LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài này, chúng em đã nhận được sự quan
tâm, động viên cũng như hỗ trợ, giúp đỡ từ nhiều thầy cô, các cơ quan, tổ chức.
Đề tài này cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ
các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở
các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu,… Đặc biệt là sự hợp tác của cán bộ
giáo viên, sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất, tinh thần từ phía gia đình và bạn
bè.
Trước hết, chúng em xin gửi lời cám ơn trân thành đến cô Lê Thị Hoàng Hà
– người trực tiếp hướng dẫn đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn chúng
em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài này.
Chúng em xin cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Giáo dục cùng toàn
thể các thầy cô giáo trong trường đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu,
giúp đỡ chúng em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài này không tránh khỏi những thiếu
sót. Chúng em kính mong quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến
đề tài, gia đình và bạn bè có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Một lần nữa chúng em xin trân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 2 tháng 12 năm 2018
Nhóm tác giả
0
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
- Tìm hiểu tài liệu về phương pháp dạy học và các cách kiểm tra đánh giá
năng lực giao tiếp
3. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu.
- Nghiên cứu lý luận.
- Nghiên cứu thực tiễn.
4. Đối tượng nghiên cứu
Năng lực giao tiếp của học sinh, sinh viên
5. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính
của luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Đề xuất những giải pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học
sinh, sinh viên trong thế kỉ XXI
Chương 3: Khuyến nghị
2
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
1.1. Dạy học phát triển năng lực
1.1.1. Khái niệm về năng lực
Có rất nhiều tác giả đưa ra khái niệm về năng lực, trong đó tác giả Đinh
Quang Báo [1] đã đưa ra khái niệm về năng lực như sau: “năng lực là một thuộc
tính tích hợp nhân cách, tổ hợp các đặc tính tâm lí của cá nhân, phù hợp với những
yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt
đẹp”.
những nhóm NL sau [1]:
+ Nhóm NL làm chủ và phát triển bản thân: NL tự học, NL giải quyết vấn
đề, NL tư duy, NL quản lí.
+ Nhóm NL về quan hệ xã hội: NL giao tiếp, NL hợp tác.
+ Nhóm NL công cụ: NL sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
(ICT), NL sử dụng ngôn ngữ, NL tính toán. Cách tiếp cận đầu ra trả lời cho câu
hỏi: chúng ta muốn học sinh biết những gì và có thể làm được những gì?
* Năng lực chuyên biệt:
NL chuyên biệt là những NL được hình thành và phát triển trên cơ sở các NL
chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công
việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên
biệt, đáp ứng yêu cầu hẹp hơn của một hoạt động như toán học, âm nhạc, mĩ thuật,
thể thao. [1]
Một cách tổng quát, NL chuyên biệt là sản phẩm của một môn học cụ thể,
được hình thành và phát triển do một lĩnh vực hoặc một môn học nào đó. Ví dụ NL
thực hành thí nghiệm là một NL chuyên biệt của môn Hóa học.
1.1.3. Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
Việc dạy học định hướng năng lực được thể hiện ở trong các thành tố quá
trình dạy học như sau:
- Về mục tiêu dạy học: Ngoài các yêu cầu về mức độ như nhận biết, tái hiện
kiến thức cần có những mức độ cao hơn như vận dụng kiến thức trong các tình
huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế. Các mục tiêu này đạt được thông qua các
hoạt động trong và ngoài nhà trường.
- Về phương pháp dạy học: Ngoài cách dạy học thuyết trình cung cấp kiến
thức cần tổ chức hoạt động dạy học thông qua trải nghiệm, giải quyết những nhiệm
vụ thực tiễn. Như vậy thông thường, qua một hoạt động học tập, học sinh sẽ được
hình thành và phát triển không phải một loại năng lực mà là được hình thành đồng
thời nhiều năng lực hoặc nhiều năng lực thành tố mà ta không cần (và cũng không
thể) tách biệt từng thành tố trong quá trình dạy học.
4
thức quy chiếu, nghĩa học, nội dung của thông điệp, mà còn rất có thể là một hành
vi, hoạt động tại lời và bởi lời có chủ đích” (Beautier-Casting, 1983). Có thể nói
tác giả đề cao các vấn đề ngữ dụng khi đưa ra quan điểm của mình về năng lực
giao tiếp.
