A. MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn vấn đề nghiên cứu
Chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành cho học sinh kĩ
năng cơ bản về “ Nghe - nói - đọc - viết ”. Trong đó phần luyện từ và câu trong
sách Tiếng Việt 3 nhằm: Mở rộng vốn từ cho học sinh theo các chủ điểm, cung
cấp những hiểu biết sơ giản về từ loại, rèn kĩ năng dùng từ đặt câu theo một số
mẫu câu đã học ở lớp 2, rèn kĩ năng nói viết thành câu, biết dùng một số dấu câu
phổ biến khi viết, nhận biết và phân biệt các mẫu câu. Về mức độ yêu cầu của
nội dung: thuộc các chủ điểm ở sách giáo khoa, đồng thời nhận biết nghĩa của
một số thành ngữ, tục ngữ gắn với chủ điểm đã học. Nhận biết một số biện pháp
tu từ so sánh và nhân hóa. Biện pháp tu từ so sánh là một trong những nội dung
khó học nhất đối với học sinh lớp 3. Sách Tiếng Việt 3 đã giới thiệu sơ bộ về
phép so sánh, hình thành những hiểu biết và kĩ năng ban đầu về so sánh cho học
sinh thông qua các bài tập thực hành. Từ đó giúp học sinh cảm nhận được cái
hay của câu văn, câu thơ và vận dụng biện pháp so sánh vào quan sát sự vật,
hiện tượng xung quanh để thể hiện tốt khi viết câu hoặc đoạn văn hay. Mặt khác,
việc dạy phép tu từ só sánh cho học sinh lớp 3 cũng là một cách chuẩn bị dần để
các em sử dụng thành thạo hơn phép tu từ này khi làm các bài văn kể chuyện,
miêu tả ở lớp 4 - 5
Qua quá trình giảng dạy học sinh khối lớp 3, tôi nhận thấy hiệu quả dạy học về
phép so sánh chưa cao dovốn từ của học sinh chưa phong phú. Để viết được câu
hoặc đoạn văn hay thì học sinh phải có vốn từ, trong câu văn phải có hình ảnh
mà học sinh nhận biết được các hình ảnh so sánh nhưng việc vận dụng kiến thức
về so sánh vào nói, viết thì còn nhiều hạn chế.
Xuất phát từ nhu cầu đổi mới giáo dục: Dạy họcnhằm phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của học sinh, giúp các em
phát triểntoàn diện về năng lực, phẩm chất. Vậy dạy kiểu bài so sánh như thế
nào để học sinh dễ tiếp thu, vận dụng và đáp ứng được đúng định hướng đổi mới
giáo dục? Đây là một vấn đề mà tôi trăn trở và tôi quyết định đi sâu vào nghiên
cứu: ““ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 nắm vững biện pháp tu từ so
cuộc sống cũng như trong sáng tạo văn chương. Nhờ phép so sánh, người viết có
thể gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ
cho người đọc, người nghe. So sánh được coi là một trong những phương thức
tạo hình, gợi cảm hiệu quả nhất, có tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống,
hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh
giá của con người. Mặt khác, nó còn làm cho tâm hồn và trí tuệ của con người
thêm phong phú, giúp con người cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh
tế hơn, sâu sắc hơn,từ đó góp phần mở mang tri thức làm phong phú về tâm hồn,
tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý Tiếng Việt, giữ gìn sự
trong sáng của Tiếng Việt cho học sinh.
Trong chương trình Tiểu học, so sánh được đưa vào dạy học sinh bắt đầu từ kì I
lớp 3 trong phân môn tiếng Việt. Với mục tiêu giúp học sinh:
- Nhận biết biện pháp so sánh.
2
- Mục đích sử dụng biện pháp so sánh.
- Rèn luyện kỹ năng phát hiện và sử dụng biện pháp so sánh.
Đây là một nội dung khó, mang tính trừu tượng.Trong khi đó, tư duy nhận thức
của học sinh lớp 3 chủ yếu là tư duy trực quan cụ thể. Các em có thể nhận diện
(tìm) những sự vật được so sánh, hình ảnh so sánh, … được nói đến trong câu
(đoạn văn), thơ hoặc văn bản nhưng mới chỉ cảm nhận một cách chung chung
tác dụng của so sánh. Các em sẽ gặp khó khăn khi vận dụng đặt câu (nói, viết)
có dùng phép so sánh.
