i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
--------------
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
KINH NGHIỆM TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ
GIỚI VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM
Mã số: CS – 2013 - 24
Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Phúc Cảnh
TS. Nguyễn Hữu Huân
Tp. Hồ Chí Minh - 12/2013
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ ......................................................................................................................... iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ........................................................................................................................... v
DANH MỤC BẢNG BIỂU .................................................................................................................... vi
6. Bảng 4.2. Lộ trình theo năm của đề án tái cấu trúc hệ thống NHTM 97 ........................................... vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT................................................................................................................. vii
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VÀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ............................... 3
1.1.
Tổng quan về tái cấu trúc ...................................................................................................... 3
Bước đi đầu tiên tốt nhất: Tái cấu trúc nợ tự nguyện .................................................... 11
1.2.4.
Tái cấu trúc mà không sắp xếp lại nợ .......................................................................... 12
1.2.5.
Thặng dư xã hội và Thặng dư cá nhân khi tái cấu trúc NHTM.................................. 23
1.2.6.
Vấn đề tham gia trong điều kiện thông tin bất cân xứng ............................................ 27
1.2.7.
Các xem xét khác .......................................................................................................... 33
Kết luận chương 1 ................................................................................................................................. 35
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TỪ
CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM .................................................... 36
2.1.
Thụy Sỹ: Ngân hàng tốt/ Ngân hàng xấu trong trường hợp của UBS ................................ 36
2.1.1.
Bối cảnh ........................................................................................................................ 36
2.1.2.
Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Nhật ........................................................................... 41
2.4.1.
Bối cảnh ........................................................................................................................ 41
2.4.2.
Quá trình tái cấu trúc ................................................................................................... 42
2.5.
Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Trung Quốc .................................................................... 45
2.5.1.
Bối cảnh ........................................................................................................................ 45
2.5.2.
Quá trình tái cấu trúc ................................................................................................... 45
2.6.
Thái Lan ............................................................................................................................... 50
2.6.1.
Bối cảnh ........................................................................................................................ 50
Tìm hiểu tái cấu trúc hệ thống tài chính theo đề án 254 của chính phủ .................................... 77
Kết luận chương 3 ............................................................................................................................. 81
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO THƯC HIỆN THÀNH CÔNG ĐỀ ÁN
TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 254 CỦA CHÍNH PHỦ ........................ 83
4.1. Các tiêu chí khi đề xuất nhóm giải pháp tái cấu trúc NHTM ....................................................... 83
4.2. Giải pháp tái cấu trúc hệ thống NHTM ........................................................................................ 83
4.2.1. Các biện pháp chuẩn bị cho việc tái cấu trúc hệ thống NHTM .............................................. 83
4.2.2. Tái cấu trúc tự nguyện: Mô hình tái cấu trúc từng NHTM ..................................................... 84
4.2.3.
Tái cấu trúc bắt buộc ...................................................................................................... 90
4.3.
Nhóm giải pháp nâng cao khả năng phục vụ của hệ thống NHTM trong nền kinh tế ............... 91
4.4.
Nhóm giải pháp nâng cao an toàn cho hệ thống NHTM .......................................................... 92
4.4.1. Giải pháp nâng cao an toàn cho hệ thống NHTM .................................................................. 92
4.4.2.
Tăng cường khả năng giám sát cho các cơ quan chức năng ............................................. 93
ii
4.5.
3. Hình 1.3.Quy luật chia sẻ
12
4. Hình 1.4. Tái cấu trúc theo hình thức nợ chuyển thành vốn chủ sở hữu
13
5. Hình 1.5. Tái cấu trúc và Phục hồi nợ
15
6. Hình 1.6. Khoản trợ cấp tối ưu của chính phủ
16
7. Hình 1.7. Tỷ lệ phục hồi
16
8. Hình 1.8: tái cấu trúc cấu trúc vốn
18
9. Hình 1.9.Đường phục hồi nợ của NHTM khi phát hành cổ phiếu mới
19
10. Hình 1.10: Mua lại nợ
65
4. Biểu đồ 3.4. Thị phần của các NHTM
66
5. Biểu đồ 3.5. Thị phần tín dụng các khối NHTM đến cuối tháng 10/2011
67
6. Biểu đồ 3.6.Tỷ lệ nợ xấu hệ thống NHTM
69
7. Biểu đồ 3.7.Nợ xấu của 10 quốc gia
70
8. Biểu đồ 3.8.Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu của hệ thống NHTM 2011
71
9. Biểu đồ 3.9. Vấn đề thanh khoản mà hệ thống đang phải đối mặt
76
10. Biểu đồ 3.10.Lãi suất bình quân liên ngân hàng
78
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. NHTM: Ngân hàng thương mại
2. NHNN: Ngân hàng nhà nước
3. TTCK: Thị trường chứng khoán
4. NHTW: Ngân hàng trung ương
5. DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
vii
viii
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hệ thống NHTM đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc lưu chuyển nguồn
vốn trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của quốc gia phát triển.
Trong những năm vừa qua, hệ thống NHTM ở Việt Nam nhìn chung vẫn chưa
phát huy tốt vai trò quan trọng của mình, bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động
còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, hệ thống NHTM hoạt động không hiệu quả,
tình trạng độc quyền, lũng đoạn dẫn đến nợ xấu tăng cao và tính trạng mất thanh
khoản của một số không ít các NHTM trong hệ thống. Chính vì thế, tái cấu trúc hệ
thống NHTM, làm cho nó hoạt động hiệu quả hơn, an toàn hơn là một nhu cầu bức
thiết của nền kinh tế, và đó cũng là lý do nhóm nghiên cứu chọn đề tài này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các mô hình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại tại các quốc
gia tiên tiến trên thế giới và những quốc gia có tình hình kinh tế và cấu trúc của hệ
thống ngân hàng thương mại tương tự Việt Nam.
Đề xuất mô hình tái cấu trúc ngân hàng thương mại phù hợp cho Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÁI CẤU TRÚC
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về tái cấu trúc
1.1.1. Khái niệm
Trước hết, tái cấu trúc, theo nghĩa hẹp, được hiểu là quá trình tổ chức lại một tổ
chức nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho tổ chức đó để thực hiện những mục tiêu đề ra.
Một chương trình tái cấu trúc có thể diễn ra một cách toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực
như cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành; các hoạt động và các quá
trình; các nguồn lực khác của tổ chức tái cấu trúc. Tái cấu trúc cũng có thể được triển
khai một phần tại một hay nhiều mảng trong tổ chức như tài chính, nhân sự, sản xuất…
nhằm đạt mục tiêu là nâng cao “thể trạng” của bộ phận đó.
Suy rộng cho một hệ thống có nhiều tổ chức, tái cấu trúc là sắp xếp, tổ chức lại cơ
cấu thành phần các tổ chức trong hệ thống, hoặc thay đổi cách quản lý, cách hoạt động
của các tổ chức bộ phận nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động, thực hiện những mục tiêu
thống nhất của hệ thống.
Theo Margery Waxman et al. 1998, WB, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là các
gói giải phápvề thể chế, tài chính và pháp lý nhằm cứu vãn những ngân hàng phá sản và
khôi phục hệ thống ngân hàng trở lại hoạt động bình thường.
Theo Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu 1998, IMF, tái cấu trúc hệ thống
ngân hàng nhằm mục đích cải thiện hiệu quả của ngân hàng, có nghĩa là phục hồi khả
năng thanh toán và lợi nhuận, nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng để thực hiện
chức năng trung gian tài chính giữa người gửi tiết kiệm và người đi vay, đồng thời khôi
phục lòng tin của công chúng.
Dù diễn đạt theo cách nào thì có thể thấy việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng liên
quan đến việc thay đổi, sửa chữa các sai lầm trong cấu trúc hệ thống ngân hàng, đưa hệ
thống vào cơ chế hoạt động hợp lý và có hiệu quả; làm tăng khả năng tiếp cận của người
dân và doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với các dịch vụ của ngân
3
được đào tạo bài bản về quản trị ngân hàng, điều này dễ dẫn đến các vụ lừa đảo, thất
thoát tài sản; đặc biệt, tình trạng thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính bao gồm giấu
hoặc chuyển lỗ, không hạch toán đúng chi phí dự phòng tín dụng, đúng các khoản chi phí
và thu nhập… gây sức ép lên nền kinh tế, buộc chính phủ phải tìm cách tái cơ cấu hệ
thống ngân hàng thông qua tái cơ cấu các ngân hàng và các định chế tài chính. Nếu
không sàng lọc và tái cấu trúc sớm, các vụ đổ vỡ hàng loạt trong hệ thống TCTD có thể
xảy ra và sẽ khó kiểm soát.
Bên cạnh đó còn các yếu tố từ các chính sách điều tiết kinh tế mang tính chất vĩ
mô kém hiệu quả, khả năng dự báo yếu dẫn đến việc điều tiết không kịp thời; các quy
định về chính sách sai lệch, không chặt chẽ cũng sẽ làm cho hệ thống ngân hàng hoạt
động không hiệu quả. Ví dụ như khi nền kinh tế tăng trưởng cao, nếu chính phủ khuyến
khích các ngân hàng gia tăng tín dụng mà không có chính sách kiềm chế hợp lý thì điều
này sẽ dẫn đến các ngân hàng dễ dãi trong việc cho vay dẫn đến tăng tỷ lệ nợ xấu và nợ
không hiệu quả (NPL), gây ra mất thanh khoản cho ngân hàng, từ đó có thể ảnh hưởng
đến toàn hệ thống
1.1.3. Mục tiêu của tái cấu trúc:
-
Thứ nhất, duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh khoản,
chi trả và hoạt động của các trung gian tài chính không bị đình trệ. Đây là mục tiêu cơ
bản nhất của việc tái cấu trúc nhằm bảo đảm tính ổn định trong hoạt động của hệ
thống ngân hàng và của cả nền kinh tế.
-
Thứ hai, giải quyết các vấn đề một cách kịp thời nhằm ngăn ngừa sự lây lan hoặc các
vấn đề hệ thống.
-
mất khả năng thanh toán, quá trình can thiệp của Chính phủ sẽ làm nảy sinh một số vấn
đề về pháp lý liên quan đến việc nắm giữ cổ phần của các cổ đông hiện tại vì thế cần có
luật tương ứng để điều chỉnh. Ví dụ khi chính phủ bơm vốn vào cho một ngân hàng và
nếu muốn các cổ đông hiện tại phải rút bớt cổ phần tương ứng để Chính phủ trở thành cổ
đông chính và có quyền bổ nhiệm người của mình vào các vị trí quản lý thì cần phải có
một luật cho phép Chính phủ làm như vậy nếu họ không tự nguyện xin rút. Hoặc đối với
ngân hàng có nợ xấu lớn hoặc thiếu vốn nghiêm trọng nếu không thể tự củng cố thì
NHNN sẽ đứng ra góp vốn hoặc có thể sáp nhập vào các ngân hàng khác. Đồng thời phải
đảm bảo việc sáp nhập này sẽ giúp các ngân hàng phát triển tốt hơn và không gây xáo
trộn hệ thống.
Đây là quá trình phức tạp, do đó, vai trò của NHNN phải được thể hiện mạnh mẽ, và
những việc can thiệp đó phải được thực hiện nhanh chóng và kịp thời (nhân tố không
6
quan trọng, liên quan đến giải pháp). Chính phủ phải có được một quy trình toàn diện để
theo dõi và đánh giá liên tục tình trạng nợ xấu và mất thanh khoản trong hệ thống ngân
hàng, tránh tình trạng bị động. Các cán bộ thanh tra giám sát cần phải được đào tạo trang
bị các kỹ năng để thực thi các luật định và các nhà quản lý, các cơ quan giám sát phải
được tiếp cận với các thông tin một cách đầy đủ, chính xác kịp thời, để đảm bảo việc tái
cấu trúc hiệu quả, minh bạch và điều chỉnh kịp thời.
1.2. Lý luận chung về mô hình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
1.2.1. Vấn đề chung
Khi hệ thống NHTM gặp khó khăn và có nhiều rủi ro hệ thống thì lựa chọn chính
sách nào là khả thi và hiệu quả nhất để khôi phục và tái cấu trúc lại hệ thống là câu hỏi
quan trọng nhất. Có nhiều đề xuất được đưa ra, một số trong những đề xuất đó đã được
thực thi trên thế giới. Ví dụ như việc bổ sung vốn cho hệ thống thông qua vốn cổ phần
hoặc chứng khoán lai (hybrid securities – như trái phiếu chuyển đổi hay cổ phần ưu đãi),
mua lại tài sản của ngân hàng hoặc quốc hữu hóa hệ thống. Tuy nhiên, những lựa chọn đa
dạng trong tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thường hiếm khi được so sánh với nhau dựa
nhiên trong thực tế việc này gặp trở ngại do ảnh hưởng về quyền lợi nên những chủ nợ
không đồng ý, ngoài ra còn có các tác động của rủi ro hệ thống và các sự kiện trong quá
trình tài cấu trúc.
Khi các hợp đồng nợ không thể tái thương lượng để chuyển thành vốn cổ phần thì
việc tái cấu trúc NHTM phải sử dụng tiền thuế của người dân để thực hiện. Những chủ
nợ của NHTM sẽ nhận thấy rằng giá trị của các khoản nợ được chính phủ mua lại tăng
lên so với trước đó và đòi hỏi giá trị cao hơn, nếu chính phủ từ chối mua lại thì phần giá
trị của chủ nợ sẽ thâm dụng vào phần vốn của chủ sỡ hữu, khi đó những chủ sở hữu sẽ
phản đối việc tái cấu trúc.