Tóm lại năng lực giao tiếp là khả năng giao tiếp có liên quan đến những
người khác với độ chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, chặt chẽ, chuyên môn, hiệu quả và
phù hợp. Đó là một thước đo để xác định mức độ các mục tiêu nào của sự tương
5
tác đang đạt được. Tuy nhiên, năng lực giao tiếp còn tùy thuộc vào tình huống hay
ngữ cảnh mà trong đó sự tương tác diễn ra. Giao tiếp được coi là thành công đối
với một nhóm trong một tình huống nào đó nhưng nó có thể không được coi là
thành công đối với một nhóm khác nhau trong một tình hình khác.
1.2.2. Cấu trúc của năng lực giao tiếp
Việc phân định các thành phần khác nhau của năng lực giao tiếp cũng rất đa
dạng ở các tác giả khác nhau.
Tuy nhiên, thiên về góc độ nội lực cá nhân cần vận dụng trong giao tiếp, A.
Abbou [2] đã đề xuất cấu trúc năm yếu tố của năng lực giao tiếp, bao gồm: năng
lực ngôn ngữ, năng lực văn hóa-xã hội, năng lực logic, năng lực lập luận và ký
hiệu học. Cụ thể như sau (A. Abbou, 1980: 15):
- Năng lực ngôn ngữ, Abbou cho rằng nó bao gồm các năng lực bẩm sinh và
khả năng sử dụng ngôn ngữ mà chủ thể người nói có được để tiếp nhận và diễn đạt
các phát ngôn của người khác và đưa ra các phát ngôn để người khác có thể tiếp
nhận và diễn đạt lại được. Như vậy, năng lực này bao gồm các mặt thuần túy ngôn
ngữ, diễn ngôn (chuyển từ câu sang lời nói) và các tình thái (tu từ). Năng lực này
được thể hiện dưới nhiều cấp độ, tức là theo số lượng và sự phức tạp của các phát
ngôn và các mẫu được tiếp nhận và phát ra.
- Năng lực văn hóa-xã hội bao gồm các năng lực bẩm sinh và khả năng sử
- Linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp
- Thuyết phục đối tượng giao tiếp
- Chủ động điều khiển quá trình giao tiếp
- Sự nhạy cảm trong giao tiếp
Canary và Cody [6] (Giao tiếp giữa các cá nhân với nhau) đã đưa ra sáu tiêu
chí để đánh giá Năng lực giao tiếp. Các tiêu chí bao gồm - khả năng thích ứng,
tham gia đàm thoại, quản lý đàm thoại, đồng cảm, hiệu quả và phù hợp. Các tiêu
chí này được giải thích chi tiết hơn dưới đây:
* Khả năng thích ứng:
Là khả năng đánh giá tình hình và khi cần thiết thay đổi hành vi, mục tiêu để
đáp ứng nhu cầu của sự tương tác. Nó là tín hiệu cao nhận thức về quan điểm, lợi
ích, mục tiêu và phương pháp giao tiếp của người khác, luôn sẵn sàng để sửa đổi
những hành vi và mục tiêu của chính mình để thích ứng với các tình huống tương
tác. Bằng sự quan tâm theo dõi những gì đang diễn ra trong tình huống giao tiếp,
cả hai bên có thể thay đổi hành vi của mình bằng lời nói hoặc không bằng lời nói
(cử chỉ, hành động, trạng thái, biểu cảm,…) để ăn khớp với nhau nhiều hơn trong
quá trình giao tiếp. Trong sự thay đổi hành hành vi giao tiếp, sự phân cực vào vấn
đề cũng có thể được “khử cực” hoặc "làm mềm" ra. Nó bao gồm sáu yếu tố:
- Kinh nghiệm xã hội - sự tham gia trong tương tác xã hội khác nhau
7
- Giữ bình tĩnh (trước đám đông) - đề cập đến việc luôn giữ bình tĩnh trong
suốt quá trình nhận thức một cách chính xác
- Thừa nhận xã hội - đề cập đến sự thừa nhận các mục đích (mục tiêu) của
đối tác
- Thích hợp công bố - là nhạy cảm với số lượng và loại thông tin
- Phát âm - khả năng diễn đạt ý tưởng thông qua ngôn ngữ
- Hóm hỉnh (dí dỏm, hài hước) - khả năng sử dụng tính hài hước trong
những tình huống giao tiếp thích hợp để giảm bớt sự căng thẳng.
