Nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng sinh qua giờ kể chuyện - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

HÀ THỊ NHÂN

NÂNG CAO NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH
LỚP 3 TRƢỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG SINH
QUA GIỜ KỂ CHUYỆN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

HÀ THỊ NHÂN

NÂNG CAO NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH
LỚP 3 TRƢỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG SINH
QUA GIỜ KỂ CHUYỆN

Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng

SƠN LA, NĂM 2015



TH

tiểu học

GVCN

giáo viên chủ nhiệm


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 1
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 3
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .................................................................. 3
6. Phạm vi đề tài .................................................................................................... 3
7. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 3
8. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 4
9. Đóng góp đề tài ................................................................................................. 4
10. Cấu trúc đề tài ................................................................................................. 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU ...................................................................................................................... 5
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 5
1.1.1. Một số khái niệm liên quan tới vấn đề nghiên cứu ..................................... 5
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy và học kể chuyện .......................................... 6
1.1.2. Cơ sở triết học Mác – Lênin về chức năng của ngôn ngữ ........................ 13
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 23
1.2.1. Chương trình môn Kể chuyện ở tiểu học và việc rèn kĩ năng giao tiếp cho
học sinh tiểu học .................................................................................................. 23

3.2.2. Thiết kế giáo án ......................................................................................... 55
3.3. Kết quả thể nghiệm ...................................................................................... 55
3.3.1. Đối tượng thể nghiệm................................................................................ 55
3.3.2. Kết quả thể nghiệm ................................................................................... 56
Tiểu kết chương 3................................................................................................ 57
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống con người. Giao tiếp
luôn diễn ra trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Nhờ giao tiếp con người có thể
trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thái độ…với nhau. Trong buổi đầu lịch sử con
người giao tiếp chủ yếu bằng hình thức phi ngôn ngữ, đến khi ngôn ngữ xuất hiện thì
con người có thêm hình thức giao tiếp mới. Giao tiếp bằng ngôn ngữ chỉ xuất hiện
trong xã hội loài người và hình thức giao tiếp chủ yếu lời nói và chữ viết.
Đối với học sinh tiểu học giao tiếp là con đường quan trọng nhất để các em hòa
nhập, giao lưu với cuộc sống xunh quanh. Qua giao tiếp các em được mở rộng vốn
sống, phát triển vốn từ của mình.
Năng lực giao tiếp của học sinh là một hoạt động cần thiết cần được bồi dưỡng
thường xuyên. Tuy nhiên hiện nay, vấn đề giao tiếp của học sinh tiểu học nói chung và
học sinh dân tộc thiểu số ở Trường Tiểu học Chiềng Sinh còn gặp nhiều khó khăn cần
tìm biện pháp khắc phục. Đây cũng là trở ngại lớn cho cả giáo viên và học sinh trong
dạy và học cũng như cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. Kĩ năng giao tiếp của các em còn
gặp nhiều hạn chế, hay dụt dè, ít cởi mở, các em không tự tin hòa mình vào cuộc sống
bạn bè, thầy cô. Chính vì lí do này mà các em gặp khó khăn trong quá trình học tập và
giao tiếp. Nếu tình trạng này không được khắc phục sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quá
trình học tập và giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày.