Việc tiếp vốn cho NHTM còn phụ thuộc nhiều vào kế hoạch của chính phủ. Mức độ
tiếp vốn phản ảnh lợi ích của chủ nợ từ tái cấu trúc. Hầu hết các chính phủ đều lựa chọn
cách tiếp cận đơn giản là NHTM nhận vốn giải cứu đồng thời kèm theo các điều kiện khi
NHTM muốn phát hành cổ phiếu mới. Lượng vốn giải cứu có thể giảm xuống nếu
NHTM phát hành cổ phần mới và dùng tiền đó để mua lại nợ. Mặc khác, khi giải cứu
chính phủ các nước yêu cầu NHTM phải minh bạch tình hình tài sản của mình để được
nhận vốn.
Khi tái cấu trúc hệ thống NHTM, ngoài yếu tố chi phí, những nhà kinh tế học còn
xem xét tới khả năng tạo ra hiệu quả và lợi ích. Ví dụ như NHTM có thể tiếp cận và thu
hút thêm khách hàng mới thông qua quá trình tái cấu trúc; Ngoài ra những lợi ích và
thặng dư cá nhân có thể thúc đẩy quá trình tái cấu trúc và từ đó làm giảm chi phí; Hay khi
tái cấu trúc hệ thống NHTM giúp đảm bảo quyền lợi cho những nhà quản lý, từ đó thúc
đẩy họ thực hiện chiến lược tốt nhất giúp NHTM có lợi nhuận; Việc tách riêng các tài sản
xấu của NHTM giúp các nhà quản lý tập trung vào các chức năng quản trị cơ bản, từ đó
cũng giúp tăng năng suất hiệu quả hoạt động của NHTM; Đặc biệt, khi lâm vào khủng
hoảng một số tài sản của NHTM bị đánh giá thấp hơn giá trị thật bởi vì những lo ngại của
8
thị trường và thiếu tính thanh khoản, khi đó chính phủ mua lại các tài sản đó là lựa chọn
không tồi. Tuy nhiên, Chính phủ không phải là những người có chuyên môn cao về lĩnh
9
Một ngân hàng đang quản lý tài sản A tại thời điểm 0 (t 0 ), tài sản đó sẽ có giá trị là A1
vào giai đoạn tiếp theo (t 1 ). Giá trị A 1 là ngẫu nhiên. Cấu trúc vốn của NHTM tại t 0 có
khoản nợ với mệnh giá là D, khoản nợ này cần được chi trả lúc t 1 và vốn cổ phần có giá
trị sổ sách là E (hình 1.1). Nếu không có quá trình tái cấu trúc, xác suất vỡ nợ của NHTM
tại t 1 , gọi là p, là xác suất giá trị A1 thấp hơn khoản nợ D, có nghĩa là p = F(D) (hình 1.2).
Hình 1.1. Tài sản và nợ của 1 NHTM:
D
A
E
Hình 1.2. Hàm phân phối tài sản tích lũy của NHTM trước và sau:
10
Theo mô hình MM, tổng giá trị thị trường của Nợ và Vốn cổ phần không phụ thuộc vào
cấu trúc vốn của NHTM và bằng giá trị thị trường của tài sản: V(A) = V(E) + V(D) (Hình
1.3). Giả định rằng D < V(A), hàm ý rằng NHTM hiện tại không bị vỡ nợ, nhưng cũng
giả định rằng có 1 xác suất vỡ nợ dương. Giá trị thị trường của nợ V(D) do đó sẽ thấp
hơn giá trị sổ sách của chính nó.
Hình 1.3 Quy luật chia sẻ
Giả định rằng chi phí xã hội sẽ lớn khi những NHTM quan trọng trong nền kinh tế bị rủi
ro, mục tiêu của chính phủ lúc đó là làm giảm thấp rủi ro vỡ nợ, và thực tế là giúp hệ
thống đạt được mức xác suất vỡ nợ mong đợi tại p* = F(A*) (với p*
thứ tự và luật lệ có thể là cách hiệu quả để tiến hành thương lượng với các chủ nợ, nhưng
12
điều đó có thể gây ra tác động tiêu cực lên những định chế tài chính trung gian khác. Và
thông thường Chính phủ các nước muốn tránh giải quyết bằng con đường phá sản bởi vì
những chi phí kinh tế tiềm ẩn lớn và khó lường trước.
