ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ AN
THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ AN
THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Danh mục các hình
1
MỞ ĐẦU
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ
5
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ
NHÂN
1.1.
Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân
5
1.1.1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
5
1.1.2. Đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân
7
1.1.3. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
37
2.2.
Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện luật
thuế thu nhập cá nhân
4
44
2.2.1. Về đội ngũ cán bộ chuyên trách lĩnh vực thuế thu nhập cá nhân
44
2.2.2. Quản lý thu nhập và kê khai người phụ thuộc
45
2.2.3. Tuyên truyền pháp luật thuế thu nhập cá nhân cho nhân dân
46
2.3.
48
Những nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc trong quá
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
3.1.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về thuế thu nhập cá nhân
58
3.2.
Định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thuế
thu nhập cá nhân
60
3.2.1. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người nộp thuế
60
3.2.2. Tăng cường công tác quản lý thu nhập của cá nhân
61
3.3.
62
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
Biểu thuế lũy tiến từng phần
25
1.2
Biểu thuế toàn phần
26
2.1
Số người có thu nhập từ tền công tền lương phải nộp
thuế
37
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên biểu đồ
Trang
biểu đồ
2.1
2.2
Biểu đồ tổng số lao động và mã số thuế đã cấp đến năm
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
Trang
hình
1.1
Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân
phối thu nhập
6
11
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
sâu, rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh,
quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế...cũng ngày
càng gia tăng. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách
cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích lũy trong nước được tăng dần và
chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước. Thuế nói
chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng là nguồn thu quan trọng và chủ yếu
cho ngân sách nhà nước trong quá trình xây dựng đất nước cũng như hội
nhập kinh tế quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việt Nam đã có một số công trình khoa học, bài viết nghiên cứu, tm
hiểu về thuế thu nhập cá nhân như: "Thuế thu nhập cá nhân: Kinh
nghiệm quốc tế và việc thực thi ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ ngành kinh tế
chính trị của Phạm Thị Phương Mai, 2008; "Kiểm soát thuế thu nhập cá nhân
đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công tại các tổ chức chi trả thu nhập do
cục thuế Thành phố Đà Nẵng thực hiện", Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
của Bùi Công Phương, 2011; "Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân tại
chi cục thuế quận 2", Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành luật kinh tế của Lê
Phương Thảo, 2010... Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên hoàn
thành từ năm
2011 trở về trước và chủ yếu nghiên cứu, phân tch những quy định của Luật
thuế thu nhập cá nhân chứ không phải thực tễn thực hiện pháp luật về
thuế thu nhập cá nhân tại địa phương. Bên cạnh đó, từ năm 2011 đến nay
pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đã có nhiều thay đổi quan trọng và
những yêu cầu thực tiễn cũng có sự thay đổi. Do đó vấn đề này vẫn cần được
tếp tục nghiên cứu để hoàn thiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
Việc nghiên cứu thực tễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá
nhân thời gian qua ở Việt Nam và các địa phương là yêu cầu cấp thiết, góp
9
phần hoàn thiện Luật thuế thu nhập cá nhân . Mục đích của luận văn là tìm
hiểu thực tễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở địa
phương
10
- Phương pháp luận: Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
thuế thu nhập cá nhân .
12
- Phương pháp nghiên cứu đề tài: Trên cơ sở phương pháp luận
duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân
tích, tổng hợp, so sánh, thống kê. Đồng thời tác giả cũng sử dụng nguồn
thông tin dự liệu từ nhiều nguồn như: từ các khảo sát, nghiên cứu khoa học
về thuế thu nhập cá nhân của các nhà nghiên cứu, các dự liệu từ Bộ Tài
chính, Tổng cục Thuế, Cục thuế Quảng Ngãi, Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ngãi, các
bài báo, tạp chí, báo điện tử, tài liệu hội thảo liên quan đến vấn đề thuế thu
nhập cá nhân .
6. Ý nghĩa của luận văn
- Đây là công trình nghiên cứu khoa học cụ thể về những quy định của
pháp luật về thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thực hiện tại địa phương cụ
thể.