2. Cơ sở thực tiễn
Nội dung “ So sánh ” mới được đưa vào giảng dạy trong chương trình
Tiếng Việt lớp ba. Các kiến thức được cung cấp cho học sinh thông qua hệ thống
bài tập không lý thuyết. Nội dung so sánh được cung cấp cho học sinh thông qua
hệ thống các bài tập thực hành với mục tiêu cụ thể là:
+ Học sinh nhận biết biện pháp so sánh ( bao gồm hình ảnh so sánh, các
Con tàu như mũi tên
Đang lao về phía trước
Em muốn con tàu này
Đưa em đi khắp nước.
( Trần Đăng Khoa )
Ngọn đèn sáng tựa trăng rằm.
d. Mùa đông, lá bàng như tấm thiếp màu đỏ báo tin mùa xuân sắp đến.
Bài 2:Đọc các câu sau và ghi vào các ô trống cho phù hợp.
Câu
Hình
ảnh A
Từ so
sánh
Hình
ảnh B
Kiểu so
sánh
Bà em làng quê
Lưng còng như dấu hỏi.
Cây rau khúc rất nhỏ, chỉ bằng một
mầm cỏ non mới nhú.
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
số
29
30
học
SL
6
7
%
21
23
SL
10
11
%
34
37
SL
8
7
%
28
23
em có thể nhận diện ( tìm ) những sự vật được so sánh, hình ảnh so sánh, …
được nói đến trong câu ( đoạn văn ), thơ hoặc văn bản nhưngviệc vận dụng kiến
thức về phép so sánh vào nói, viết thì còn nhiều hạn chế vì vốn từ còn ít, chưa có
thói quen và biết cách quan sát, nhận xét sự vật, hiện tượng để tìm ra những đặc
điểm giống nhau, chưa biết tìm các từ, cụm từ hay, có hình ảnh để liên kết câu.
Nhiều em chưa có hứng thú khi học do vốn từ ít. Bởi vậy, câu văn của các em
chỉ mang nội dung thông báo chứ chưa có sức gợi cảm, gợi tả... Chính vì vậy khi
các em làm các bài tập tập làm văn thường khô khan, thiếu sức hấp dẫn.
+ Đối với giáo viên:
- Người giáo viên còn gặp khó khăn về phương tiện dạy học và tài liệu tham
khảo còn ít. Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc
lồng ghép trong quá trình dạy học giữa các nội dung của môn Tiếng Việt với
nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập cho học sinh. Một số giáo viên chưa tích
cực đổi mới phương pháp dạy học, tiếp thu “cái mới” còn chậm.
- Cách dạy của giáo viên thường quá phụ thuộc vào sách hướng dẫn, ngại
điều chỉnh, thay đổi các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, đi theo đường
mòn, chưa mang tính sáng tạo, chưa mạnh dạn đưa ra sáng kiến, ý tưởng của
mình vào quá trình dạy học.
5
- Vốn từ của giáo viên còn hạn chế, hiểu sâu các kiến thức về câu, từ dùng
để so sánh còn ở mức độ, khả năng phân tích ngôn ngữ, phân tích ngữ liệu ở
mức bình thường, còn lúng túng khimiêu tả từ cho học sinhnênđã bộc lộ những
sơ suất về kiến thức trong khi dạy.
- Phương pháp dạy học của giáo viên hầu như còn đơn điệu, còn cứng
nhắcchưa linh hoạt, ít sáng tạo chưa lôi cuốn được học sinh gây ra sự nhàm chán
vìchủ yếu dựa vào sách hướng dẫn học.
- Ngoài ra sự tìm tòi, học hỏi, tự học, tự rèn có phần hạn chế;khả năng diễn
đạt, giảng giải chưa lưu loát gây cho học sinh khó hiểu...
Biện pháp 6: Động viên, khuyến khích, khen thưởng.
4. Thời gian tạo ra giải pháp
- Năm học 2015 – 2016tôi bắt tay vào đọc tài liệu, nghiên cứu nội dung chương
trình, sách giáo khoa, sách nâng cao lớp 3. Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học
Tiếng việt của giáo viên, học sinh, sau đó tiến hành nghiên cứu .
- Năm học 2016 – 2017 tôi dạy thực nghiệm, đối chứng, đánh giá kết quả.
- Năm học 2017 – 2018 tôi tiến hành viết thành kinh nghiệm và gửi về Hội đồng
khoa học các cấp.
