TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
----------
ĐẶNG THỊ VIỆT TRINH
SỬ DỤNG TRUYỀN THUYẾT TRONG DẠY HỌC
PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Quảng Nam, tháng 04 năm 2018
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn của mình tới Ban
Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Khoa Tiểu học – Mầm non Trường Đại học Quảng
Nam cùng toàn thể các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến Cô Lê Thị Bình –
Người đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện của các
Thầy, Cô giáo trường Tiểu học Trần Quốc Toản, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Trong suốt thời gian thực nghiệm tại trường, các thầy cô và các em học sinh đã
nhiệt tình hợp tác, hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập tài liệu phục vụ cho nghiên
cứu đề tài.
Thiết tha bày tỏ lời tri ân sâu sắc đến ba mẹ và những người thân trong gia
đình đã luôn quan tâm, yêu thương và tạo mọi điều kiện cho tôi học tập. Cảm ơn
những người bạn đã góp ý, trao đổi và động viên tôi trong quá trình nghiên cứu.
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận...........................................................3
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.......................................................3
5.3. Phương pháp thống kê toán học......................................................................4
6. Lịch sử vấn đề nghiên cứu................................................................................4
7. Đóng góp của đề tài..........................................................................................5
8. Giới hạn phạm vi nghiên cứu............................................................................5
9. Cấu trúc tổng quan của đề tài............................................................................6
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.................................................................................7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
TRUYỀN THUYẾT TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 4...........7
1.1. Cơ sở lý luận..................................................................................................7
1.1.1. Một số vấn đề chung về sử dụng truyền thuyết..........................................7
1.1.2. Các phương pháp dạy học chủ yếu trong dạy học Lịch sử lớp 4...............13
1.1.3. Đặc điểm nhận thức của học sinh giai đoạn lớp 4, 5.................................14
1.2. Cơ sở thực tiễn.............................................................................................17
1.2.1.Mục tiêu và nội dung dạy học phân môn Lịch sử lớp 4..............................17
1.2.2.Thực trạng sử dụng truyền thuyết trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4. 19
CHƯƠNG 2. BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TRUYỀN THUYẾT VÀO DẠY HỌC
MÔN LỊCH SỬ LỚP 4.......................................................................................35
2.1. Cơ sở đề xuất biện pháp...............................................................................35
2.1.1. Mục tiêu dạy học Lịch sử lớp 4................................................................35
2.1.2. Nội dung phân môn Lịch sử lớp 4............................................................35
2.1.3. Thực trạng sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử lớp 4................35
2.1.4. Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4................................36
2.2. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp sử dụng truyền thuyết trong dạy học phân
môn Lịch sử lớp 4...............................................................................................36
2.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích...........................................................36
2.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, chính xác..........................................37
BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
TỪ VIẾT TẮT
NGHĨA ĐẦY ĐỦ
1
CT
Chương trình
2
3
4
GV
HĐ
HS
Giáo viên
Hoạt động
Học sinh
5
6
STT
Bảng 1.1
Bảng 1.2
Bảng 1.3
Bảng 1.4
Bảng 1.5
Bảng 1.6
Bảng 1.7
Bảng 1.8
Bảng 1.9
Bảng 1.10
Bảng 1.11
Bảng 1.12
Bảng 1.13
Bảng 1.14
Bảng 1.15
Bảng 1.16
Bảng 2.1
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
BẢNG
Tầm quan trọng của việc dạy học Lịch sử cho học sinh
lớp 4
Kết quả học môn Lịch sử 4 của học sinh năm 2016 –
2017
TRAN
G
21
22
22
23
24
25
26
27
28
29
29
30
31
31
32
33
42
70
72
73
73
76
STT
Biểu đồ 1.1
Biểu đồ 1.10 Mức độ hiểu bài của học sinh sau mỗi tiết Lịch sử
Biểu đồ 3.1 So sánh hứng thú khi học Lịch sử của 2 lớp.
Biểu đồ 3.2 Không khí lớp trong giờ học Lịch sử
Biểu đồ 3.3 Mức độ hiểu bài của học sinh khi sử dụng truyền thuyết
27
29
30
31
33
71
72
73
Biểu đồ 3.4
trong dạy học Lịch sử
Kết quả đánh giá nhận thức của học sinh sau tiết học
74
Biểu đồ 3.5
Lịch sử
Kết quả đánh giá chất lượng của học sinh sau tiết học
76
MỞ ĐẦU
1
hóa và lịch sử dân tộc. Ngoài ra, Lịch sử còn là chìa khóa mở ra sự phát triển của
các bộ phận khác.