- Đánh giá sự phù hợp của pháp luật đối với hoạt động thực hiện
pháp luật trên thực tế, rút ra những điểm bất cập, khó khăn trong quá
trình thực hiện quy định cụ thể của pháp luật, đề xuất phương hướng và giải
pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của Luật này trong thời gian tới, góp
phần tăng thu ngân sách nhà nước, tạo lập công bằng xã hội và hội nhập kinh
tế quốc tế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân và những
quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân
dụng các hình thức động viên khác nhau. Hình thức nhà nước dùng quyền
lực chính trị buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi têu của mình - đó
chính là thuế [74, tr. 6].
Theo tên gọi trước đây thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
được hiểu là một loại thuế đánh vào cá nhân có thu nhập, và chỉ cá nhân
nào có thu nhập cao hơn người khác mới phải nộp thuế, còn những cá nhân
có thu nhập thấp hơn không phải nộp thuế. Hiện nay vẫn nhiều người vẫn
gọi thuế thu nhập cá nhân là thuế thu nhập cao, dẫn đến hiểu sai bản chất
của loại thuế này và đánh giá không đúng vai trò của nó.
15
Thu nhập cá nhân trong kinh tế là thuật ngữ đề cập đến các khoản
thu nhập của một cá nhân kiếm được trong một niên độ thời gian nhất định
từ tiền lương, đầu tư và các khoản khác, nó là tổng hợp của tất cả các thu
nhập thực nhận bởi tất cả các cá nhân hoặc hộ gia đình. Còn theo cách
hiểu thông thường thì "thu nhập cá nhân" là khoản thu nhập mà một người
có được bằng hoạt động của mình.
Như vậy, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế mà nhà nước thu
trực tếp trên thu nhập nhận được của cá nhân trong một khoảng thời gian
nhất định, thường là một năm hoặc từng lần phát sinh.
Đối với những quốc gia có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường thì thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng trong
việc huy động nguồn thu ngân sách và thực hiện công bằng xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân lần đầu tên ra đời ở Anh (1841), sau đến Nhật
(1887), Đức (1889), Mỹ (1913). Trung Quốc, thuế thu nhập cá nhân ra đời từ
năm 1941 nhưng đến năm 1955 mới trở thành sắc thuế độc lập; Ở Pháp,
thuế thu nhập cá nhân ra đời năm 1961; Liên Xô năm 1922, Hàn Quốc 1974
và cho đến nay theo thống kê của ERNT&YOUNG tại "the global Excutive"
hiện nay thế giới có hơn 136 nước áp dụng thuế suất thuế thu nhập cá nhân .
chuyển giao nghĩa vụ nộp thuế sang cho đối tượng khác tại thời điểm đánh
thuế.
- Thuế thu nhập cá nhân có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện ở hai
khía cạnh:
Một là, thu nhập chịu thuế là toàn bộ các khoản thu nhập của
đối tượng nộp thuế không phân biệt thu nhập đó phát sinh có nguồn gốc
trong nước hay nước ngoài. Chính vì vậy, nguồn thu cho ngân sách nhà
nước từ thuế thu nhập cá nhân là rất lớn.
Hai là, đối tượng kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân là những người
có thu nhập, bao gồm cả công dân của nước sở tại và người nước ngoài cư
trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm
việc,
18
có thu nhập theo mức độ quy định của luật thuế thu nhập cá nhân. Với quy
định này việc bỏ sót đối tượng nộp thuế rất ít xảy ra. Nhà nước dễ dàng
quản lý được thu nhập của dân cư và áp dụng các chính sách thuế phù hợp.