học tập của HS.
3. Chuyên luận Dạy hội thoại cho học sinh tiểu học - PGS.TS. Nguyễn Trí, TS.
Phan Phương Dung. Các tác giả đã tập trung vào dạy và rèn kĩ năng nghe - nói và
luyện kĩ năng trao lời, đáp lời cho HS. Hướng dẫn các em sử dụng các nghi thức lời
nói, vai xưng hô cho phù hợp hoàn cảnh, vai giao tiếp của mình.
4. Xác định quan niệm và biện pháp dạy học Kể chuyện ở tiểu học (Trần Thị
Mến). Tác giả xác định quan niệm dạy học kể chuyện và một vài biện pháp dạy học cụ
thể, hướng dẫn học sinh kể lại câu chuyện vừa nghe giáo viên kể trên lớp.
5. Trong quyển Dạy học Kể chuyện ở tiểu học, tác giả Chu Huy đã nêu ra vị trí,
nhiệm vụ cùng những phương pháp dạy học kể chuyện.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập tới những vấn đề khác nhau về năng lực
giao tiếp của học sinh cũng như các hình thức, phương pháp để tổ chức Sinh – Sơn La.
Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về năng lực giao tiếp cho các hoạt động
nâng cao năng lực giao tiếp cho HS lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Sinh – Sơn La vì
thế đây vẫn là vấn đề mới để tôi tiếp tục nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu trên là
cơ sở lý luận quan trọng để nhóm tác giả thực hiện đề tài này.

2


3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về năng lực giao tiếp của HS lớp 3 Trường Tiểu
học Chiềng Sinh, đề tài tập trung xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực
giao tiếp, phát triển và làm giàu vốn từ, giúp HS có khả năng giao tiếp mạnh dạn, tự
tin hơn trong học tập, hòa nhập với cuộc sống xung quanh. Từ đó giúp các em học tốt
môn Kể chuyện và các môn học khác trong nhà trường.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan tới đề tài nghiên cứu.
Xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3
Trường Tiểu học Chiềng Sinh.

8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp của
giáo viên (GV) và HS lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Sinh – Sơn La.
Thể nghiệm sư phạm, xác nhận tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
Thống kê kết quả điều tra, thể nghiệm, phân tích mô tả kết quả nghiên cứu.
9. Đóng góp đề tài
Về lý luận: Khẳng định dạy Kể chuyện phải chú ý tới dạy khả năng giao tiếp cho
HS; đề xuất các biện pháp dạy học theo tinh thần tích cực, quan điểm giao tiếp; khẳng
định đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Về thực tiễn: Khảo sát, đánh giá thực trạng; thiết kế thể nghiệm.
Nhằm góp phần hoàn thiện mô hình bài giảng giờ Kể chuyện theo quan điểm
giao tiếp.
10. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết bài, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm các chương.
Chương 1: Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Đề xuất các biện pháp nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3
qua giờ Kể chuyện
Chương 3: Thiết kế giáo án thực nghiệm chứng minh tính khả thi của biện pháp
đã đề xuất.

4


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan tới vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1. Kể
Kể là từ biểu thị hành động nói, Từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên) giải thích:
Kể là nói rõ đầu đuôi và nêu ví dụ: kể chuyện cổ tích.

tính của cá nhân con người, đáp ứng yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động
đạt được những kết quả cao”. Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung
chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực thuộc về một
hoạt động cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu
toán học, năng lực hoạt động chính trị của nhà hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy
của hoạt động giảng dạy...
1.1.1.3. Giao tiếp
Giao tiếp là sự thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người, thể hiện sự
tiếp xúc tâm lí giữa con người vời con người. Thông qua đó con người trao đổi với
nhau thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng qua lại tác động với nhau. Nói
cách khác “giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các mối quan hệ người vời
người, hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội, giữa chủ thể này với chủ thể khác”.
1.1.1.4. Năng lực giao tiếp
Theo định nghĩa của Savigon (1987) “Năng lực giao tiếp” là khả năng chọn đúng
ý nghĩa, khả năng kết hợp thành công kiến thức ngôn ngữ học và những quy tắc ngôn
ngữ học xã hội trong tương tác giao tiếp. Năng lực giao tiếp đề cập đến năng lực ngữ
pháp trên cấp độ câu, thể hiện sự tương tác xã hội giữa một người nói và nhiều người
nghe trong tình huống thực như việc giải thích, diễn đạt và chọn ý nghĩa theo nhiều
cách khác nhau” [9. T46]. Khả năng này không những liên quan đến việc nhận diện và
sử dụng những quy luật ngữ pháp mà còn liên quan đến cách hình thành phát ngôn
đúng, làm thế nào để sử dụng phát ngôn thích hợp và vai trò của ngôn ngữ trong giao
tiếp văn hóa xã hội. Khả năng này đối với HSTH vô cùng khó khăn đặc biệt là HS các
lớp đầu tiểu học, đặc biệt khó khăn lớn nhất đối với các em chính là vấn đề giao tiếp,
vấn đề diễn đạt trong lời nói.
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy và học kể chuyện
1.1.2.1. Nhu cầu kể chuyện
Kể chuyện được coi là môn nghệ thuật có từ xa xưa cùng với sự xuất hiện của
loài người. Nhờ có tiếng nói và lao động mà con người đã thoát hẳn đời sống loài vật,
vươn lên làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên.
6