Đặc thù của bộ môn Lịch sử là nhiều sự kiện với những mốc lịch sử khác
nhau nên khó ghi nhớ. Với việc sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử, học
sinh sẽ chủ động khai thác các tri thức và lĩnh hội được các tri thức một cách hiệu
quả và dễ dàng. Điều đó đòi hỏi giáo viên cần sử dụng truyền thuyết Việt Nam
một cách hợp lý, kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực để thu hút sự chú
ý, hứng thú học tập của học sinh. Để giúp học sinh ham học môn Lịch sử, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và nhận thức được tầm quan trọng
của môn này ở tiểu học, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng truyền thuyết trong dạy
học phân môn Lịch sử lớp 4” để nghiên cứu. Hi vọng nghiên cứu này sẽ góp
phần tích cực trong quá trình dạy học hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn của việc sử dụng truyền thuyết trong
quá trình dạy học, chúng tôi đề xuất một số biện pháp sử dụng truyền thuyết
trong quá trình dạy học Lịch sử giúp học sinh hình thành kiến thức lịch sử và
giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho học sinh.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp sử dụng truyền thuyết trong dạy học môn Lịch sử lớp 4.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phân môn Lịch sử lớp 4.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng truyền thuyết trong
dạy học phân môn Lịch sử lớp 4.
- Nghiên cứu thực trạng của việc dạy học Lịch sử và sử dụng truyền thuyết
trong quá trình dạy học.
học – Mầm non, các giáo viên đang dạy lớp 4 tại trường Tiểu học Trần Quốc
Toản. Tiếp thu các ý kiến đóng góp của giáo viên để có định hướng đúng đắn
trong quá trình nghiên cứu, góp phần hoàn thiện nội dung nghiên cứu.
5.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thiết kế giáo án dạy thực nghiệm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi và tính
hiệu quả của việc sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử. Thu thập thông
tin về sự thay đổi trong nhận thức lịch sử dân tộc của học sinh lớp 4 khi học Sử.
3
Kiểm tra kết quả điều tra, quan sát các hiện tượng giáo dục để khẳng định lại cho
chắc chắn các kết luận đã rút ra.
5.3. Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này dùng để phân tích, xử lí các kết quả thu được thông qua
quá trình điều tra và tổ chức thực nghiệm.
6. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, sử dụng truyền thuyết trong dạy học các môn cụ thể được sử dụng
như một biện pháp nhằm thu hút, kích thích sự chú ý của học sinh và đặc biệt là
nâng cao được nhận thức về lịch sử dân tộc cho học sinh. Truyền thuyết được
nghiên cứu sử dụng trong một số môn học như Ngữ văn, Địa lý ở trường phổ
thông. Thậm chí còn có nhiều tác giả nghiên cứu về các tài liệu văn học dân gian
để phục vụ cho dạy học Lịch sử như các câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, các
câu ca dao, tục ngữ, vè… vì mang tính chất tư liệu lịch sử phản ánh lịch sử do
nhân dân sáng tác trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể với các đề tài như
“Sử dụng tài liệu văn học dân gian trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở lớp 10”
của tác giả Nguyễn Đình Thế hay “Sử dụng tài liệu Văn học để dạy Lịch sử ở
trường THCS” của tác giả Nguyễn Quang Dũng – Trường THCS Vạn Ninh. Và
cũng có số một nhà nghiên cứu về phương pháp dạy tác phẩm văn học nói chung,
dạy truyền thuyết nói riêng trong chương trình Ngữ văn THCS theo đặc trưng thể
7. Đóng góp của đề tài
- Về lý luận:
+ Hệ thống hóa cơ sở lí luận về dạy học sử dụng truyền thuyết. Từ đó đưa ra
định hướng đúng đắn nhằm sử dụng truyền thuyết vào quá trình dạy học Lịch sử
lớp 4.
+ Đánh giá thực trạng về việc sử dụng truyền thuyết vào dạy học ở trường
Tiểu học.
- Về thực tiễn:
+ Đề xuất một số biện pháp nhằm sử dụng hiệu quả truyền thuyết trong dạy
học Lịch sử lớp 4.
+ Thiết kế một số bài dạy có sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử lớp
4 sử dụng trong việc thực nghiệm tính khả thi của đề tài.
8. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử lớp 4 nhằm
nâng cao nhận thức về lịch sử dân tộc cho học sinh. Nghiên cứu, phân tích những
5
sự kiện có trong truyền thuyết được lựa chọn để sử dụng trong giảng dạy tại địa
bàn khảo sát và thực nghiệm trường Tiểu học Trần Quốc Toản, TP Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam.
9. Cấu trúc tổng quan của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục thì
khóa luận gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng truyền thuyết trong
dạy phân môn Lịch sử lớp 4
- Chương 2: Đề xuất một số biện pháp sử dụng truyền thuyết trong dạy học
phân môn Lịch sử lớp 4
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Tóm lại, “Truyền thuyết là truyện kể về những nhân vật và sự kiện hư cấu
hay xác thực, có liên quan - ảnh hưởng tới lịch sử trọng đại của dân tộc hay
giai cấp, qua đó nhân dân thể hiện ý thức và thái độ đối với nhân vật và sự kiện
lịch sử.”
1.1.1.2. Phân loại truyền thuyết
7
Truyền thuyết của dân tộc đã được ghi thành văn bản từ rất sớm nên vấn đề
phân loại truyền thuyết được đặt ra ngay từ buổi đầu lịch sử. Có rất nhiều cách
phân loại truyền thuyết tùy thuộc vào những tiêu chí khác nhau nhưng cách phân
loại căn cứ vào các chủ đề về địa danh; về nguồn gốc, lịch sử dòng họ, các ngành
nghề, về nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử được truyền thuyết phản ánh là hợp
lý hơn vì phù hợp với chương trình Lịch sử lớp 4 và thích hợp với đặc trưng phản
ánh lịch sử của truyền thuyết, có cách phân loại sau:
* Truyền thuyết địa danh
Là truyện kể dân gian về nguồn gốc lịch sử của những tên gọi địa lý khác
nhau hoặc về nguồn gốc của bản thân những địa điểm, địa hình, sự vật địa lý ấy.
Cụ thể các loại địa danh gắn liền với các loại địa hình như:
- Sông: sự tích sông Tô Lịch, Bạch Đằng…
- Hồ (ao, đầm): Sự tích Hồ Tây (truyện Lạc Long Quân trừ nạn Cửu Vĩ Hồ
Tinh, sự tích trâu vàng hồ Tây…), sự tích Hồ Gươm, sự tích Hồ Ba Bể, Đầm
Mực…
- Núi (đồi, động): sự tích núi Tản Viên, truyền thuyết về cửa Quỷ, núi Quỷ…
Bên cạnh đó, truyền thuyết về địa danh còn gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của
nhân dân như:
- Làng xã: sự tích một số làng ven hồ Tây (Làng Hồ, làng Cáo…), sự tích một
số làng vùng đất Tổ (Thậm Thình, Minh Nông…).
- Phố phường, thành thị: như truyền thuyết về thành Thăng Long…
- Miếu đền và những công trình kiến trúc khác (như thành, tháp,…): Sự tích
Theo cách phân loại này, truyền thuyết lịch sử Việt Nam được chia thành 2
nhóm:
- Những truyền thuyết về thời các vua Hùng: Lạc Long – Âu Cơ, Thần Tản
Viên và Thánh Gióng, bánh chưng bánh giày,…
- Những truyền thuyết đời sau: truyền thuyết An Dương Vương, truyền thuyết
về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, về Trần Hưng Đạo cùng các tướng của ông, về Lê
Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; những truyền thuyết về sư Minh Không, sư
Vạn Hạnh…, về Nguyễn Trãi, Chu Văn An…, về Bùi Cầm Hổ, Nguyễn Khoa
Đăng [16/17].
1.1.1.3. Vai trò của truyền thuyết trong đời sống văn hóa của người Việt
* Vai trò về mặt lịch sử
9
Truyền thuyết là sản phẩm phản ánh lịch sử một cách độc đáo của cộng đồng
dân tộc từ đời này qua đời khác. Song hành suốt chiều dài lịch sử, từ thời đại Hùng
Vương đến thời đại Hồ Chí Minh, truyền thuyết được nhân lên theo chiều dày của
các hiện tượng trong lịch sử. Như vậy, truyền thuyết đã ghi chép lại sự kiện chống
ngoại xâm từ buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Các hệ thống truyền thuyết khi được đối sánh với lịch sử sẽ ghi nhận được
mối quan hệ giữa truyền thống dân gian với lịch sử dân tộc. Trong đó nổi bật lên
những hệ thống truyền thuyết về người anh hùng chống ngoại xâm và người
mang yếu tố của anh hùng văn hóa trong lịch sử. Truyền thuyết góp phần xác lập,
củng cố vị thế và sức mạnh của người anh hùng hoặc một triều đại biết vì dân, vì
nước. Cũng như vậy, một khi các đối tượng vốn được ca ngợi đi ngược lại lòng
dân thì truyền thuyết cũng lại sẵn sàng phê phán, tố cáo những thế lực ảnh hưởng
đến sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Từ đó thấy được truyền thuyết có vai trò quan trọng trong bề dày lịch sử của
dân tộc. Truyền thuyết ra đời đã kịp thời ghi lại sự chân thực của lịch sử theo
cung cách ứng xử nghệ thuật riêng của con người sáng tạo và lưu truyền nó.