nghĩa và mục tiêu thích hợp liên quan đến kết quả. Mã hóa hiệu quả và quy trình
giải mã dẫn đến ý nghĩa đôi bên cùng chia sẻ. Cùng nhau chia sẻ sẽ dẫn đến sự lĩnh
hội hiểu biết lẫn nhau về nhận thức. Tương tác có hiệu quả chỉ được đạt nhiều ý
nghĩa khi được tham dự vào sự chia sẻ đúng đắn và khi cả hai bên mong muốn đạt
được mục tiêu tương tác. Tương tác kém hiệu quả xảy ra khi ý nghĩa nội dung hoặc
mối quan hệ đang không tốt đẹp và liên quan đến tiếng ồn cũng như sự xung đột bế
tắc giữa các kênh giao tiếp. Giao tiếp hiệu quả có thể cải thiện năng suất công việc.
* Phù hợp:
Là một tiêu chí cơ bản để xác định năng lực giao tiếp, phù hợp là khả năng
duy trì sự mong đợi của một tình huống. Các cá nhân điển hình sử dụng những kỳ
vọng và kịch bản của họ tiếp cận với một hoàn cảnh tương tác. Họ cũng xây dựng
ấn tượng của mình về một năng lực giao tiếp trên cơ sở nhận thức của họ về các
hành vi khác của lời nói và không phải lời nói có liên quan đến sự tương tác thiết
lập. Để hiểu hay không giao tiếp thích hợp có được nhận thức, nó là quan trọng để
có được đánh giá năng lực theo quan điểm của cả hai bên giao tiếp và quan tâm
đến người theo dõi. Đó cũng là quan trọng để có được cả hai tự nhận thức và dữ
liệu nhận thức khác nhau. Phù hợp hành vi giao tiếp có thể được đánh giá thông
qua sự hiểu biết các giá trị tiềm ẩn, định mức, xã hội, vai trò, mong đợi, và kịch
bản tình tiết tương tác với nhau.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực trạng năng lực giao tiếp của học sinh, sinh viên trong thế kỉ XXI
Ngày nay, khi CNTT, Internet, các phương pháp dạy học tân tiến phát triển
tạo một môi trường rất lớn cho học sinh, sinh viên cả thiện năng lực giao tiếp của
mình.
Có những bạn học sinh, sinh viên năng động và giao tiếp rất tốt. Các bạn
luôn hăng hái trong các hoạt động tập thể, hoạt động nhóm hay các bài thuyết trình.
Bên cạnh đó, không khó để tìm thấy hình ảnh các bạn học sinh, sinh viên
lúng túng mỗi khi được yêu cầu lên thuyết trình hay làm việc nhóm. Các bạn khá
rụt rè, khả năng trình bày, lập luận vấn đề khi thuyết trình kém lưu loát; thường
Các hình thức hỏi đáp :
+ Hỏi đáp tái hiện: thường sử dụng để kiểm tra bài cũ, ôn tập hoặc khai thác
vốn sống vốn hiểu biết của học sinh, sinh viên.Ví dụ: bài trước chúng ta đã học
những gì?
+ Hỏi đáp giải thích minh họa: Được thực hiện khi câu hỏi của giáo viên đưa
ra có kèm theo các ví dụ minh họa (bằng lời hoặc bằng hình ảnh trực quan) nhằm
giúp học sinh, sinh viên dễ hiểu, dễ ghi nhớ. Phương pháp này được áp dụng có
hiệu quả trong một số trường hợp, như khi giáo viên biểu diễn phương tiện trực
quan. Ví dụ: Nhìn vào hĩnh vẽ, theo em oxi được điều chế bằng phương pháp nào?
10
+ Hỏi đáp tìm tòi khám phá: kích thích suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học
sinh, sinh viên. Ví dụ: Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh ?
1.2. Hình thức triển khai phương pháp dạy học hỏi - đáp
Có nhiều cách để triển khai phương pháp dạy học hỏi – đáp, theo Modul số
18: Phương pháp dạy học tích cực, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV khối
THPT, việc triển khai phương pháp dạy học này bao gồm 5 bước quan trọng:
Trước giờ học
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và đối tượng dạy học. Xác định các
đơn vị kiến thức kĩ năng cơ bản trong bài học và tìm cách diễn đạt các
nội dung này dưới dạng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt SV.