B. NỘI DUNG
I. MỤC TIÊU :
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Tiếng Việt phần kiến thức biện pháp tu
từ so sánh tại trường Tiểu học .
- Đề ra các giải pháp để giúp học sinh học tốt biện pháp tu từ so sánhnhằm
nâng cao chất lượng dạy và học.
- Giáo viên nghiên cứu nội dung các bài học trong sách giáo khoavà đề ra những
biện pháp cần giải quyết.
- Thực nghiệm sư phạm .
- Kết quả.
- Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng.
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 HỌC TỐT BIỆN PHÁP
TU TỪ SO SÁNH:
1. Biện pháp 1: Giúp học sinh tự hệ thống kiến thức.
* Mục đích:Học sinh hiểu được so sánh là việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện
tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau và khác
biệt giữa chúng. So sánh là một biện pháp tu từ trong đó người ta đối chiếu các
sự vật với nhau miễn là các sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình
ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức người đọc, người nghe.
* Nội dung: Đưa ra câu hỏi để cho học sinh tự hình thành các kiến thức về so
sánh.
+ Có 2 kiểu so sánh là:
So sánh ngang bằng: Ông là buổi trời chiều
So sánh hơn kém: Cháu khỏe hơn ông nhiều.
+ Dấu hiệu nhận biết câu văn có hình ảnh so sánh bằng những từ như, tựa, là
và dấu gạch ngang.
Vậy qua đây giúp học sinh nắm chắc được thế nào là so sánh, nắm được 3
cách so sánh, 2 kiểu so sánh và dấu hiệu để nhận biết câu văn có hình ảnh so
sánh.
2.Biện pháp 2: Tạo hứng thú cho học sinh khi giải các bài tập bằng trò chơi.
* Mục đích: Với biện pháp này nhằm tạo hứng thú cho học sinh phấn khởi khi
8
học các bài về so sánh và ở những tiết luyện tập học sinh không bị căng thẳng.
* Nội dung: Trong các tiết học, tiết ôn tôi luôn tạo cho học sinh chơi trò chơi
trước khi làm bài tập, dùng hình thức trò chơi để báo cáo kết quả hoặc chơi để
củng cố kết thúc tiết học.
* Cách tiến hành:
- Tổ chức tạo hứng thú cho học sinh trước khi làm bài tập.
VD: Trước khi làm bài tập 2 trang 8 của tuần 1 tôi cho các em hát bài Trăng
sáng
Sân nhà em sáng quá
Nhờ ánh trăng sáng ngời
Trăng tròn như các đĩa
................................
Sau khi hát xong tôi hỏi: Trong bài hát trăng được so sánh với cái gì? ( Học sinh
sẽ trả lời ngay là so sánh với cái đĩa ) từ đó giáo vên chuyển ý giới thiệu vào bài
tập 2: Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ câu văn.
- Tổ chức trò chơi cho học sinh để báo cáo kết quả.
Để giúp học sinh đỡ nhàm chán, được thảo luận trong nhóm, thống nhất và
3. Biện pháp 3: Sắp xếp chỗ ngồi hợp lí để giúp học sinh chia sẻ tốt trong
nhóm.
*Mục đích: Giúp học sinh có chỗ ngồi để các em dễ tương tác giúp đỡ nhau
trong khi làm bài tập, củng cố kiến thức rồi ôn luyện kiến thức trong giờ truy
bài.
* Nội dung: Chia nhóm để giúp học sinh học tập bằng các hình thức khác
nhau như nhóm ngẫu nhiên hoặc nhóm phân theo đối tượng.
* Cách tiến hành:
Để tạo cho học sinh giúp đỡ nhau trong việc học tốt biện pháp so sánh tôi đã
phân nhóm như sau:
- Chia nhóm theo các đối tượng nhận thức: Thực hiện các tiết học trên lớp.
+ Cách chia: Trong mỗi nhóm có đủ các đối tượng học sinh giỏi, khá, trung
bình, yếu.
+ Cách giao việc: Chọn học sinh học tốt làm nhóm trưởng, bạn viết nhanh và
đẹp làm thư ký. Nhóm trưởng điều hành cho các bạn thảo luận, trình bày ý kiến
rồi thống nhất và chọn câu trả lời đúng nhất còn thư ký ghi kết quả.