những đóng góp to lớn của nhà vua cho lịch sử, cho dân tộc nên lập đền thờ ông
(ở Hà Nội, ở Nghệ An). Còn với Mỵ Châu và Trọng Thủy, thái độ và cách ứng xử
của quần chúng nhân dân cũng đầy tinh thần nhân ái. Cả hai người đều có tội với
đất nước Âu Lạc. Họ có những việc làm không thể chấp nhận được. Mỵ Châu
không ý thức mình là ai khi đưa nỏ thần cho Trọng Thủy xem và rắc lông ngỗng
chỉ đường cho chồng tìm mình trong cơn binh lửa. Trọng Thủy tiếp tay cho Triệu
Đà xâm chiếm Âu Lạc. Trước lúc chết, hai người đã có sự phản tỉnh, Mỵ Châu bị
Trọng Thủy lừa chứ không có ý thức hại cha, còn Trọng Thủy thì hối hận về hành
động của mình; cho nên hình ảnh ngọc trai giếng nước là sự thể hiện tấm lòng
đầy nhân ái của người đời sau đối với bi kịch của đôi trai gái này.
*Đời sống tinh thần
Do nhu cầu của đời sống tinh thần mà trong các xã hội trước đây người ta
đã sáng tạo nên nền văn học dân gian trong đó có truyền thuyết để thỏa mãn nhu
cầu nhận thức, nhu cầu tình cảm, đạo đức, lối sống của người xưa. Là một thể
loại văn học nên truyền thuyết cũng bị chi phối bởi các nguyên tắc, các phương
pháp của việc sáng tác nên trong nội dung tác phẩm, sự thực lịch sử trong truyền
thuyết được lí tưởng hóa thông qua cảm quan lịch sử của các tác giả dân gian.
Nhiều tình tiết trong tác phẩm đã được tô vẽ thêm theo khuynh hướng lí tưởng
hóa để tôn vinh các nhân vật lịch sử.
11
Truyền thuyết phản ánh tín ngưỡng dân gian là sự tôn trọng và gắn bó mật
thiết với thiên nhiên (núi, sông, cây cối) là sự tín ngưỡng sùng bái con người (tổ
tiên, ông bà, thần linh, thành hoàn). Chính sự tôn thờ và lòng tin của tín ngưỡng
dân gian đó làm cho đời sống tinh thần của họ thêm phong phú. Không những
thế, trong thời đại ngày nay một số tín ngưỡng truyền thống vẫn được lưu giữ
chứng tỏ tính hợp lý và sức sống trường tồn của nó. Do vậy, văn học dân gian
nói chung và truyền thuyết nói riêng đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh
góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu nước, tinh thần bất
khuất, đức kiên trung và vị tha, tính cần kiệm và óc thực tiễn.
Để việc dạy và học tốt phân môn Lịch sử ở Tiểu học, để trang sử không khô
khan, buồn tẻ thì những người làm giáo dục phải tìm tòi và nghiên cứu cách dạy
học mới, phương pháp mới nhằm nâng cao được chất lượng dạy và học cho học
sinh từ buổi đầu tiên học Lịch sử ở trường Tiểu học. Vì vậy, việc sử dụng truyền
thuyết trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 có vai trò vô cùng quan trọng.
1.1.2. Các phương pháp dạy học chủ yếu trong dạy học Lịch sử lớp 4
Căn cứ vào đặc điểm của phân môn Lịch sử 4, và đặc điểm nhận thức của
học sinh tiểu học, theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học tiểu học, các
phương pháp dạy học chủ yếu trong dạy học Lịch sử là kể chuyện, đàm thoại,
thảo luận nhóm, trò chơi, động não.
* Phương pháp kể chuyện
Kể chuyện là cách dùng lời trình bày một cách sinh động, có hình ảnh và
truyền cảm đến học sinh về một nhân vật, một sự kiện lịch sử, hoặc một hiện
tượng tự nhiên, một phát minh khoa học, một vùng đất xa lạ… để hình thành
biểu tượng, một khái niệm cho học sinh.
