ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
NGUYỄN TÁ QUÂN
Tên chuyên đề:
QUY TRÌNH CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG
TRÊN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LIÊN KẾT
VỚI TẬP ĐOÀN BMG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Chăn nuôi thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2013 - 2017
THÁI NGUYÊN - 2017
THÁI NGUYÊN - 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Trong cả một quá trình phấn đấu, rèn luyện và học tại Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên em nhận thấy đã trưởng thành rất nhiều từ phẩm chất đạo đức tới
trình độ chuyên môn và để có được sự trưởng thành như ngày hôm nay đó là một
phần không nhỏ từ sự giúp đỡ và dạy bảo của tất cả các thầy cô, bạn bè cùng gia
đình. Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới: Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm
Khoa Chăn nuôi Thú y, quý thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên của Khoa Chăn
nuôi Thú y-Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ và dạy dỗ em trong
suốt 4 năm học trên giảng đường đại học và thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo TS.Mai
Anh Khoa đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
Trang trại lợn nái sinh sản Đỗ Văn Trưởng,xã Tân Lập,huyện Vũ Thư,Thái
Bình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
của mình.
Và cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn tới gia đình cùng bạn bè đã chia sẻ
động viên em trong suốt 4 năm học và hoàn thành đề tài tốt nghiệp lần này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Sinh viên
NGUYỄN TÁ QUÂN
ii
: Hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa
Nxb
: Nhà xuất bản
TT
: Thể trọng
4
5
MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ i
DANH MỤC CÁC BẢNG ....................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT................................................ iii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iv
Phần
1.
MỞ
nguyên
...................................................7
nhân
gây
bệnh
viêm
tử
cung.
2.3.2. Các thể viêm tử cung.........................................................................................8
2.3.3.
Đường
xâm
.............................................................................................11
nhập
2.3.4. Chẩn đoán viêm tử cung .................................................................................11
2.3.5.
Hậu
quả
của
bệnh
......................................................................13
4.1. Một số công tác khác .................................................................................................. 23
4.1.1. Kết quả công tác phòng bệnh cho đàn lợn ......................................................23
4.1.2. Kết quả công tác điều trị bệnh cho đàn lợn.....................................................24
4.2. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái qua 3 năm (2015 - 11/2017) ...........
27
4.3. Tỷ lệ và cường độ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái .....................................
28
4.4. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ .....................................................
29
4.5. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo trường hợp đẻ .............................
30
4.6. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ............................................................................
31
4.7. Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng sinh sản của lợn nái tại trại .......
32
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................................33
5.1. Kết luận ........................................................................................................................ 33
5.2. Đề nghị......................................................................................................................... 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................34
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA .......................................................................36
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay đất nước ta đang trên đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cùng
với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi nước ta cũng từng bước
đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đã có nhiều thay đổi cả về số lượng và
- Đánh giá được tỷ lệ cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở đàn lợn
- Xác định được hiệu lực điều trị của phác đồ điều trị
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện tự nhiên cơ sở vật chất của trại Đỗ Văn Trưởng xã Tân Lập
huyện Vũ Thư,thành phố Thái Bình.
Trang trại lợn nái sinh sản Đỗ Văn Trưởng nằm trên địa bàn của xã Tân Lập,
huyện Vũ Thư, thành phố Thái Nguyên.Trang trại là trại liên kết với tập đoàn BMG
Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân,và tự
chủ động về mặt kĩ thuật . Hiện nay, trang trại do ông Đỗ Văn Trưởng làm chủ trại,
cán bộ kỹ thuật của tập đoàn BMG chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của
trang trại.
- Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm
+ Nhóm quản lý: 01 chủ trại, 01 quản lý trại.
+ Nhóm cán bộ kỹ thuật, tài chính: 1 kỹ sư, 2 kỹ thuật điện.
+ Nhóm nhân viên: 20 công nhân, 1 sinh viên thực tập.
- Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại nằm trên khu vực xã Tân Lập, đường giao thông đã được nâng cấp
bê tông hóa, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển. Trại lợn cách khu dân cư khoảng
hơn 1km. Trại có diện tích đất rộng trong đó có:
- Đất trồng cây ăn quả.
- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá.
- Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải.
- Đất xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các
công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại.
thông thoáng cho chuồng, ngoài ra bên trong chuồng còn được trang bị đầy đủ hệ
thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc chăm sóc
nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất.
Khu chuồng đẻ gồm 6 chuồng gần kề nhau được sắp xếp thành chuồng đẻ 1,
chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3, chuồng đẻ 4, chuồng đẻ 5, chuồng đẻ 6. Phía đầu chuồng
là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió. Mỗi chuồng đẻ gồm 2 ngăn,
mỗi ngăn gồm 2 dãy và có một công nhân phụ trách. Trong chuồng đẻ sàn chuồng
lợn mẹ làm bằng bê tông còn sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng.
5
Mỗi một ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và dành cho lợn
con. Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được làm
bằng khung sắt và đan bao tải cám đã được ngâm sát trùng. Mỗi lồng úm được trang
bị một bóng đèn sưởi ấm, trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ cho lợn con tập
ăn. Mỗi chuồng cũng có hệ thống giàn mát và 6 quạt thông gió và nhiệt kế đo nhiệt
độ chuồng. Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ
phối thì chuồng được cọ rửa và phun vôi để trống chuồng 1 tuần trước khi đuổi lợn
bầu sắp đẻ lên.