Ví dụ: Khi dạy bài tập 3 trang 126 của tuần 15. Quan sát từng cặp sự vật
được vẽ dưới đây rồi viết những câu có hình ảnh so sánh các sự vật trong tranh:
10
Việc 1: Cá nhân đọc yêu cầu của bài tập.
Việc 2: Quan sát tranh và suy nghĩ câu văn có hình ảnh các sự vật trong từng
tranh
Việc 3: Nhóm trưởng yêu cầu các bạn trong nhóm nói câu văn rồi thống nhất
và chọn câu trả lời đúng và hay nhất để thư kí viết vào phiếu nhóm.
Chẳng hạn: - Mặt trăng tròn như quả bóng./ Trăng tròn như quả bóng.
- Bé cười tươi như hoa./ Bé đẹp như hoa./ Bé tươi như hoa.
- Đèn sáng như sao./ Đèn điện sáng như sao xa.
Như hoa đầu cành
( Huy Cận )
b) Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.
( Vũ Tú Nam )
c)
Cánh diều như dấu “á”
Ai vừa tung lên trời.
(Lương Vĩnh Phúc)
d)
Ơ cái dấu hỏi
Trông ngộ ngộ ghê
Như vành tai nhỏ
Hỏi rồi lắng nghe.
(Phạm Như Hà)
Giáo viên hướng dẫn học sinh.
- Bước 1: Đọc kĩ yêu cầu của bài tập.
- Bước 2: Yều cầu học sinh trao đổi và chia sẻ với nhau bằng các câu hỏi:
+ Đề bài yêu cầu gì?
+ Bạn hãy cho mình biết trong câu a sự vật nào được so sánh với sự vật nào?
12
( Học sinh 1 hỏi – Học sinh 2 trả lời và ngược lại ở câu b Học sinh 2 hỏi – Học
sinh 1 trả lời. )
- Bước 3: Học sinh báo cáo kết quả.
- Bước 4: Giáo viên chốt kiến thức:
+ “ Hai bàn tay em ” so sánh với “ hoa đầu cành ”
+ “ Mặt biển ” so sánh với “ tấm thảm khổng lồ ”.
+ “ Cánh diều ” so sánh với “ dấu á ”
+ “ Dấu hỏi ” so sánh với “ vành tai nhỏ ”.
Sự vật 2
Giáo viên hướng dẫn cá nhân học sinh tự làm bài.
- Bước 1: Đọc kĩ yêu cầu của bài tập.
- Bước 2: Điền vào bảng các từ ngữ cho phù hợp.
- Bước 3: Đổi chéo vở với bạn kiểm tra kết quả.
Bài 5:Gạch dưới các hình ảnh so sánh trong mỗi đoạn thơ sau:
Lá thông như thể chùm kim
Đêm nay trăng đang rằm
Reo lên trong gió một nghìn âm thanh
Trăng như cái mâm con
Lá lúa là lưỡi kiếm cong
Ai treo ông cao thế
Vây quanh bảo vệ một bông lúa vàng
Ông như đầu em bé
Lá chuối là những con tàu
Muốn khoe có mặt tròn.
Bông bềnh chở nặng một màu gió trăng.
( Trần Đăng Khoa )
( Phạm Đức )
Ở bài tập này giáo viên cần lưu ý cho học sinh: Hình ảnh so sánh bao gồm: Sự
vật 1 + Từ so sánh + Sự vật 2
Qua dạng bài tập này giúp học sinh củng cố được các cách so sánh: sự vật – sự
vật; âm thanh – âm thanh; hoạt động với hoạt động. Học sinh nắm được cấu trúc
của hình ảnh so sánh gồm: Sự vật 1 + Từ so sánh + Sự vật 2 và dấu hiệu so sánh
bằng các từ: như, là, ...
Dạng 2: Bài tập bổ sung các vế so sánh
Sau khi tôi giúp học sinh hệ thống được các bài dạng bài tập nhận diệnvề so
sánh để nâng mức độ cao hơn thì tôi đã giúp học sinh giải bài tập bổ sung các vế
Với dạng bài này tổ chức thảo luận nhóm để học sinh có các phương án trả
lời tạo hứng thú vui vẻ và qua các bạn chia sẻ mình có thêm vế so sánh hay giúp
bổ sung kiến thức. Dạng bài tập này giúp học sinh tạo lập các hình ảnh, các câu
văn, thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh dựa trên ngữ liệu có sẵn hoặc một
phần do học sinh phải tự tạo lập.