19
- Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế thu nhập nhưng khác với thuế
thu nhập doanh nghiệp ở chỗ thuế thu nhập doanh nghiệp đánh trên khoản
thu doanh nghiệp có được sau khi trừ chi phí phát sinh từ hoạt động doanh
nghiệp còn thuế thu nhập cá nhân thì thu nhập tính thuế là khoản thu của cá
nhân không những được khấu trừ chi phí cuộc sống của đối tượng nộp thuế
(tái tạo sức lao động) mà còn được loại trừ một số khoản thu nhập khác như
thu nhập mang tnh trợ cấp xã hội, chi phí nuôi con, nuôi dưỡng cha mẹ già,
lưu ý đến hoàn cảnh của cá nhân có thu nhập nộp thuế thông qua việc xác
thuế và cơ chế quản lý tiền công, tền lương, báo cáo quyết toán kinh
doanh... tuy chưa thực sự chính xác nhưng là căn cứ thống kê thu nhập của
nhân dân phục vụ cho định hướng chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng và Nhà nước phù hợp hơn.
Hiện nay trên thế giới sự phân chia giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội
ngày càng rõ rệt. Mặc dù các khoản thu nhập cá nhân có được là do năng lực
và sức lao động của mình bỏ ra, tuy nhiên các cá nhân không có thu nhập cao
(không phải nộp thuế) phải chịu ảnh hưởng trực tiếp những hệ lũy xã hội
phát sinh từ người có thu nhập cao hơn như sinh hoạt phí, giá điện, xăng, phí
môi trường, chi phí về y tế, giáo dục... tăng cao và các loại thuế khác phục vụ
cho nhu cầu tái cấu trúc xã hội. Đây là những nguyên nhân dẫn đến mâu
thuẫn đối kháng trong xã hội. Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng
nhiều hình thức và biện pháp khác nhau trong đó thuế thu nhập cá nhân
được xem như công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của người có thu
nhập cao, nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Thuế thu nhập cá nhân góp phần
đáng kể đối với việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, bởi lẽ thuế thu nhập cá nhân
là một giải pháp để tăng cường hoặc giảm bớt điều tiết thu nhập của các
tầng lớp dân cư là cho tổng cầu của xã hội giảm hoặc tăng, từ đó có tác dụng
co hẹp hoặc kích thích kinh tế phát triển.
Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu quan trọng của ngân
sách nhà nước. Dù không phải là mục tiêu chủ yếu song việc thực hiện chính
sách thuế nói chung và chính sách thuế thu nhập cá nhân nói riêng đã tạo
nguồn thu vững chắc cho hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới. Cùng
với xu hướng phát triển kinh tế ngày càng tăng, thu nhập ngày càng nhiều thì
việc cải thiện nguồn ngân sách nhà nước bằng việc thực hiện Luật thuế thu
nhập cá nhân là không thể phủ nhận.
22
Thứ ba, việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá
việc xác định
24
thu nhập chịu thuế luôn trên nguyên tắc khấu trừ trước khi tính thuế.
Quy định nêu trên đã thể hiện nguyên tắc công bằng và khả năng nộp thuế
của người có thu nhập. Cụ thể, tất cả các cá nhân có thu nhập (trừ trường
hợp miễn, giảm thuế) không kể người Việt Nam hay nước ngoài, công chức
hay hành nghề tự do đều phải nộp thuế; người có thu nhập thấp hơn
chưa phải nộp thuế, người có thu nhập cao hơn thì hưởng các nguồn lợi
nhiều hơn, làm phát sinh chi phí chung xã hội lớn hơn nên phải nộp thuế
nhiều hơn; người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh kh ác
nhau thì phải nộp thuế khác nhau.
Để thấy rõ vai trò trên của thuế thu nhập cá nhân có thể sử
dụng đường cong Lorenz dưới đây (hình 1.1)
GDP %
Thu nhập được
phân phối công bằng
Thu nhập trước thuế
Thu nhập sau thuế
Dân cư %
Hình 1.1: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập
Đồ thị trên cho thấy đường cong Lorenz càng gần đường phân giác thì
càng phản ánh sự phân phối công bằng. Điều đó được trợ giúp bởi thuế
lũy tến thông qua việc thực hiện thuế thu nhập cá nhân để đảm bảo rút
ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo trong xã hội.
`Cũng như những sắc thuế khác, thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế