BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_________________________
LÊ NGỌC THÙY NỮ
TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG VỐN NƢỚC NGOÀI
ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ CỦA CÁC
QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_________________________
LÊ NGỌC THÙY NỮ
TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG VỐN NƢỚC NGOÀI
ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ CỦA CÁC
QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN CHÂU Á
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN HỒNG THẮNG
Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................3
1.3.
Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................3
1.4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................4
1.5.
Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................4
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN .....................................................................................6
2.1.
Cơ sở lý thuyết ...............................................................................................6
2.1.1.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ....................................................6
2.1.2.
Dòng vốn viện trợ nước ngoài ................................................................8
2.1.3.
Mô tả biến nghiên cứu và kỳ vọng dấu .......................................................33
3.3.1.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ..................................................34
3.3.2.
Dòng vốn viện trợ nước ngoài ..............................................................35
3.3.3.
Lạm phát ...............................................................................................36
3.3.4.
Tiết kiệm nội địa ...................................................................................37
3.3.5.
Đầu tư nội địa........................................................................................38
3.3.6.
Độ mở thương mại ................................................................................39
3.3.7.
Chi tiêu chính phủ .................................................................................40
Biến phụ thuộc GDPPCGR ..................................................................59
CHƢƠNG 5.
KẾT LUẬN VÀ CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH .........................68
5.1.
Kết luận........................................................................................................68
5.2.
Các hàm ý chính sách ..................................................................................70
5.3.
Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ............................................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FDI (Foreign Direct Investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
ODA (Official Development Assistance): Hỗ trợ phát triển chính thức.
GMM (General Method of Moments): Phương pháp Moments tổng quát.
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội.
GNP (Gross National Product): Tổng sản lượng quốc gia.
OLS (Ordinary Least Square): Phương pháp bình phương nhỏ nhất.
2SLS (Two-Stage Least Squares): Phương pháp hồi quy 2 giai đoạn.
quốc gia. Theo đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và dòng vốn viện trợ nước
ngoài chỉ thật sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi quốc gia nhận đầu tư có vốn con
người tương đối cao (Bengoa và các cộng sự, 2003; Li và Liu, 2005), thực hiện
chính sách một cách hiệu quả (Gui-Diby, 2014; Iamsiraroj, 2016) và có chất lượng
thể chế đủ mạnh (Durham, 2004). Từ đó, kết quả nghiên cứu góp phần tạo cơ sở cho
các nhà hoạch định chính sách xây dựng các chính sách thu hút, quản lý và sử dụng
hiệu quả các dòng vốn nước ngoài, hạn chế gây ra sự lãng phí cũng như làm gia
tăng vấn đề tham nhũng, trục lợi, làm cản trở tăng trưởng kinh tế của các quốc gia
đang phát triển.
Từ khóa: Dòng vốn nước ngoài, tăng trưởng kinh tế, các quốc gia đang phát
triển Châu Á, GMM.
1
CHƢƠNG 1.
1.1.
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Lý do chọn đề tài
Một trong những yếu tố then chốt trong quá trình toàn cầu hóa hay hội nhập
toàn cầu của nền kinh tế thế giới là dòng vốn nước ngoài (Chorn và Siek, 2017).
Theo đó, trước tình hình thiếu hụt nguồn vốn trong nước để tài trợ cho sự phát triển
trong dài hạn, hầu hết các quốc gia đang phát triển phụ thuộc đáng kể vào nguồn tài
chính bên ngoài. Điều này dẫn đến việc gia tăng nhu cầu vốn nước ngoài để bổ sung
cho các nguồn lực trong nước và được xem như là yếu tố quan trọng đối với sự phát
triển và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển (Chorn và Siek, 2017).
Trong đó, nguồn viện trợ nước ngoài và nguồn vốn đầu tư nước ngoài là các nguồn
Adamu, 2013). Easterly (2003) tin rằng nhiều quốc gia đang phát triển có môi
trường kinh doanh tương đối nguy hiểm đối với các nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài, và do đó nguồn viện trợ nước ngoài sẽ đóng vai trò quan trọng đối với
việc góp phần vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như phát triển kinh tế ở các quốc
gia đang phát triển. Hansen và Tarp (2001) cho thấy rằng viện trợ nước ngoài không
chỉ có thể làm gia tăng tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ đầu tư của quốc gia mà còn có tác
động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia mà thậm chí quốc gia đó bị
cản trở bởi một môi trường chính sách bất lợi. Moreira (2005), Karras (2006),
Ndambendia (2010) cũng đưa ra bằng chứng thực nghiệm cho thấy tồn tại mối quan
hệ cùng chiều giữa nguồn viện trợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia
đang phát triển, trong khi đó, Fambon (2013) lại cho thấy trong trường hợp ở
Cameroon, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự tác động tích cực và đáng kể
tới tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn, tuy nhiên, nguồn viện trợ nước
ngoài thì không có tác động đáng kể tới tăng trưởng kinh tế mặc dù ảnh hưởng này
vẫn là ảnh hưởng tích cực. Mặt khác, ngoài những ưu điểm mà nguồn viện trợ nước
ngoài mang đến cho các quốc gia đang phát triển, thì nguồn viện trợ nước ngoài lại
có sự tác động tiêu cực tới nền kinh tế của các quốc gia này bao gồm việc nhập
khẩu các công nghệ không phù hợp, bóp méo thu nhập quốc gia nhận đầu tư, và
khuyến khích chính phủ thực hiện các hành vi tham nhũng ở các quốc gia đang phát
triển (Chorn và Siek, 2017).