Dạng 3: Đặt câu có hình ảnh so sánh hoặc đặt câu dựa vào từ ngữ, vào tranh ảnh
có sẵn:
Để học sinh có tính tư duy sáng tạo cao hơn tôi đã giúp các em làm các bài tập
đặt câu có hình ảnh so sánh từ dễ đến khó như sau:
Bài 1:Quan sát từng cặp tranh rồi viết các câu có hình ảnh so sánh
15
Giáo viên hướng dẫn học sinh.
- Bước 1: Đọc kĩ yêu cầu của bài tập.
- Bước 2: Nhóm trưởng cho các bạn và chia sẻ với nhau bằng các câu hỏi:
+ Đề bài yêu cầu gì?
+ Bạn hãy cho mình biết tranh 1 vẽ gì ?
+ Bạn nói câu có hình ảnh so sánh phù hợp với tranh đó.
- Bước 3: Trong nhóm thống nhất chọn câu văn đúng và hay.
VD: - Xe ô tô lao nhanh như tên bắn .
- Bóng đèn điện toả sáng như mặt trăng.
- Cây thông cao như ngọn tháp .
- Nụ cười của cô ấy tươi như hoa hồng .
- Thỏ thì hiền hơn báo.
- Bước 4: Giáo viên chốt kiến thức.
Bài 2:Đặt câu có dùng biện pháp so sánh để nói về:
a) Một con vật
b) Nói về một đồ vật.
thật là đẹp. Đầu làng có cây đa già sừng sững như một tháp đèn khổng lồ. Giữa
làng là mái đình cổ kính như một tòa lâu đài. Xa xa, cánh đồng lúa chín như
tấm thảm vàng. Dòng sông hiền hòa uốn lượn như dải lụa đào....
Nhờ việc phân dạng các bài tập theo mức độ đã giúp học sinh nắm chắc được
kiến thức, kỹ năng nhận biết của học sinh được nâng lên theo mức độ . Học sinh
không những nhận biết mà cờn sử dụng tốt biện pháp so sánh và vận dụng vào
việc viết những câu, đoạn văn hay văn giàu hình ảnh. Học sinh rất hứng thú, tích
cực học tập. Qua đây giúp các em hiểu thêm và yêu Tiếng Việt, thấy được sự
phong phú giàu tiếng mẹ đẻ. Từ đó, các em sẽ yêu thích học Tiếng Việt hơn.
17
5. Biện pháp 5: Kiểm tra, đánh giá:
* Mục đích: Sau khi học tốt các dạng bài tập, để giúp giáo viên đánh giá được
học sinh nắm được các bài tập trong các tiết học và giúp học sinh tự đánh giá
được học sinh để từ đó giáo viên điều chỉnh được nội dung, phương pháp dạy
học giúp học sinh tiến bộ hơn khi học về so sánh.
* Nội dung:
- Học sinh tự kiểm tra đánh giá học sinh.
- Giáo viên kiểm tra và đánh giá học sinh.
- Phụ huynh kiểm tra đánh giá học sinh.
* Cách tiến hành:
- Với học sinh tự kiểm tra đánh giá học sinh: Vào những tiết học trên lớp có bài
tập về so sánh thì trong quá trình học sinh học tôi đã giao cho các bạn trong
nhóm đầu giờ kiểm tra bài về nhà và ghi vào phiếu: Bạn đã hoàn thành bài tập
chưa? Bài bạn làm có đúng không? Bạn còn vướng mắc ở câu hay bài nào? rồi
kiểm tra trong giờ học, kết thúc tiết học kiểm tra chéo vở cho nhau để củng cố
kiến thức.
- Giáo viên kiểm tra học sinh:
+ Với những tiết học về so sánh tôi kiểm tra thường xuyên bằng việc quan sát
và học sinh cảm thấy phấn khởi thích thú trong các tiết học hàng ngày trên lớp.
- Khen sau mỗi tuần học: Dựa vào báo cáo trong buổi sinh hoạt lớp với những
em có tiến bộ trong các tiết học so sánh tuyên dương trước lớp.