ngay sau phân môn Tập đọc. Sở dĩ, như vậy là vì Kể chuyện có vị trí đặc biệt trong dạy
học tiếng mẹ đẻ, vì hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp. Kể chuyện vận
dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để HS rèn luyện một
cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như: nghe, nói, đọc trong hoạt động giao tiếp.
7


Khi nghe thầy cô kể chuyện các em được tiếp nhận văn bản dưới dạng lời nói, từ
đó tái tạo và sản sinh một tác phẩm mới trong tâm hồn các em. Truyện có khả năng bồi
dưỡng xúc cảm thẩm mĩ cho các em, giúp các em có thêm kiến thức mới về cuộc sống
xung quanh.
Khi các em tham gia vào quá trình kể chuyện lời nói của các phát triển hơn, ngôn
ngữ trau truốt hơn. Từ đó khả năng giao tiếp của các em sẽ ngày một phát triển hơn.
b) Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện
Kể chuyện có liên quan đến nhu cầu của các em, kể chuyện giúp các em phát
triển, hình thành nhân cách, bồi dưỡng phát triển thẩm mĩ cho các em.
Kể chuyện là một phân môn luôn hấp dẫn các em. Từ thuở còn hai, ba tuổi các
em đã thích nghe kể chuyện. Những câu chuyện cổ tích hằng đêm của các bà, các mẹ
luôn là kỉ niệm đẹp mà các em sẽ chẳng bao giờ quên. Các em được sống cùng các
nhân vật cổ tích, được tham gia hòa mình vào những chuyến phiêu lưu kì thú, được
gặp những nàng công chúa đẹp xinh và chàng hoàng tử dũng cảm. Lớn lên khi biết
đọc, biết viết các em được đọc rất nhiều câu chuyện hay, tuy nhiên những câu chuyện
kể về vùng đất mới, vùng đất của sự sáng tạo, vẫn luôn hấp dẫn các em.
Kể chuyện có sức mạnh to lớn, trong các câu chuyện cổ tích những tính cách của
các nhân vật trong chuyện luôn là mẫu hình lí tưởng của các em, có ảnh hưởng sâu sắc
đến tính cách và tình cảm của các em, kể chuyện còn đem lại những xúc cảm thẩm mĩ
lành mạnh.
Kể chuyện góp phần tích lũy vốn văn học, mở rộng vốn sống cho các em.
Giờ kể chuyện giúp cho trẻ sớm tiếp xúc với tác phẩm văn học. Suốt 5 năm ở bậc
tiểu học, HS được nghe và tham gia kể hàng trăm câu chuyện với đủ thể loại, gồm tác