Phương pháp kể chuyện sử dụng trong dạy học Lịch sử là một trong những
phương pháp có ưu thế trong việc gây hứng thú học tập cho HS. Thông qua
những câu chuyện lịch sử sinh động có liên quan đến một nhân vật, một địa danh
hay một sự kiện sẽ giúp học sinh nhớ tốt những sự kiện, nhân vật, mốc thời gian
lịch sử.
* Phương pháp đàm thoại
Là cách thức đối thoại giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau
dựa trên hệ thống câu hỏi nhằm dẫn dắt học sinh đi đến những kết luận khoa học,
hoặc vận dụng vốn hiểu biết của mình để tìm hiểu những vấn đề học tập, vấn đề
của cuộc sống, trong tự nhiên và xã hội.
Thông qua việc hỏi – đáp, giáo viên tạo ra trong học sinh nhu cầu nhận thức
và các em được tham gia giải quyết vấn đề bài đặt ra. Từ đó nắm được năng lực
13
cũng chưa đi sâu vào ý nghĩa môn học, việc các em yêu thích môn học nào phụ
thuộc vào khả năng giảng dạy của giáo viên. Động cơ học tập không có sẵn, cũng
không thể áp đặt được, mà phải hình thành dần trong quá trình giảng dạy và
14
hướng dẫn của giáo viên. Nếu trong tiết dạy giáo viên biết tổ chức cho học sinh
những điều mới lạ và có phương pháp giảng dạy phù hợp thì dần dần các em sẽ
hình thành tri thức, học tập sẽ trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với các
em, sẽ thúc đẩy các em học tập tốt hơn [14/34-35].
Như vậy việc lồng ghép đưa truyền thuyết vào dạy học Lịch sử một cách
phù hợp sẽ góp phần khơi dậy nhu cầu, hình thành động cơ, tạo hứng thú học tập
cho học sinh.
*Đặc điểm trí nhớ
Học sinh tiểu học có trí nhớ khá tốt. Các em có khả năng nhớ được nhiều,
thậm chí cả những điều mà các em không hiểu. Ở các em có khả năng ghi nhớ
chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định
nghĩa và những lời giải thích. Ở những lớp đầu bậc tiểu học học sinh có khuynh
hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi các em chưa
hiểu những mối quan hệ và ý nghĩa của tài liệu học tập. Các em chỉ ghi nhớ
những gì mình thích, những gì ấn tượng sâu sắc thì các em dễ nhớ và nhớ lâu
hơn. Dần dần, cùng với quá trình học tập, ở học sinh các lớp cuối bậc tiểu học
hình thành và phát triển ghi nhớ có ý nghĩa, các em dần hiểu được những mối
liên hệ và ý nghĩa của tài liệu học tập. Tuy vậy, cũng như các lớp đầu cấp (lớp 1,
2, 3), các lớp cuối cấp (lớp 4, 5) vẫn thường có khuynh hướng học thuộc một
cách máy móc, kiểu học vẹt. Do đó, mà các em cảm thấy khó khăn khi tiếp thu
kiến thức. Trong quá trình dạy học Lịch sử, giáo viên tổ chức cho học sinh sưu
tầm các truyền thuyết liên quan đến bài học sẽ phù hợp với đặc điểm trí nhớ của
các em hơn [14/35].
*Đặc điểm tư duy
Tuy nhiên, ở các lớp đầu bậc tiểu học các hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản,
chưa bền vững và dễ thay đổi. Nhưng về các lớp cuối bậc tiểu học hình ảnh
tưởng tượng của các em ngày càng bền vững và gần gũi với thực tiễn, tưởng
tượng sáng tạo tương đối phát triển ở cuối bậc tiểu học, các em bắt đầu phát triển
khả năng kể chuyện theo lời của mình, làm văn, vẽ tranh…[14/36]
*Đặc điểm tình cảm
Đối với học sinh tiểu học tình cảm có vị trí đặc biệt, đối tượng gây xúc
cảm cho học sinh tiểu học thường là những sự vật, hiện tượng cụ thể, những câu
chuyện sinh động. Do đó, những bài học khô khan, khó hiểu làm cho các em
mệt mỏi, chán nản, không có hứng thú học tập. Qua những đặc điểm này cho
thấy trong quá trình dạy học, giáo viên cần phải biến các kiến thức khô khan
16