VẬN DỤNG LINH HOẠT CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở BỘ MÔN CÔNG NGHỆ 8 - Pdf 52

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO SÔNG LÔ
TRƯỜNG THCS TỨ YÊN
=============

Báo cáo chuyên đề :
VẬN DỤNG LINH HOẠT CÁC PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC Ở BỘ MÔN CONG NGHỆ 8

Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị : Trường THCS Tứ Yên

1


Tứ Yên, tháng 11 năm 2018
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài
1. Cơ sở lí luận
Công nghiệp là ngành kinh tế hết sức quan trọng trong ngành kinh tế quốc dân, nó
cung cấp các vật liệu, máy móc, thiết bị, đồ dùng, chế tạo các nguồn năng lượng,…cho
các ngành sản xuất dịch vụ và nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội.
Vì thế, bản thân là giáo viên giảng dạy môn công nghệ 8, tôi cần lựa chọn những
phương pháp dạy học nào phù hợp nhất để giúp các em lĩnh hội tốt một số kiến thức,
kỹ năng cơ bản về kỹ thuật công nghiệp nhằm tạo mầm xanh thúc đẩy chuyển đổi cơ
cấu kinh tế nhanh chóng. Ngoài ra, nó còn góp phần hướng nghiệp cho các em sau khi
tốt nghiệp THCS. Một bộ phận sẽ vào học các lĩnh vực như giáo dục phổ thông, giáo
dục nghề nghiệp, số còn lại sẽ đi vào cuộc sống lao động. Trên tinh thần đó, môn công
nghệ 8 cần trang bị cho học sinh một số kiến thức cơ bản về vẽ kĩ thuật, cơ khí, kĩ thuật
điện, gắn liền với thực tiễn sản xuất và đời sống hằng ngày, nhằm hình thành cho các
em một số kĩ năng lao động nghề nghiệp. Trong quá trình giảng dạy môn công nghệ 8

môn công nghệ 8 tôi thường “Tận dụng hết khoảng thời gian cho từng hoạt động lên
lớp” thông qua việc chế tạo, sử dụng thiết bị, huy động được nhiều giác quan của học
sinh để học sinh có thể tiếp thu được nhiều kiến thức trong cùng một khoảng thời gian
ngắn. Là một giáo viên được đào tạo theo chuyên ngành Công nghệ sau nhiều năm
công tác tại trường THCS Tứ Yên, trực tiếp giảng dạy môn Công Nghệ 8. Bản thân tôi
luôn trăn trở với việc làm như thế nào để học sinh hứng thú với môn học này và nâng
cao chất lượng môn học, phục vụ tốt hơn cho cuộc sống tương lai của học sinh. Từ
những lý do trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Vận dụng linh hoạt các phương pháp
dạy học ở bộ môn công nghệ 8”.
II. Mục đích
Tạo cho học sinh hứng thú với môn học và nâng cao chất lượng môn Công nghệ 8,
phục vụ tốt hơn cho cuộc sống tương lai của học sinh.
Nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy môn công nghệ là một vấn đề luôn được sự
quan tâm của nhiều giáo viên khi giảng dạy môn công nghệ ở lớp 8, đây là một vấn đề
đã được sự quan tâm nghiên cứu từ lâu nhưng thực tế hiệu quả giảng dạy môn này vẫn
chưa cao vì vậy tôi đã tiếp tục nghiên cứu đề tài: “Vận dụng linh hoạt các phương pháp
dạy học ở bộ môn công nghệ 8”.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1. Phạm vi
Do thời gian có hạn tôi chỉ đề cập đến một khía cạnh nhỏ là “Vận dụng linh hoạt
các phương pháp dạy học ở bộ môn công nghệ 8”, cụ thể bài dạy:
“Tiết 43 bài 48: Sử dụng hợp lí điện năng”
2. Đối tượng nghiên cứu
- Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học ở bộ môn công nghệ 8.
- Học sinh khối lớp 8, Trường THCS Tứ Yên .
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Đặc điểm tình hình
1. Những mặt thuận lợi
- Được sự quan tâm sâu sát và chỉ đạo trực tiếp của Ban giám hiệu và các đoàn thể
nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy của giáo viên và học của học sinh.