Những nghiên cứu tâm lí học cho phép xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập.
Để quá trình giao tiếp đạt được hiệc quả cao thì yếu tố tâm lý cũng đóng vai trò
rất quan trọng. Ở giai đoạn này các em vừa chuyển từ hoạt động chính là vui chơi sang
hoạt động chính là học tập. Mặc dù các em bước đầu đã biết sử dụng ngôn ngữ để học
tập và giao tiếp, tuy nhiên quá trình giao tiếp giữa học sinh và giáo viên, giữa học sinh
với bạn bè xung quanh còn gặp một số trở ngại nhất định. Học sinh ở Trường Tiểu học
Chiềng Sinh có rất nhiều em là người dân tộc thiểu số, vốn từ ngữ tiếng Việt còn hạn
chế, các em còn sử dụng tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ giao tiếp chính. Điều đó gây trở
ngại lớn cho việc hòa nhập cuộc sống cộng đồng của các em trong môi trường nhà
trường và môi trường xã hội. Đây là đặc điểm tâm lí rất quan trọng mà mỗi người giáo
viên cần nắm bắt để có phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học là phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh nhằm tạo môi trường rèn luyện cả bốn kỹ năng sử
dụng tiếng Việt.
9


Muốn vậy giáo viên phải tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh như quan
sát thực hành giao tiếp, thảo luận, đóng vai... để chiếm lĩnh được kiến thức mới thông
qua đó rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Ứng với quan điểm này sẽ có hệ
thống phương pháp dạy học cụ thể. Việc lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào
từng đối tượng học sinh, theo từng bài dạy, điều kiện vật chất của mỗi địa phương,...
mới đạt hiệu quả cao trong việc nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh nói riêng và
nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Theo các nhà nghiên cứu tâm sinh lí trẻ em,
từ bảy tuổi trở đi tư duy trẻ em có sự thay đổi kéo theo việc học ngôn ngữ cũng thay
đổi. Thời điểm này, trường tiểu học trở thành môi trường giáo dục tốt nhất trong việc
giúp các em phát triển vốn từ, mở rộng hiểu biết vế tự nhiên, xã hội, dần hình thành tư
tưởng đạo đức, tình cảm tốt đẹp... do đó việc học tiếng Việt và rèn kỹ năng tiếng Việt
ở tiểu học cần dựa trên nền tảng vốn sống, kinh nghiệm sử dụng ngôn ngữ của học
sinh để tiếp tục phát huy vốn ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, tư duy cho học sinh tiểu

biệt là HS dân tộc vùng cao, HS đầu tiểu học những lỗi tiếng Việt này càng phổ biến vì
các em khó khăn trong chuyển chữ viết thành lời nói, vốn sống của các em còn ít, chưa
được gia đình quan tâm. Từ phân tích trên GV cần quan tâm pháy huy yếu tố tích cực
và hạn chế những tiêu cực trong giao tiếp của HSTH nói chung và học sinh lớp 3 nói
riêng giúp các em ngày càng tiến bộ, hòa nhập cuộc sống tốt hơn.
a2. Đặc điểm giao tiếp của học sinh Trường Tiểu học Chiềng Sinh
Đặc điểm về vốn từ: Qua quá trình kiểm tra phiếu điều tra và tiếp xúc với các em
HS chúng tôi nhận thấy các em HS trường TH Chiềng Sinh có vốn từ tương đối phong
phú, các em đã biết sử dụng khá thành thạo tiếng Việt khi giao tiếp, một số em có vốn
từ ngữ phong phú hơn khi giao tiếp với chúng tôi. Tuy nhiên, các em vẫn còn những
hạn chế. Đa số các em là HS dân tộc nên bị ảnh hưởng nặng của tiếng mẹ đẻ, trong khi
giao tiếp còn phát âm chưa chuẩn nhiều từ, tiếng như: th - t (thứ - tứ), v - b (vào - bào),
uô - u (uống - úng), l - đ (lần - đần), a - e (bảng - bẻng), trong khi giao tiếp còn nói
trống không không có đủ chủ ngữ - vị ngữ.
Khi trao đổi với giáo viên về việc kể chuyện của các em trên lớp tôi được biết,
khi kể chuyện các em chỉ đọc lại câu chuyện hoặc dựa vào lời kể mẫu của giáo viên và
kể lại chứ không phải các em tự kể lại bằng ngôn ngữ của chính bản thân các em.
b. Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học:
Sau khi khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng đa số các em có hứng thú trong học Kể
chuyện vì đây là môn học phù hợp với tâm lí các em, qua môn học này các em không
chỉ được cung cấp thêm kiến thức mà còn là thời gian để các em giải trí. Bên cạnh đó
các em lại thiếu mạnh dạn trong giao tiếp, các em chưa tự tin đứng trước đám đông,
còn rụt rè, e ngại khi đứng trước lớp kể lại một câu chuyện.