Bước 2: Dự kiến nội dung các câu hỏi, hình thức hỏi, thời điểm đặt câu
hỏi (đặt câu hỏi ở chỗ nào?), trình tự của các câu hỏi (câu hỏi trước
phải làm nền cho các câu hỏi tiếp sau hoặc định hướng suy nghĩ để SV
giải quyết vấn đề). Dự kiến nội dung các câu trả lời của SV, trong đó
dự kiến những "lỗ hổng" về mặt kiến thức cũng như những khó khăn,
sai lầm phổ biến mà SV thường mắc phải. Dự kiến các câu nhận xét
hoặc trả lời của GV đối với SV.
Bước 3: Dự kiến những câu hỏi phụ để tùy tình hình từng đối tượng cụ
huy được tính tích cực, sáng tạo của SV.
- Tránh những câu hỏi mà sinh viên không cần suy nghĩ. Đối với những câu
hỏi có/ không không nên quan niệm rằng đó là những câu hỏi đơn giản , sinh viên
dễ trả lời. Đôi khi để trả lời có hoặc không sinh viên đã phải vận dụng không ít
kiến thức mình tích lũy được.
- Có thời gian để sinh viên chuẩn bị câu trả lời
1.4. Khi sử dụng phương pháp thì cần chuẩn bị những gì?
Từ những lưu ý ở trên để một bài dạy sử dụng phương pháp hỏi đáp hiệu quả
nhất GV cần chuẩn bị .
- Đầu tiên GV cần nắm vững kiến thức bài học cần giảng dạy, xác định rõ
nội dung và mục tiêu bài học
- Sinh viên được GV truyền đạt các quy tắc khi trả lời câu hỏi của GV
- GV chuẩn bị hệ thống câu hỏi:GV cần chuẩn bị thật tốt hệ thống câu
hỏi.Câu hỏi đáp ứng được mục tiêu của bài học. Các câu hỏi có liên quan chặt chẽ
với nhau, câu hỏi trước là tiền đề cho câu hỏi sau, câu hỏi sau là sự kế tục và phát
triển kết quả của câu hỏi trước. Mỗi câu hỏi là một cái “nút” của từng bộ phận mà
SV cần lần lượt tháo gỡ thì mới được kết quả cuối cùng.
- Để tăng thêm hiệu quả của việc sử dụng phương pháp vấn đáp, GV cần tổ
chức đối thoại theo nhiều chiều: GV " SV, SV "SV; và SV "GV.
- GV nằm dõ tình hình học tập của lớp để đưa ra câu hỏi phù hợp cho lớp
học
- Gv cần có thái độ phù hợp: Cần có thái độ bình tĩnh khi SV trả lời sai hoặc
thiếu chính xác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang ý của SV khi không
thật cần thiết. Chú ý uốn nắn, nhận xét, bổ sung câu trả lời của SV, giúp SV hệ
12
thống hóa tri thức tiếp thu được trong quá trình trả lời câu hỏi.Đối với sinh viên có
những câu trả lời tốt cần khuyến khích khen ngợi kịp thời.
- GV bố trí vị trí ngồi của sinh viên trong lớp học cũng phải hợp lý, giúp cho
5. Tôi nói những gì tôi hiểu mà không cần biết lúc
đấy người nghe sẽ hiểu như thế nào. Chúng tôi sẽ
giải quyết các khúc mắc sau.
13
1
2
3
4
5
1
2
3
4
5
1
2
3
4
hiểu quan điểm của họ.
7. Tôi sử dụng email để giải quyết những công việc
phức tạp với người khác vì nó tiện lợi và nhanh
1
2
3
4
chóng
8. Khi tôi viết xong một bản báo cáo, ghi nhớ, hoặc
email, tôi kiểm tra nhanh chóng cho các lỗi chính
1
2
3
4
tả,... và sau đó gửi nó đi ngay lập tức.
9. Khi nói chuyện với mọi người, tôi rất hay chú ý
1
2
3
4
đến ngôn ngữ cơ thể của họ.
10. Tôi sử dụng các loại sơ đồ và biểu đồ để hỗ trợ
1
2
3
4
cho việc thể hiện ý tưởng của mình.
11. Trước khi tôi giao tiếp, tôi nghĩ về những gì
người nghe cần biết và cách tốt nhất để truyền đạt
2
3
4
nghĩ về nội dung của mỗi buổi giao tiếp.