hình thực tế của nhà trường và phù hợp với đối tượng học sinh,…
Đối với môn công nghệ 8, thường được áp dụng các phương pháp như sau:

4


1. Phương pháp gợi mở- vấn đáp (đàm thoại).
Là quá trình tương tác giữa GV và HS, được thực hiện qua hệ thống câu hỏi và câu
trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định.
Quy trình thực hiện:
 Trước giờ học:
- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và đối tượng dạy học. Xác định các đơn vị kiến
thức kỹ năng cơ bản trong bài học và tìm cách diễn đạt các nội dung này dưới dạng
câu hỏi gợi ý, dẫn dắt HS.
5


- Bước 2: Dự kiến nội dung các câu hỏi, hình thức hỏi, thời điểm đặt câu hỏi, trình tự
của các câu hỏi. Dự kiến nội dung các câu trả lời của HS, các câu nhận xét hoặc trả
lời của GV đối với HS.
- Bước 3: Dự kiến những câu hỏi phụ để tuỳ tình hình từng đối tượng cụ thể mà tiếp
tục gợi ý, dẫn dắt HS.
 Trong giờ học:
- Bước 4: GV sử dụng hệ thống câu hỏi dự kiến (phù hợp với trình độ nhận thức của
từng loại đối tượng HS) trong tiến trình bài dạy và chú ý thu thập thông tin phản hồi từ
phía HS.
Sau giờ học:
Giáo viên chú ý rút kinh nghiệm về tính rõ ràng, chính xác và trật tự logic của hệ
thống câu hỏi đã được sử dụng trong giờ dạy để rút kinh nghiệm cho các tiết học sau.
Ưu điểm- Hạn chế của PP gợi mở – vấn đáp :

nhàm chán,…
Học sinh phải trả lời cụ thể, đầy đủ theo yêu cầu nội dung câu hỏi. Nếu học sinh
trả lời thừa sẽ ảnh hưởng đến các câu sau dẫn đến học sinh không nắm vững nội dung
của bài học.
Cùng một nội dung học tập, với cùng một mục đích như nhau, GV có thể sử dụng
nhiều dạng câu hỏi với nhiều hình thức hỏi khác nhau. Bên cạnh những câu hỏi chính
cần chuẩn bị những câu hỏi phụ.
Hệ thống câu hỏi phải lôi cuốn học sinh vào tình huống có vấn đề để tìm cách giải
quyết vấn đề nhằm kích thích các em say mê nghiên cứu khoa học.
2. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề.
Dựa vào mục tiêu của bài, giáo viên đưa ra một số tình huống có vấn đề như:
Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, thực hành hoặc hoạt động thực tiễn; Lật ngược vấn
đề; Xét tương tự; Khái quát hoá; Khai thác kiến thức cũ; Đặt vấn đề dẫn đến kiến thức
mới; Giải bài tập mà chưa biết thuật giải trực tiếp, tìm sai lầm trong lời giải, phát hiện
nguyên nhân sai lầm và sửa chữa sai lầm... Tuỳ thuộc vào đặc điểm của môn học, bài
học, vào đối tượng HS và hoàn cảnh cụ thể mà đưa ra các tình huống thích hợp. Không
nên yêu cầu HS tự khám phá tất cả các tri thức qui định trong chương trình. Có thể có
sự giúp đỡ của GV với mức độ nhiều ít khác nhau. HS được học không chỉ kết quả mà
điều quan trọng hơn là cả quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề. Học sinh tìm tòi giải
quyết được một số tình huống có vấn đề đó nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo,
năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, tạo ra những hoạt động phong phú, hấp dẫn,
nhằm khơi dậy hứng thú, lòng ham học tập, tìm tòi, kích thích tư duy sáng tạo của học
sinh. Để áp dụng được phương pháp này thì cả thầy và trò phải đảm bảo các yêu cầu
sau:
- Người thầy phải có kiến thức sâu rộng, xác định được bản chất và trọng tâm của
vấn đề, chuẩn bị tốt các điều kiện dạy học cụ thể, từ đó có thể lấy các tình huống xảy ra
khi đang giảng dạy sẽ thu hút học sinh hơn.
- Trò phải tập trung chú ý, có hứng thú học tập, có nhu cầu học tập, có trình độ,
năng lực tiếp thu bài nhất định.
3. Phương pháp trực quan.

 Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp trực quan:
- Từng động tác và cử chỉ của giáo viên cũng là một phương tiện trực quan, vì thế
giáo viên cần kết hợp các động tác giảng dạy của mình phù hợp với nội dung cần
truyền đạt.
- Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu GD của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan
tương ứng thích hợp.
- Có PP thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan.
- HS phải quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan. Phát huy tính tích cực của HS khi sử
dụng đồ dùng trực quan.
- Đảm bảo kết hợp lời nói sinh động với việc trình bày các đồ dùng trực quan.
- Tuỳ theo yêu cầu của bài học và loại hình đồ dùng trực quan mà có các cách sử
dụng khác nhau.
- Cần xác định đúng thời điểm để đưa đồ dùng trực quan, và cất đồ dùng trực quan
khi không sử dụng.
- Sử dụng các đồ dùng trực quan cần theo một quy trình hợp lý. Cần chuẩn bị câu
hỏi hệ thống câu hỏi dẫn dắt HS quan sát và tự khai thác kiến thức.
- Cần chú ý tận dụng thời gian đặt câu hỏi hoặc định hướng quan sát trong khi trình
bày đồ dùng trực quan hoặc chốt lại nội dung chính cần truyền tải đến học sinh trong
khi thu dọn đồ dùng trực quan. Hoặc làm bảng phụ sao cho học sinh có thể ghi câu trả
8


lời ngay trên đó mà có thể bôi xoá được để sử dụng cho các tiết khác và có đáp án để
đối chiếu với kết quả của học sinh nhằm tiết kiệm thời gian.
4. Phương pháp thảo luận.
Giáo viên chuẩn bị một hoặc vài câu hỏi, bản vẽ hoặc vấn đề nào đó cho học sinh
thảo luận theo tổ, theo nhóm, thảo luận cặp để hoàn thành
Quy trình thực hiện:
 Bước 1: Làm việc chung cả lớp.
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.

 Tạo điều kiện để các nhóm tự đánh giá lẫn nhau hoặc cả lớp cùng đánh giá.
 Không nên lạm dụng hoạt động nhóm và cần đề phòng xu hướng hình thức (tránh lối
suy nghĩ: đổi mới PPDH là phải sử dụng hoạt động nhóm).
 Tuỳ theo từng nhiệm vụ học tập mà sử dụng hình thức HS làm việc cá nhân hoặc hoạt
động nhóm cho phù hợp.
9


 Để tận dụng thời gian thì giáo viên cần chuẩn bị sẵn phiếu học tập.

Xác
định
liệuhành:
cho luyện tập và thực hành
5. Phương pháp
luyện
tậptàithực
 Ưu và nhược điểm của phương pháp luyện tập và thực hành:
Ưu
điểm
Nhược
điểm
Giới
thiệu mô hình luyện tập hoặc thực
hành
- Là phương pháp có hiệu quả dễ mở - Dễ làm cho HS nhàm chán nếu GV
rộng sự liên tưởng và phát triển kĩ năng. không nêu mục đích một cách rõ ràng
Thực hành hoặc luyện tập sơ bộ
- Luyện tập và thực hành có hiệu quả và có sự khuyến khích cao. Dễ tạo tâm
trong việc củng cố trí nhớ, tinh lọc và lí phụ thuộc vào mẫu, hạn chế sự sáng

Được dùng để giải thích một khái niệm, một ký hiệu, qui ước, diễn tả các bước tiến
hành,… hoặc được dùng phối hợp với phương pháp trực quan để hướng dẫn trên mẫu
vật hoặc mô hình. Khi sử dụng phương pháp này nghệ thuật của giáo viên có vai trò rất
quan trọng, nếu giảng dạy hấp dẫn có thể làm cho học sinh có một sắc thái độc đáo,
gây ấn tượng mạnh mẽ đối với học sinh. Tuy nhiên, học sinh sẽ thụ động trong giờ
học, không phát triển khả năng tư duy, khả năng tự học, tìm tòi kiến thức mới. Vì thế,
giáo viên cần hạn chế tối đa phương pháp truyền thống này.
Giáo viên cần chuẩn bị tốt và đa dạng các phương tiện dạy học. Tuỳ trường hợp ta
có thể phối hợp phương pháp trực quan với phương pháp đàm thoại, giảng giải hoặc
thảo luận,… trong một hoạt động có thể phối hợp nhiều phương pháp để tránh nhàm
chán và kích thích sự hứng thú trong một tiết học.
Ngoài các phương pháp trên, còn có thể vận dụng các phương pháp khác như:
Phương pháp trò chơi hoặc một số kĩ thuật dạy học đã tập huấn. Bên cạnh đó còn thực
hiện theo quan điểm đổi mới phương pháp dạy học như sau:

11


trên, còn có thể vận dụng các phương pháp khác như: Phương pháp trò chơi, hoặc một
số kĩ thuật dạy học đã tập huấn. Bên cạnh đó còn thực hiện theo quan điểm đổi mới các
phương pháp dạy học như sau:

III. Biện pháp tổ chức thực hiện.
Như đã nói trên, không có một phương pháp dạy học nào là vạn năng, không có nhược
điểm này thì cũng có nhược điểm khác. Vì thế tuỳ từng nội dung bài mà ta lựa chọn và
vận dụng phối hợp các phương pháp sau cho phù hợp. Tôi sẽ lấy một vài ví dụ minh
hoạ như sau:
 Đối với bài 2: “Hình chiếu”.
Bài này có nhiều kiến thức cơ bản để sau này đọc bản vẽ. Để học sinh nắm vững
các mặt phẳng chiếu thì trong tiết dạy chuẩn bị một số đồ dùng trực quan như tranh vẽ

phẳng chiếu bằng ở dưới hình chiếu đứng; Để tìm hình chiếu cạnh thì chiếu hướng từ
trái sang vì mặt phẳng chiếu cạnh ở bên phải hình chiếu đứng.
 Đối với bài 21: Cưa và đục kim loại.
13


Bài này giáo viên cần kết hợp nhiều phương pháp như phương pháp thực hành,
phương pháp vấn đáp, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp trực quan,…
- VD1: Cho học sinh quan sát 2 lưỡi cưa và cho biết tại sao răng lưỡi cưa kim loại tại
sao nhỏ và nhiều răng hơn lưỡi cưa gỗ? Hoặc tại sao thao tác đẩy thì ấn cưa và khi kéo
thì không ấn cưa?
- VD2: Giáo viên đưa ra tình huống là: Lúc ban đầu vật trước khi dũa thì bề mặt nó
phẳng nhưng sau 1 thời gian dũa thì bề mặt nó cong, em nào hãy giải thích hiện tượng
trên? Hoặc ở phần tư thế đứng và thao tác cưa, giáo viên cần thao tác mẫu cho học sinh
quan sát và gọi 1 vài học sinh lên thực hành và các em ở dưới quan sát để nhận xét, từ
đó học sinh nắm được các kỹ thuật dũa và rèn luyện được kỹ năng dũa cho học sinh.

 Bài giảng minh họa:
TIẾT 43 BÀI 48: SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐIỆN NĂNG
I. Mục tiêu:
Học xong bài này học sinh:
- Biết sử dụng điện năng một cách hợp lý.
- Có ý thức sử dụng điện hợp lý, tiết kiệm điện năng để góp phần ứng phó với biến đổi
khí hậu.
- Hình thành thói quen tiết kiệm điện năng để hạn chế biến đổi khí hậu
II. Chuẩn bị:
+ Thầy: - Giáo án, SGK, tài liệu tham khảo, phiếu học tập.
- Máy chiếu, một số hình ảnh liên quan đến bài học.
+ Trò: Chuẩn bị dụng cụ học tập, trả lời các câu hỏi.
III. Hoạt động trên lớp:

“2. Những đặc điểm của giờ cao điểm”.
GV trình chiếu câu hỏi sau lên máy chiếu
cho HS làm: Em hãy cho biết khi điện áp
của mạng điện bị giảm xuống, sự phát
sáng của đèn điện, tốc độ quay của quạt
điện, thời gian đun sôi nước của bếp điện
sẽ như thế nào?
HS trả lời câu hỏi, HS khác nhận xét.
GV nhận xét và trình chiếu đáp án.
Theo em có biện pháp nào để sử dụng hợp
lý điện năng?
HS trả lời câu hỏi, hs khác nhận xét.
GV kết luận.
Tại sao phải giảm bớt tiêu thụ điện năng
trong giờ cao điểm ?Phải thực hiện bằng
biện pháp gì?
HS: Trả lời, lấy những dẫn chứng cụ thể
cho từng trường hợp cụ thể, liên hệ thực tế
bản thân và gia đình áp dụng được những
gì.
Ngoài các biện pháp trên em còn biết thêm
biện pháp gì?
HS trả lời.

- Trong ngày có những giờ tiêu
thụ điện năng nhiều. Những giờ
đó gọi là giờ “Cao điểm”.
- Giờ cao điểm trong ngày:
Từ 18giờ đến 22 giờ.


Để chiếu sáng trong nhà, công sở nên dùng
đèn ống huỳnh quang hay đèn sợi đốt để
tiết kiệm điện năng? Tại sao?
HS: Trả lời câu hỏi, HS khác nhận xét.
GV nhận xét và chiếu kết quả cho hs.
GV: Trong thực tế sử dụng thế nào là tiết
kiệm điện năng?

2. Sử dụng đồ dùng điện hiệu suất
cao để tiết kiệm điện năng.
- Sử dụng đồ dùng điện hiệu suất
cao sẽ ít tốn điện năng.
Ví dụ: Để chiếu sáng đèn ống
huỳnh quang tiêu thụ điện năng ít
hơn bốn đến năm lần đèn sợi đốt.

3. Không sử dụng lãng phí điện
năng.
- Không sử dụng các đồ dùng
GV: Yêu cầu HS làm bài tập trắc nghiệm điện khi không có nhu cầu.
SGK.
GV phát phiếu học tập nội dung câu hỏi
như SGK cho các nhóm thảo luận và trả
lời.
HS các nhóm báo cáo kết quả, Thảo luận
chung.
GV nhận xét kết quả của các nhóm và kết
luận (chiếu kết quả trên máy chiếu).
Hãy nêu các việc làm tiết kiệm điện năng
mà em cần phải thực hiện tại lớp học và

II. Bài học kinh nghiệm.
+ Cần chú ý đến nhiều đối tượng học sinh để đảm bảo sự đồng đều giữa các học
sinh. Cần cho một số bài tập hoặc câu hỏi nâng cao cho một số học sinh khá giỏi để
kích thích học sinh tìm tòi nghiên cứu và một số bài tập hoặc câu hỏi đơn giản cho học
sinh yếu, kém có cơ hội phát biểu..
+ Phải thường xuyên kiểm tra kiến thức cơ bản ở các bài học trước có liên quan ở
bài mới.
+ Cần yêu cầu học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà thông qua một số nội dung trọng
tâm hoặc câu hỏi nào đó.
+ Cần kiểm tra thường xuyên các yêu cầu mà giáo viên dặn học sinh ở tiết học
trước.
+ Giáo viên cần thường xuyên cập nhật thông tin từ báo, đài, từ hoạt động thực
tiễn, tham khảo các tài liệu chuyên môn để có được kiến thức phong phú, đủ khả năng
để liên hệ thực tế và giải quyết được nhiều tình huống trong thực tiễn dạy học.
+ Giáo viên cần tận dụng tối đa các thiết bị sẵn có và tự làm thêm một số thiết bị
phục vụ cho việc dạy học.
III. Ý kiến đề xuất.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi, chắc chắn không tránh khỏi những
thiếu sót, vì vậy kính mong các đồng nghiệp góp ý bổ sung để cùng nhau đưa chất
lượng bộ môn công nghệ nói riêng và chất lượng học sinh nói chung lên tầm cao hơn
nhằm góp phần thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước.
Do thời gian có hạn, nhận thức của bản thân chưa sâu cho nên việc trình bày lí luận
còn hạn chế mong sự đóng góp xây dựng nhiệt tình của các đồng chí giúp chuyên đề
được hoàn thiện hơn.
17


Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tứ Yên, ngày 15 tháng 11 năm 2018
Người thực hiện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status