11


b1. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người (nhận thức,
tình cảm, hành động) nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có quan hệ chặt chẽ



dấu hiệu bên ngoài và đượm màu sắc xúc cảm như là những dấu hiệu bản chất để hợp
nhất các đối tượng không dựa vào dấu hiệu chung, bản chất của chúng mà dựa vào
những dấu hiệu chung giống nhau ngẫu nhiên hay chức năng. Đó cũng là nguyên nhân
của những sai lầm thường xảy ra ở trẻ trong quá trình lĩnh hội khái niệm.
b3. Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học
“Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật, hiện tượng để
định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh – tâm lí cần thiết cho hoạt động
tiến hành có hiệu quả”[2.Tr 137].
Ở các lớp đầu tiểu học chú ý của học sinh chưa bền vững, chủ yếu là chú ý không
chủ định. Chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế ở học sinh tiểu
học. Trong quá trình học tập (nhất là môn Tiếng Việt), những điều mới mẻ, bất ngờ,
rực rỡ đều dễ dàng cuốn hút sự chú ý của trẻ mà không cần bất kì sự nỗ lực nào của
chú ý.
Môn Tiếng Việt mang lại cho các em rất nhiều điều hấp dẫn thông qua cả kênh
hình và kênh chữ. Đó là hệ thống vô cùng phong phú của các hình ảnh trong mỗi bài
học, dù là bài tập đọc, tập viết, luyện từ và câu hay các phân môn khác đều có hình ảnh
minh họa cho các em rất sinh động. Học tiếng Việt các em còn được nghe kể về các
câu chuyện ở những miền xa xôi, mới lạ mà các em chưa từng biết đến. Giáo viên cần
khai thác hết những thuận lợi này để cuốn hút các em vào bài học cũng chính là khắc
phục khó khăn về duy trì khả năng chú ý của học sinh trong các giờ Kể chuyện.
Từ những phân tích về đặc điểm tâm lí của HS nói trên ta thấy nó ảnh hưởng
quan trọng tới khả năng tiếp thu bài học của HS. Mỗi bài học phải có những phương
pháp linh hoạt, cách tổ chức sáng tạo, luôn có sự mới mẻ thì mới kích thích được hứng
thú của các em học tập. Đặc điểm tâm lí đó GV cần cho các em trực tiếp nhập vai vào
trong mỗi câu chuyện dù là bài tập đọc hay bài kể chuyện để các em được thể hiện vai
của nhân vật, biến câu chuyện thành tình huống thực tế có như vậy các em mới mạnh
dạn hơn, hòa đồng hơn với cuộc sống xung quanh.
1.1.2. Cơ sở triết học Mác – Lênin về chức năng của ngôn ngữ

nói cần có nội dung, đó chính là tư duy. Tư duy tốt thì giao tiếp sẽ tốt.
Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác – Lênin dạy rằng: Con đường biện chứng của
nhận thức chân lí khách quan đi qua hai giai đoạn: Nhận thức cảm tính và nhận thức lí
tính, đồng thời cũng chỉ ra thực tiễn là cội nguồn, động lực của nhận thức, cũng là tiêu
chuẩn của chân lí, là đỉnh cao và mục đích cuối cùng của nhân thức. Đây là cơ sở của
nguyên tắc trực quan trong dạy tiếng Việt và cũng là cơ sở để đề ra nguyên tắc phải
tính đến đặc điểm của tiếng mẹ đẻ của học sinh trong quá trình dạy học tiếng Việt.
Ta thấy, tư duy của HSTH là tư duy trực quan hình tượng, đi từ cụ thể sinh động
tới khái quát trừu tượng điều này buộc người giáo viên (GV) trong quá trình giảng dạy
14


