quan chức
năng về giáo dục - đào tạo nói chung và về đào tạo SQDB nói riêng của Nhà
trường; các số liệu điều tra, khảo sát của tác giả trực tiếp tiến hành ở các cơ
quan, đơn vị trong Nhà trường từ năm 2010 đến nay cùng những kinh
nghiệm của bản thân trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo SQDB tại trường.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng
các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong
đó chú trọng các phương pháp kết hợp lôgíc, lịch sử, phương pháp phân tích,
tổng hợp, điều tra xã hội học, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm cơ sở lý
luận, thực tiễn giúp cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp ở TQSQK3 tham khảo, vận
dụng vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT
trong nhiệm vụ đào tạo SQDB ở TQSQK3 hiện nay.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, vận dụng trong giảng dạy, học
tập môn CTĐ, CTCT trong các Nhà trường quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo; phụ lục.

11

vào thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Bước sang thời
kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ GD - ĐT của Nhà trường có sự phát
triển mới, đảm nhiệm đào tạo, bồi dưỡng nhiều đối tượng: đào tạo SQDB, nhân
viên chuyên môn kỹ thuật, tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng; bồi dưỡng công tác
tham mưu quân sự địa phương, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối
tượng 2. Trong đó, đào tạo SQDB là nhiệm vụ xuyên suốt của Nhà trường. Trải
qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Nhà trường đã đào tạo,
bồi dưỡng trên 140.000 cán bộ, sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ
thuật cho Quân đội, LLVT Quân khu, 1058 cán bộ quân sự quốc tế và bồi dưỡng
kiến thức QP & AN cho hơn 5500 cán bộ chủ chốt cấp huyện, các sở, ban ngành
ở các tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu, được Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc
phòng và Quân khu trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: 3 Huân chương Quân
công hạng Nhì, 2 Huân chương Quân công hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công
hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công
hạng Ba. Ngày 17-3-2005, Nhà trường vinh dự được Nhà nước phong tặng danh
hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Ngày 08/4/2016 Nhà trường đón nhận Huân
chương Bảo vệ Tổ quốc hạng ba lần thứ 2, đây chính là sự ghi nhận những thành
tích đóng góp của Nhà trường, đồng thời cũng là động lực để các thế hệ cán bộ,
giáo viên, học viên nhà trường tiếp tục phấn đấu đóng góp vào sự phát triển của
LLVT Quân khu 3 và Quân đội.
Hiện nay, TQSQK3 đóng quân trên địa bàn thị xã Chí Linh, tỉnh Hải
Dương. Tổ chức biên chế của Nhà trường gồm: Ban Giám hiệu Nhà trường, 4
phòng (Phòng Đào tạo, Phòng Chính trị, Phòng Hậu cần kỹ thuật, Phòng
Tham mưu hành chính), 6 khoa (Khoa Binh chủng hợp thành, Khoa Khoa học
xã hội và nhân văn, Khoa Binh chủng, Khoa Hậu cần chuyên môn kỹ thuật,
Khoa Quân sự địa phương, Khoa Văn hóa), 5 tiểu đoàn (trong đó có 2 tiểu
13