- Khen cuối kỳ hoặc cuối năm dựa vào bài kiểm tra, tôi tặng phần thưởng là đồ
dùng học tập và cho học sinh lên bốc thăm như : Bút chì, tẩy, thước kẻ, vở, lọ
mực, hồ dán,..... khen thưởng ở cuộc họp phụ huynh để phụ huynh tin tưởng và
thấy đó là việc làm phù hợp để khi ở nhà cũng động viên và khen các con kịp
thời tạo động lực cho con phấn đấu vươn lên.
Vậy bằng những hình thức khen thưởng không chỉ với môn học này mà ở tất
cả các môn, học sinh của lớp tôi rất thích thú, các em đều có ý thức, động lực
phấn đấu vươn lên và thi đua nhau học tập để đạt kết quả tốt, các em thấy mỗi
ngày đến trường một ngày vui còn phụ huynh thì rất tin tưởng gửi gắm con em
mình.
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Với cách làm nhưđã trình bày ở trên, trong năm học 2017 - 2018 tôi triển khai
dạy thực nghiệm cho học sinh ở lớp 3A do tôi chủ nhiệm và tiến hành đối chứng
với lớp 3B với đề khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt phần biện pháp so sánh
như đề của năm học 2017 – 2018.
* Kết quả cụ thể như sau:
- Học sinh nhận diện và sử dụng biện pháp so sánh rất tốt.
- Kỹ năng nói và viết câu được nâng lên và đạt kết quả cao.
- Các em rất mạnh dạn tự tin, say mê, hào hứng trong học môn Tiếng Việt
Lớp
3A1
Sĩ
số
39
%
36
92
3A2
35
7
20
10
29
15
43
3
8
19
54
Như vậy, qua một thời gian dạy thực nghiệm theo các biện pháp như trên tôi thu
a. Nắm vững nội dung chương trình sách Tiếng Việt lớp 3.
b. Tích cực vận dụng đổi mới phương pháp dạy học khi dạy .
c. Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học.
d. Đa dạng hóa các dạng bài tập
e. Tích cực tham gia học tập, tự bồi dưỡng để nâng cao kiến thức, trình độ
chuyênmôn nghiệp vụ, thường xuyên dự giờ của đồng nghiệp, tham dự đầy đủ
các lớp tập huấn chuyên môn … để nắm bắt những thông tin về nội dung,
phương pháp của chương trình môn Tiếng Việt. Từ đó, giáo viên mới có thể lập
kế hoạch dạy học và kế hoạch bài học một cách khoa học, có sự tích hợp giữa
kiến thức các môn học và các lớp học với nhau.
g. Động viên khuyến khích học sinh tự học, học theo phương pháp tự tìm tòi.
Dạy học hướng tập trung vào học sinh, phải coi học sinh là chủ thể của hoạt
động, tổ chức các hoạt động giúp các em chiếm lĩnh được các tri thức và rút ra
được các kết luận phù hợp với bài học.
3. Phạm vi áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi và dễ dàng với các đồng chí giáo viên, các
em học sinh của khối 3 ở trường Tiểu học.
4. Những đề xuất, kiến nghị
a. Đối với các cấp lãnh đạo:
21
- Cẩn tổ chức nhiều hơn các hội thảo, chuyên đề để giáo viên có cơ hội
được thảo luận và học hỏi các bản đồng nghiệp.
- Tổ chức các cuộc hội thảo để giải đáp những vướng mắc của giáo viên, có
những tư vấn và hướng dẫn phương pháp và cách làm có hiệu quả cho giáo viên.
b. Đối với giáo viên:
- Cần thường xuyên trau dồi kiến thức và kinh nghiệm giảng dạy của
mình cho tốt hơn nữa. Thật sự say mê, yêu nghề, nhiệt huyết với học sinh.
- Cần nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả các kinh nghiệm giảng dạy và
2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................Trang 3
3. Các biện pháp tiến hành..................................................................... Trang 7
4. Thời gian tạo ra giải pháp................................................ ..................Trang 8
B. NỘI DUNG
23
I. MỤC TIÊU............................................................................................Trang 9
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 HỌC TỐT BIỆN PHÁP
TU TỪ SO SÁNH .........................................................................Trang 9
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC ..................................................................Trang 23
C. KẾT LUẬN
1.
2.
3.
4.
Nhận định chung ............................................................................. Trang 25
Điều kiện để sáng kiến nhân rộng ................................................... Trang 25
Phạm vi áp dụng sáng kiến ............................................................. Trang 26
Những đề xuất, kiến nghị ................................................................ Trang 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.