phải lựa chọn phương pháp trực quan, phù hợp với đối tượng HS thì mới đạt hiệu quả
học tập.
1.1.2.2. Những quan điểm giáo dục hiện đại
a. Quan điểm về người dạy - người học
Theo quan điểm giáo dục hiện đại hiện nay quan điểm về người dạy - người học
đã có sự thay đổi, nhằm phát huy tối đa khả năng và tính tích cực của người học. Quan
điểm đó được biểu hiện cụ thể như sau:
a1. Quan điểm về người dạy
Theo chương trình giáo dục hiện đại ngày nay thì giáo viên không còn là trung
tâm của quá trình dạy - học mà giáo viên là người tổ chức, chỉ đạo quá trình học tập
của học sinh, hướng dẫn các em nắm bắt tri thức mới và rèn luyện ngôn ngữ bằng
nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp trực quan, phương pháp hỏi đáp
(đàm thoại), phương pháp đóng vai…Từ các phương pháp giáo viên đưa ra học sinh sẽ
được làm việc nhiều hơn, các em sẽ tích cực, chủ động, sáng tạo hơn để chiếm lĩnh
được tri thức từ đó phát huy lợi thế của học sinh.
Các phương pháp dạy học được GV vận dụng linh hoạt giúp đem lại hiệu quả
học tập tốt hơn cho HS, đặc biệt giúp các em rèn luyện kĩ năng về ngôn ngữ, các em sẽ
được hướng dẫn kĩ năng giao tiếp để từ đó các em hoàn thiện ngôn ngữ mình hơn.

phú và ngược lại khi vốn từ của các em phong phú thì khả năng tư duy của các em sẽ
tốt hơn, từ đó giải quyết các yêu cầu của giáo viên tốt hơn.
Như vậy, quan điểm giáo dục hiện đại góp phần vào việc nâng cao năng lực giao
tiếp cho các em, rèn cho các em khả năng tự tin, trình bày tốt các vấn đề trước đám
đông.
b. Các nguyên tắc dạy học hiện đại
Các nguyên tắc được hình thành trên cơ sở các quy luật tự nhiên và xã hội, được
con người nhận thức, phản ánh nhằm hướng hoạt động tới mục đích cuối cùng đề ra.
Nguyên tắc dạy học tiếng Việt là những quan điểm lí thuyết cơ bản, xuất phát để làm
chỗ dựa cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp, biện pháp và phương tiện, hình
thức dạy học tiếng Việt.
Những nguyên tắc đặc trưng của quá trình dạy học tiếng Việt ở tiểu học phải
phản ánh được đặc trưng của quá trình dạy học tiếng Việt, chi phối và bao trùm lên tất
cả quá trình đó.
b1. Nguyên tắc giao tiếp (nguyên tắc phát triển lời nói, nguyên tắc thực hành)
Trong quá trình dạy học tiếng Việt, việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học
phải lấy hoạt động giao tiếp làm mục đích, tức là giáo viên phải hướng vào việc hình
thành các kĩ năng nghe - nói - đọc - viết cho học sinh. Đối với các lớp đầu tiểu học,
các em tư duy còn đơn giản vì vậy để thực hiện được nguyên tắc giao tiếp giáo viên
16