đoàn quản lý học viên đào tạo SQDB). Đảng uỷ Nhà trường là cấp trên trực

Lực lượng tham gia đào tạo SQDB: là các cấp uỷ, tổ chức đảng, người
chỉ huy, các cơ quan, khoa giáo viên và đội ngũ cán bộ, giáo viên, đảng viên,
quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên trong Nhà trường, các lực lượng
phục vụ bảo đảm và học viên đào tạo SQDB.
Chương trình, nội dung đào tạo SQDB: được tiến hành theo qui định của
Bộ Quốc phòng, do Nhà trường xây dựng và Quân khu phê duyệt, cấu trúc
gồm kiến thức chung và kiến thức chuyên ngành. Nội dung cơ bản gồm có kiến
thức khoa học xã hội và nhân văn, kiến thức quân sự cơ bản và chuyên ngành.
Đối tượng đào tạo SQDB từ hạ sĩ quan hết nghĩa vụ quân sự, thời gian
đào tạo 4 tháng, tổng số tiết học là 584 tiết. Đối tượng đào tạo SQDB từ hạ
SQDB hạng 1, thời gian đào tạo 3 tháng với tổng số tiết học là 424 tiết. Đối
tượng đào tạo SQDB từ sinh viên tốt nghiệp đại học, thời gian đào tạo 4
tháng, tổng số tiết học là 584 tiết. Đối tượng đào tạo SQDB chính trị từ cán bộ
dân chính Đảng, thời gian đào tạo 3 tháng, tổng số tiết học là 432 tiết. Đối
tượng đào tạo SQDB quân y từ cán bộ công chức, thời gian đào tạo 3 tháng,
tổng số tiết học là 440 tiết. Đối tượng bổ túc SQDB cán bộ tiểu đoàn, thời
gian đào tạo 1 tháng, tổng số tiết học là 136 tiết [phụ lục 8].
Trên cơ sở tỷ lệ các nội dung kiến thức cơ bản đã xác định, tuỳ theo thời
gian, đối tượng, chuyên ngành đào tạo để xác định số lượng các môn, bài, thời
gian, hình thức huấn luyện cho phù hợp, bảo đảm trang bị cho học viên đầy đủ
về kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và các phẩm chất nhân cách cần
thiết của người SQDB theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Kết thúc khoá học, tốt
nghiệp ra trường học viên SQDB được phong quân hàm thiếu uý và xếp vào
khung DBDV của các đơn vị theo chuyên ngành đào tạo và yêu cầu nhiệm vụ.
* Đặc điểm đào tạo sĩ quan dự bị ở Trường Quân sự Quân khu 3
Một là, đối tượng đào tạo SQDB chủ yếu là con em các dân tộc trên
địa bàn Quân khu 3, có điều kiện hoàn cảnh, môi trường công tác, tuổi quân,
tuổi đời, trình độ văn hoá, nhận thức khác nhau.
15




thời gian ra, vào không đồng nhất.
Trong khoảng thời gian từ 1 đến 4 tháng để đào tạo nên những người
SQDB có đủ các phẩm chất, nhân cách, trình độ, năng lực theo chuyên ngành
đào tạo đòi hỏi phải triển khai rất nhiều nội dung, môn học khác nhau. Ngoài
nội dung theo chương trình đào tạo cơ bản đã xác định, học viên còn phải thực
hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính qui, làm công tác dân vận.
Mỗi đối tượng, thời gian đào tạo khác nhau thì yêu cầu về nội dung kiến thức,
hình thức, phương pháp huấn luyện cũng khác nhau. Thực hiện nhiệm vụ đào
tạo SQDB có sự tham gia của nhiều tổ chức, nhiều lực lượng; mỗi tổ chức, lực
lượng có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Do đó, chỉ một khâu, một bộ phận trong bộ máy không hoàn thành nhiệm
vụ thì cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, kết quả đào tạo SQDB.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng LLVT trên địa bàn Quân khu 3
nói chung, nhiệm vụ xây dựng lực lượng DBĐV nói riêng, nhiệm vụ GD - ĐT
của Nhà trường hiện nay ngày càng nặng nề. Hàng năm lưu lượng học viên
SQDB về trường đào tạo ngày càng tăng cả về số lượng cũng như đối tượng,
thời gian ra, vào giữa các đối tượng khác nhau...Đây là những khó khăn tác
động trực tiếp đến hoạt động CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo SQDB.
Ba là, đào tạo SQDB được phân chia thành nhiều lớp chuyên ngành, tổ
chức học tập phân tán ở nhiều địa điểm và thời gian khác nhau.
Do có nhiều chuyên ngành đào tạo khác nhau bao gồm: SQDB binh
chủng hợp thành, SQDB hỏa khí đi cùng, SQDB hạng 1, SQDB chính trị,
SQDB từ sinh viên tốt nghiệp đại học, bổ túc SQDB cán bộ tiểu đoàn, SQDB
quân y...nên có nhiều nội dung, hình thức, thời gian, địa điểm huấn luyện
khác nhau, tuỳ theo từng đối tượng. Điều đó, ảnh hưởng không nhỏ đến quá
trình thực hiện nhiệm vụ ngay trong từng đơn vị cũng như của Nhà trường,
nhất là công tác điều hành huấn luyện, giảng dạy, kiểm tra, quản lý, duy trì kỷ
luật, hoạt động CTĐ, CTCT. Do đó, đòi hỏi CTĐ, CTCT phải bám sát thực tế

chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống của học viên đào tạo SQDB.
18


Sáu là, đào tạo sĩ quan dự bị là một trong những nhiệm vụ chính trị
trung tâm của Nhà trường
Trường QSQK3 là một trong 6 trường được Bộ Quốc phòng lựa chọn xây
dựng trường trọng điểm, là trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh
viên. Nhà trường đảm nhiệm đào tạo, bồi dưỡng nhiều đối tượng, đào tạo
SQDB, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng; bồi
dưỡng công tác tham mưu quân sự địa phương, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng
và an ninh đối tượng 2, giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên. Trong đó,
đào tạo SQDB tại TQSQK3 là một trong những nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt
của Nhà trường. Bên cạnh đó, Nhà trường còn phối hợp thực hiện nhiệm vụ đào
tạo SQDB tại các trường quân sự tỉnh, thành phố thuộc Quân khu 3. Đội ngũ cán
bộ, giáo viên của Nhà trường được đào tạo cơ bản, có bề dày kinh nghiệm trong
nhiệm vụ đào tạo SQDB. Song, nhiệm vụ đào tạo đa dạng và phân tán, tác động
không nhỏ đến kết quả thực hiện nhiệm vụ GD - ĐT của Nhà trường.
Những vấn đề trên tác động không nhỏ đến nhiệm vụ đào tạo SQDB
ở Nhà trường, đòi hỏi các chủ thể tiến hành CTĐ, CTCT phải nhận thức
sâu sắc, đầy đủ những khó khăn để từ đó tìm ra chủ trương, biện pháp giải
quyết tốt cả về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, bảo đảm cho quá trình
đào tạo SQDB ở Nhà trường đạt được chất lượng, hiệu quả cao nhất.
* Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ đào tạo sĩ quan
dự bị ở Trường Quân sự Quân khu 3
Điều lệ CTĐ, CTCT trong QĐND Việt Nam xác định: “Công tác đảng,
công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận rất quan
trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội,
một mặt công tác cơ bản của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên (bí thư cấp ủy, chi
bộ), chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong Quân đội; là công tác xây dựng

công tác tổ chức và công tác chính sách do các chủ thể, lực lượng tiến hành,
nhằm quán triệt sâu sắc đường lối, tư tưởng quân sự, phương châm, nguyên
lý giáo dục của Đảng; xây dựng động cơ, trách nhiệm, quyết tâm cao cho các
20