Khu chuồng cách ly là khu chuồng nuôi lợn hậu bị mới nhập về để thay thế
đàn và lợn nái loại thải. Vị trí chuồng nằm gần chuồng bầu thuận tiện cho việc vận
chuyển lợn lên chuồng bầu khi đã đủ điều kiện phối giống. Khu chuồng cách ly
được xây dựng với bên trong là các ô nuôi lợn tập trung gồm 6 ô lớn được trang bị
khá đầy đủ với hệ thống nước uống và máng ăn tự động bên trong các ô, khu bên
trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và khu cuối chuồng có 4 quạt thông gió nhằm
tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi.
Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh
chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải.
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,47 lứa/năm. Số
con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 10,7 con/đàn.
Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty cổ phần Đức
Hạnh Marphavet.
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày
thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn của công ty.
- Lợn thương phẩm tại trại được nuôi từ lúc sơ sinh đến lúc xuất bán khoảng
5 đến 6 tháng với trọng lượng trung bình từ 90 đến 105kg.
- Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm.
Qua điều tra từ số liệu sổ sách theo dõi của trại thì cơ cấu đàn lợn của trại
trong 3 năm tính đến tháng 11 năm 2017 được thể hiện ở bảng 2.1.
7
Bảng 2.1. Cơ cấu đàn lợn nái trong 3 năm (2015 – 2017)
Số lượng lợn qua các năm
STT
(con)
Loại lợn
2015
2016
2017
1.149
1.228
1.331
Tổng số
(Nguồn: phòng kế toán công ty Đức Hạnh Marphavet)
2.3. Cơ sở khoa học
2.3.1. Một số nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung.
Theo Trần Tiến Dũng (2002) [5], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý
thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tố
chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh
hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo Đào Trọng Đạt và cs, (2000) [6], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường
do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương
pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được
vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm.
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc
mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền
sang cho lợn khoẻ.
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử
cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung.
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó
thương hàn, bệnh lao,... gây viêm.
8
9
E.coli, Salmonella, C.pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus… xâm
nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm.
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [10], bệnh viêm nội mạc
tử cung có thể chia 2 loại:
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở niêm
mạc tử cung.
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử, tổn
thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử.
* Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperalis)
Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm. Con vật có trạng
thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh. Từ âm hộ chảy
ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết. Khi
con vật nằm xuống, dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn. Xung quanh âm môn,
gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vảy
màu trắng xám. Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều. Cổ tử
cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung. Niêm mạc âm đạo bình thường.
* Viêm nội mạc tử cung thể màng giả
Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử. Những vết thương đã
ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử. Lợn nái mắc bệnh này
thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm có
khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm xuống. Con vật đau đớn,
luôn rặn, lưng và đuôi cong lên. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch:
dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch,...
2.3.2.2. Viêm cơ tử cung (Myomestritis puerperalis)
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [10], viêm cơ tử cung
thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả. Niêm mạc tử cung bị thấm
hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm. Khi kích thích
vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ âm hộ dịch
chảy ra nhiều hơn. Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận
xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của
tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng. Nếu điều trị không kịp
thời sẽ chuyển thành viêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh
thì quá trình
11
thụ tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh. Thể viêm
này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ.
2.3.3. Đường xâm nhập
Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập
vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là sự kém nhu động của ruột
và nhất là táo bón. Xâm nhập có thể hướng từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong
phân và nước tiểu. Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu
cũng là nguyên nhân gây nhiễm. Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự
hiện diện của vi sinh vật cơ hội thường xuyên có mặt trong chuồng nuôi. Lợi dụng
lúc sinh sản tử cung, âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập
đường sinh dục gây viêm tử cung.
2.3.4. Chẩn đoán viêm tử cung
Theo Madec, Neva (1995) [20], xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh
viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kì tiền động duc, vì đây là thời
gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài. Số lượng mủ không ổn
định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa. Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng
dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu
máu cá. Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiên viêm tử cung cấp tính,
viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kì cho sữa. Hiện tượng chảy mủ ở âm
Các chỉ tiêu
phân biệt
Viêm tử cung
thể nhẹ
Viêm tử cung
thể vừa
Viêm tử cung
thể nặng
1
Sốt
Sốt nhẹ
Sốt cao
Sốt rất cao
2
3
4
5
Dịch
Màu
Phản ứng đau
Phản ứng co
cơ tử cung
Bỏ ăn
Phản ứng co giảm
Bỏ ăn một phần hoặc
hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn
(Nguồn: Phòng kỹ thuật công ty cổ phần Đức Hạnh Marphavet)
- Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa trên cách tính điểm sau:
+ Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1
điểm.
13
+ Bỏ ăn từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1 điểm, nếu bỏ ăn
một phần tính 1/2 điểm.
o
+ Ngưỡng thân nhiệt để tính sốt và số ngày bị sốt là 39,8 C, 1 ngày = 1 điểm.
- Tổng số điểm được dùng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh như
sau:
+ Tổng số điểm dưới 1 điểm: không có vấn đề.
+ Tổng số điểm từ 2 đến 5 điểm: bệnh nhẹ đến trung bình.
+ Tổng số điểm trên 6: bệnh nghiêm trọng.
được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết
lưu.
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai
đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.
- Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt
của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích
thích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa. Lượng
sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc.
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại.
- Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2a giảm, do đó thể vàng
vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone.
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát
triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được
và không thải trứng được.
Theo Madec và Neva (1995) [20], ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà người
chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc sinh đẻ là: chảy mủ ở
âm hộ, sốt, bỏ ăn. Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh hưởng rất
lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái sau này. Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở
đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ. Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ
lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ. Mặt khác, viêm tử
cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ
lợn con nuôi sống thấp. Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì
còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng.
Qua đó ta thấy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnh giảm,
người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp
để phòng và điều trị hiệu quả.
15