cần xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đưa chúng vào đơn
vị lớn hơn. Vì vậy giáo viên phải tổ chức hoạt động nói năng của học sinh để dạy tiếng
Việt nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạy học chủ đạo ở tểu học.
Vậy dạy học tiếng Việt phải hướng tới mục đích cuối cùng là hình thành kĩ năng
giao tiếp cho HS. GV phải tạo mọi điều kiện để HS được rèn luyện kĩ năng tiếng Việt,
được giao tiếp trong những tình huống cụ thể, qua đó GV nắm được khả nawg của các
em và điều chỉnh cho phù hợp.
b2. Nguyên tắc phát triển tư duy (nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn

cách dạy phù hợp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ tiếng Việt.
Chúng ta đều biết, dạy tiếng mẹ đẻ là quá trình sản sinh và lĩnh hội ngôn ngữ cho
người học. Để dạy tiếng Việt ở tiểu học, chúng ta cần nghiên cứu các lỗi sử dụng tiếng
Việt của học sinh, xác định được những khó khăn mà các em gặp phải khi nắm các
khái niệm và sử dụng các đơn vị ngôn ngữ được học trong chương trình, những lỗi khi
nhận diện và nguyên nhân ki mắc lỗi, từ đó tìm cách chỉnh sửa các lỗi và đề ra các
điểm cần điều chỉnh về nội dung, phương pháp để giúp các em không bị vướng mắc
trong quá trình sử dụng lời nói, ngôn ngữ giao tiếp của mình.
Từ phân tích trên ta thấy việc đi sâu tìm hiểu và nắm được đặc điểm tâm lí cũng
như trình độ tiếng mẹ đẻ của HS sẽ giúp GV có những phương pháp dạy học phù hợp
để phát triển ngôn ngữ, lời nói cho các em HS.
c. Các phương pháp dạy học hiện đại
Theo quan điểm dạy học hiện đại hiện nay thì việc dạy học phải hướng đến lấy
người học làm trung tâm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho người học muốn vậy phải đổi
mới cách thức dạy và học. Phải có phương pháp dạy học mới để phát huy tối đa tính
tích cực của người học. Tuy nhiên cũng không phủ nhận hoàn toàn các phương pháp
dạy học cũ mà là sự kết hợp nhịp nhàng giữa phương pháp mới và cũ để bổ sung và
khắc phục nhược điểm cho nhau. Một số phương pháp dạy học hiện đại như: Phân tích
ngôn ngữ, rèn luyện theo mẫu, giao tiếp, trò chơi học tập, thảo luận nhóm, nêu vấn đề.
c1. Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp phân tích ngôn ngữ là phương pháp dưới sự hướng dẫn của giáo
viên học sinh phát hiện ra các hiện tượng ngôn ngữ nhất định để phát hiện đặc trưng
của chúng, được sử dụng ở tất cả các phân môn của tiếng Việt. Phương pháp này giúp
các em nắm bắt được các mặt của ngôn ngữ: ngữ âm, ngữ pháp, chính tả, cấu tạo từ...
với mục đích làm rõ các kiểu cấu trúc ngôn ngữ, hình thức và cách thức cấu tạo, ý
nghĩa của từ trong nói năng. Phương pháp này gồm các bước: quan sát ngôn ngữ, phân
tích ngữ âm, phân tích ngữ pháp, phân tích chính tả, phân tích tập viết... đó cũng là bộ
phận tạo thành các dạng bài tập (tập đọc, tập viết....). Phương pháp này giúp các em
nắm vững cấu tạo từ, chính tả không bị nhầm lẫn khi sử dụng từ.
18

theo mẫu lời nói để giải quyết các bài tập, rèn kĩ năng hoặc tạo ra lời nói của mình.
Các em sẽ dựa vào đơn vị ngôn ngữ, lời nói mô phỏng của giáo viên, sách giáo khoa
để tạo ra lời nói của mình. Phương pháp này có nhiều dạng bài tập khác nhau: Đặt câu
theo mẫu, phát âm, đọc diễn cảm theo mẫu của giáo viên. Được sử dụng nhiều nhất
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status