lực lượng; xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực
lượng tham gia đào tạo SQDB, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu đào
tạo SQDB ở Trường Quân sự Quân khu 3.
Quan niệm trên chỉ ra:
Mục đích CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo SQDB nhằm giữ vững
và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng đối với nhiệm vụ đào
tạo SQDB; xây dựng động cơ, trách nhiệm, ý chí quyết tâm học tập, rèn luyện
của học viên; phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng để thực hiện
thắng lợi mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo SQDB ở TQSQK3.
Chủ thể của CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo SQDB bao gồm chủ
thể lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Chủ thể lãnh đạo là các các cấp ủy,
chi bộ từ Đảng ủy Nhà trường đến các cấp ủy ở các cơ quan, đơn vị trực thuộc
Đảng ủy; chủ thể chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện là Phòng
Chính trị và các cơ quan, đơn vị trong Nhà trường, cán bộ chủ trì các cấp, ban
chấp hành các tổ chức quần chúng ở TQSQK3. Tổ chức quần chúng, Hội đồng
quân nhân, đội ngũ cán bộ, giáo viên, đảng viên, công nhân viên vừa là chủ thể
vừa là lực lượng tiến hành CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo SQDB.
Lực lượng tiến hành CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo SQDB là mọi
tổ chức, mọi lực lượng trong Nhà trường, cơ quan cấp trên và các đơn vị, địa
phương có liên quan, trong đó lực lượng chủ yếu là: các tổ chức đảng, tổ chức
chỉ huy các cấp; các cơ quan chức năng, tổ chức quần chúng, Hội đồng quân
nhân và đội ngũ cán bộ, giáo viên, học viên SQDB trong Nhà trường.
Đối tượng của CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo SQDB là các tổ
chức đảng, các phòng, khoa, các tiểu đoàn quản lý học viên, trong đó chủ yếu

Thông qua hoạt động của công tác tư tưởng: giáo dục chính trị, tuyên
truyền cổ động; văn hoá văn nghệ, thi đua, xây dựng môi trường văn hoá; qua
sinh hoạt của các tổ chức; qua các nội dung, hình thức huấn luyện để giáo
dục, nâng cao nhận thức, xây dựng bản lĩnh chính trị, động cơ, trách nhiệm và
quyết tâm cao cho mọi đối tượng trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo SQDB.
Thông qua hoạt động của công tác tổ chức: củng cố, kiện toàn, nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng cơ quan,
đơn vị, đội ngũ cán bộ, giáo viên vững mạnh. Thực hiện nền nếp, chế độ sinh

22


hoạt đảng; công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm kỷ luật bảo đảm nghiêm
minh, công bằng, chính xác, kịp thời. Phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và
phê bình trong sinh hoạt của các tổ chức. Tiến hành sơ, tổng kết, rút kinh
nghiệm CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo SQDB.
Thông qua thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội đối với
cán bộ, học viên SQDB và chính sách hậu phương Quân đội; đóng góp quỹ đền
ơn đáp nghĩa; thực hiện chế độ phụ cấp đặc thù, trợ cấp khó khăn đột xuất bảo
đảm đời sống vật chất tinh thần của cán bộ, học viên. Quan hệ chặt chẽ với cấp
uỷ, chính quyền, nhân dân địa phương nơi đóng quân, tiến hành công tác dân
vận. Giữ mối liên hệ với gia đình học viên để tiến hành các biện pháp quản lý,
giáo dục, động viên học viên SQDB yên tâm học tập, rèn luyện.
* Vai trò của CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo SQDB ở TQSQK3
Một là, CTĐ, CTCT trực tiếp quán triệt đường lối, quan điểm tư tưởng
quân sự của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp
uỷ, tổ chức đảng trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo SQDB.
CTĐ, CTCT đảm bảo cho nhiệm vụ đào tạo SQDB luôn đặt dưới sự
lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo, điều hành của chính ủy, chính trị
viên, người chỉ huy, sự hướng dẫn của cơ quan chính trị, qua đó làm cho cán