Bây giờ bạn hãy dành ra một chút thời gian để tính tổng chính xác số điểm
mà mình đạt được nhé!
Tương ứng với số điểm, kết quả trắc nghiệm được phân thành 3 loại
15 – 35: Bạn cần phải tiếp tục rèn luyện kỹ năng giao tiếp của bạn. Bạn
không thể truyền đạt và nhận thông tin một cách rõ ràng và chính xác. Nhưng
đừng lo lắng, bằng cách chú ý đến các chi tiết nhỏ trong giao tiếp, bạn có thể đạt
14
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
được hiệu quả hơn trong công việc và tận hưởng nhiều mối quan hệ làm việc tốt
nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới. Mưa axit làm mùa màng thất thu và phá
hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến
( các loại đá này thành phần chính là CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
15
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây nên
những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển. Vấn
đề ô nhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam chúng ta đang rất
chú trọng đến vấn đề này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh những
hiểu biết về hiện tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường.
Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời sau khi dạy xong
phần Sản xuất axit sunfuric trong bài “Axit sunfuric. Muối sunfat”(Tiết 55-56 lớp
10 CB) hoặc áp dụng trong bài“Axit nitric” (tiết 14-15 lớp 11CB).
- Câu hỏi 2: Vì sao dụng cụ phân tích rượu có thể phát hiện các lái xe đã
uống rượu?
Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu etylic. Đặc tính của
rượu etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể tác dụng với rượu
nhưng người chọn một chất oxi hóa là crom(VI)oxit CrO 3. Đây là một chất oxi hóa
rất mạnh, là chất ở dạng kết tinh thành tinh thể màu vàng da cam. Bột oxit CrO 3
khi gặp rượu etylic sẽ bị khử thành oxit Cr2O3 là một hợp chất có màu xanh đen.
Các cảnh sát giao thông sử dụng các dụng cụ phân tích rượu etylic có chứa CrO 3.
Khi tài xế hà hơi thở vào dụng cụ phân tích trên, nếu trong hơi thở có chứa hơi
rượu thì hơi rượu sẽ tác dụng với CrO3 và biến thành Cr2O3 có màu xanh đen. Dựa
vào sự biến đổi màu sắc mà dụng cụ phân tích sẽ thông báo cho cảnh sát biết được
mức độ uống rượu của tài xế. Đây là biện pháp nhằm phát hiện các tài xế đã uống
rượu khi tham gia giao để ngăn chặn những tai nạn đáng tiếc xảy ra.
sinh viên cải thiện năng lực giao tiếp
2. Với giáo viên
- Thường xuyên cập nhật những phương pháp dạy học tích cực
- Thường xuyên cập nhật những môi trường rèn luyện bản thân lành mạnh,
an toàn để cung cấp cho học sinh, sinh viên
- Linh hoạt trong vấn đề xử lí các lỗi giao tiếp của học sinh, sinh viên
- Luôn luôn động viên, khích lệ học sinh, sinh viên học tập, rèn luyện phát
triển năng lực giao tiếp của bản thân
3. Với học sinh, sinh viên
- Tự ý thức được tầm quan trọng của năng lực giao tiếp
- Chủ động tìm kiếm các môi trường rèn luyện bản thân
4. Với phụ huynh
- Quan tâm chia sẻ đến các vấn đề học tập và giải trí của con
- Động viên, khích lệ con tự rèn luyện bản thân
17
C. PHẦN KẾT LUẬN
Như vậy, năng lực giao tiếp là một năng lực quan trọng cần trang bị cho học
sinh, sinh viên trong thời điểm hiện nay. Năng lực này được bồi dưỡng thông qua
các hoạt động tập thể và các môn học với các hình thức tổ chức dạy học khác nhau.
Là một sinh viên sư phạm, chúng ta cần tự ý thức được vai trò quan trọng của năng
lực giao tiếp, tiếp tục rèn luyện để cải thiện và hoàn thiện năng lực này trong suốt
quá trình học tập. Ngoài ra, chúng ta cần tìm hiểu thêm các phương pháp dạy học
giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực quan trọng này.
Tài liệu tham khảo
1. Đinh Quang Báo (2013), “Đề xuất mục tiêu và chuẩn trong chương trình giáo
dục phổ thông sau 2015”, Hội thảo một số vấn đề chung về xây dựng chương trình