Trong tình huống không có sự giúp đỡ của chính phủ và cũng không thể tái
thương lượng lại các hợp đồng nợ hiện tại, nếu NHTM có cách để tái cấu trúc giúp giảm
khả năng vỡ nợ của NHTM sẽ làm giảm giá trị của vốn chủ sở hữu và làm gia tăng giá trị
của nợ, điều đó chống lại quyền lợi của chủ sở hữu. Quá trình tái cấu trúc như vậy sẽ
không xảy ra trừ khi có Chính phủ cung cấp các gói cứu trợ hoặc chính phủ yêu cầu chủ
sở hữu tham gia bắt buộc. Trong trường hợp không thể tái thương lượng lại nợ và Chính
phủ không tham gia thì phải có sự tham gia của yếu tố bên ngoài. Các giao dịch được
thực hiện bởi các bên có bên thứ 3 bên ngoài đòi hỏi phải thực hiện tại giá trị hợp lý, có
nghĩa rằng các giao dịch tài chính phải có giá trị thuần (NPV) bằng 0.
Có nhiều cách tái cấu trúc giống nhau, nhưng không phải tất cả đều hợp lý và dễ
dàng thực hiện. Bởi vì có một số cách đem lại mức phục hồi cao hơn những phương án
khác nhưng cũng có thể gây ra chi phí tái cấu trúc nhiều hơn. Ví dụ, bán tài sản thì tốn
kém hơn là phát hành cổ phần thường mới.
1.2.4.1.
Khó khăn của tái cấu trúc tự nguyện:
Khi không thể tái thương lượng nợ và không có sự trợ giúp của chính phủ, tất cả
các trường hợp tái cấu trúc để giảm khả năng vỡ nợ đều bị từ chối bởi chủ sở hữu bởi vì
họ bị bất lợi. Vì tái cấu trúc làm giảm khả năng vợ nợ, có nghĩa rằng giúp gia tăng giá trị
của nợ và làm giảm giá trị của vốn cổ phần (Theo vấn đề nợ quá cỡ - Myers 1977). Thật
vậy, bởi vì khi xác suất vỡ nợ giảm xuống, thì khả năng phục hồi của các khoản nợ xấu
tăng lên, giá trị nợ tăng lên từ V(D) lên V’(D) và với việc không có bên thứ 3 tham gia,
1.6).
14
Hình 1.6.Khoản trợ cấp tối ưu của chính phủ
Đồng thời hình 1.7 thể hiện sự phục hồi tương ứng của nợ:
Hình 1.7. Tỷ lệ phục hồi:
Thực tế, mục tiêu của tái cấu trúc là giảm xác suất vỡ nợ của NHTM về p* chứ
không phải cải thiện khả năng phục hồi của nợ. Thực tế, khi A1 < A* thì NHTM bị vỡ nợ
(hình 1.6), do đó chính phủ không nên thực hiện bất kỳ khoản trợ cấp nào trong trường
hợp này. Khi giá trị thật của A1 nằm ở khoảng A* và D, NHTM cần khoản chuyển giao
từ chính phủ là D – A1 để có đủ khả năng chi trả lại cho chủ nợ và tránh khỏi phá sản.
Khi A1 > D thì NHTM không cần trợ cấp từ chính phủ để tránh khỏi bị vỡ nợ.
15
Chi phí liên quan đến người nộp thuế thuộc các hình thức khác nhau thùy thuộc
vào cách thức thực hiện phương án tái cấu trúc đó. Việc thực hiện phương án tái cấu trúc
tối ưu rất khó thực hiện trong thực tế, tuy nhiên nó cho chúng ta thấy 3 điều hữu ích.
- Thứ nhất: để giảm xác suất vỡ nợ cho NHTM, chính phủ không cần trợ cấp toàn
bộ cho các tài sản của NHTM, thay vào đó chính phủ nên tập trung vào ngân hàng tiệm
cận với việc phá sản.
- Thứ hai: không hẳn là một sự chuyển giao xấu khi mà người nộp thuế không
nhận được gì từ sự can thiệp của chính phủ vào các NHTM, một số phương án không
cung cấp cho người nộp thuế bất cứ lợi ích nào, nhưng nó giúp giảm thiểu đến mức thấp
nhất tổng chi phí của toàn nền kinh tế.
- Thứ ba, càng nhiều trợ cấp sẽ thúc đẩy giá cổ phiếu, nhưng giá cổ phiếu tăng