trị tư tưởng, kiện toàn tổ chức và qua thực tiễn thực hiện nhiệm vụ làm cho đội
ngũ cán bộ, đảng viên, giáo viên không ngừng nâng cao nhận thức chính trị,
phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ năng lực công tác. Tạo động lực, tinh
thần đoàn kết, chủ động sáng tạo, phát huy khả năng, trí tuệ, tính tiền phong,
gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật...qua đó giúp cho cơ quan, đơn vị phát hiện,
lựa chọn, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên, giáo viên của Nhà
trường đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo SQDB; phát huy tốt vai trò, trách
nhiệm, trình độ năng lực của cán bộ, đảng viên, giáo viên, làm cho họ thực sự
là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ góp phần xây dựng các tổ chức,
đơn vị, Nhà trường VMTD, hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo SQDB.
Bốn là, CTĐ, CTCT góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
cho bộ đội, nhất là học viên SQDB; quán triệt, giáo dục, động viên mọi đối
tượng làm tốt công tác chuẩn bị, chấp hành nghiêm kỷ luật, bảo đảm an toàn,
đạt hiệu quả cao trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đào tạo SQDB.
Hoạt động CTĐ, CTCT góp phần nâng cao nhận thức về các chủ trương,
24


chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, chính sách của Quân đội bảo đảm
đời sống vật chất, tinh thần cho các lực lượng. Làm cho mọi tổ chức, lực lượng
luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm trong chăm lo bảo đảm về ăn, ở, sinh hoạt,
học tập, công tác, vui chơi giải trí; thực hành tiết kiệm, phòng chống tham ô,
lãng phí, vi phạm chế độ tiêu chuẩn; đẩy mạnh tăng gia sản xuất; quản lý, sử
dụng có hiệu quả vật tư, tài chính...qua đó làm cho mọi đối tượng, nhất là học
viên SQDB thực sự yên tâm, phấn khởi, có đủ sức khoẻ để hoàn thành tốt
nhiệm vụ. Mặt khác, CTĐ, CTCT còn góp phần giáo dục, động viên cán bộ,
giáo viên, học viên SQDB tích cực, chủ động chuẩn bị tốt cơ sở, vật chất, giáo
án, bài giảng, xây dựng thái độ, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, ý thức
tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh, bảo đảm an toàn, đạt hiệu quả cao trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ đào tạo SQDB.

ủy, tổ chức đảng trong Nhà trường. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp là chủ thể
giữ vai trò lãnh đạo và tổ chức tiến hành CTĐ, CTCT. Năng lực lãnh đạo, chỉ
đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với nhiệm vụ đào tạo SQDB thể hiện ở khả
năng nghiên cứu, quán triệt, vận dụng đường lối, quan điểm của Đảng, nghị
quyết, chỉ thị của cấp trên để đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát đúng; tổ
chức triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả; kiểm tra, giám sát chặt chẽ,
chấn chỉnh kịp thời, đây là nhân tố quyết định tới chất lượng CTĐ, CTCT
trong nhiệm vụ đào tạo SQDB. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần chú
trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, kịp thời có chủ trương, biện
pháp lãnh đạo sát đúng, tổ chức triển khai đồng bộ, nghiêm túc. Thường
xuyên kiểm tra, rút kinh nghiệm để kịp thời phát hiện, khắc phục khâu yếu,
mặt yếu, nâng cao chất lượng đào tạo SQDB.
Hai là, phẩm chất, năng lực, trình độ của cơ quan chức năng và các
lực lượng tiến hành CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ đào tạo SQDB.
Cơ quan chức năng, nhất là cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ, giáo
viên vừa là chủ thể, đồng thời là lực lượng trực tiếp tiến hành CTĐ, CTCT.
Chất lượng, hiệu quả CTĐ, CTCT phụ thuộc vào phẩm chất, trình độ, năng
lực tiến hành của cơ quan chính trị và đội ngũ này. Do đó, cơ quan chính trị
và đội ngũ cán bộ, giáo viên phải nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội; nhận thức đúng đắn về mục tiêu, yêu
26


cầu nhiệm vụ đào tạo SQDB và CTĐ, CTCT trong đào tạo SQDB của Nhà
trường; đồng thời, nắm chắc chức năng, chức trách, nhiệm vụ của bản thân,
gương mẫu trong công tác; biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức,
biện pháp CTĐ, CTCT; tích cực giáo dục, động viên cán bộ, học viên nêu
cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, công tác, rèn luyện, kịp thời phát
hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status