3
Từ đây có thể thấy rằng, dòng vốn nước ngoài bao gồm dòng viện trợ nước
ngoài và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự tác động đáng kể tới tăng
trưởng kinh tế tại các quốc gia và đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Cho nên,
học viên lựa chọn đề tài “Tác động của dòng vốn nƣớc ngoài đến tăng trƣởng
kinh tế của các quốc gia đang phát triển Châu Á” làm đề tài luận văn thạc sỹ với
mong muốn tìm hiểu rõ tác động của nguồn viện trợ nước ngoài và dòng vốn đầu tư
tế tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á thì đó là tác động tích cực (+) hay tiêu
cực (-)?
- Những chính sách gì được khuyếnh nghị để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
của các quốc gia đang phát triển ở Châu Á, cũng như thu hút và sử dụng hiệu quả
các dòng vốn nước ngoài?
1.4.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu trực tiếp trong luận văn là tăng trưởng kinh tế,
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, dòng viện trợ nước ngoài và các yếu tố kinh
tế vĩ mô khác quyết định tăng trưởng kinh tế của quốc gia.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài, dòng viện trợ nước ngoài và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác
quyết định tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển ở Châu Á trong giai
đoạn 1990 – 2016.
1.5.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu ảnh hưởng của dòng vốn nước ngoài (bao gồm dòng vốn viện
trợ nước ngoài và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) đến tăng trưởng kinh tế của
2.1.1. Dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như là dòng vốn đầu tư của
một nhà đầu tư nước ngoài để có được quyền kiểm soát lâu dài đối với việc quản lý
doanh nghiệp, và phải chiếm ít nhất 10% cổ phần có quyền biểu quyết trong một
doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế không phải quốc gia của nhà đầu tư
đang kinh doanh. Theo đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là tổng vốn
cổ phần, và bao gồm các khoản tái đầu tư của lợi nhuận, vốn dài hạn khác, và vốn
ngắn hạn. Các thành phần này có thể theo dõi trong cán cân thanh toán của một
quốc gia (World Bank, 2013). Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể đo
lường dưới dạng cổ phiếu hoặc dòng vốn. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
dưới dạng cổ phiếu là dòng vốn tích lũy của nhà đầu tư có ở một quốc gia trong một
khoảng thời gian nhất định. Trong khi đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
dưới dạng dòng vốn thì là những gì mà nhà đầu tư tạo ra trong một năm cụ thể, do
đó, ở dưới dạng dòng vốn, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng chảy
ra hoặc chảy vào quốc gia trong một năm cụ thể.
Hơn thế nữa, theo Dunning và Lundan (2008), dòng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài thường bắt đầu với các động cơ, mục đích khác nhau của các công ty đa
quốc gia. Chẳng hạn như tìm kiếm thị trường tiềm năng mới, tìm kiếm nguồn tài
nguyên thiên nhiên, tìm kiếm các kiến thức mới và tìm kiếm sự hiệu quả mới. Trong
đó, mục đích tìm kiếm thị trường mới có thể hiểu như là khi các công ty đa quốc gia
thực hiện đầu tư sang các thị trường mới để có được một thị trường kinh doanh lớn
hơn. Khi các công ty đa quốc gia thực hiện đầu tư ở các quốc gia với mục đích khai
thác tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia nhận đầu tư như dầu mỏ, vàng, quặng
sắt…thì đây được xem như là mục đích tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên. Đồng thời,
7
nếu các công ty đa quốc gia thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài để có thể cải thiện
kỹ năng thông qua việc nghiên cứu và phát triển cũng như có thể cải tiến công nghệ
Thứ ba, FDI có thể làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đầu tư trực tiếp nước
ngoài giúp giải quyết sự chênh lệch giữa các vùng, khu vực, lãnh thổ, góp phần hỗ
trợ các khu vực phát triển kém xóa đói, giảm nghèo. Thu hút đầu tư góp phần phát
huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa lý, kinh tế, chính trị,… của các
vùng. Từ đó, thay đổi cơ cấu các ngành, cơ cấu lao động…, góp phần đáp ứng các
yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội tốt hơn.
Cuối cùng, FDI góp phần phát triển, chuyển giao khoa học công nghệ của
quốc gia. Các công ty đã thực hiện chuyển giao các công nghệ từ quốc gia của mình
hay từ quốc gia khác cho quốc gia tiếp nhận đầu tư thông qua FDI. Thông qua thu
hút đầu tư nước ngoài, các quốc gia nhận được vốn đầu tư nước ngoài sẽ nhận được
những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, đồng thời, nâng cao kỹ năng quản lý, chất
lượng lao động.
2.1.2. Dòng vốn viện trợ nƣớc ngoài
Dòng vốn viện trợ phát triển chính thức hay còn được gọi là dòng vốn viện
trợ nước ngoài là một trong các dòng vốn nước ngoài bên cạnh dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài và dòng vốn kiều hối (Makori và các cộng sự, 2015). Dòng vốn
viện trợ phát triển chính thức chảy từ các quốc gia đã phát triển hoặc các tổ chức thế
giới đến các quốc gia đang phát triển dưới hình thức các khoản vay, các khoản ưu
đãi về tài chính và trợ cấp.
Dòng vốn viện trợ phát triển chính thức được chia làm hai loại chính: (1) các
khoản vay hoặc trợ cấp được cấp bởi một nhà tài trợ (viện trợ song phương) và (2)
các khoản vay hoặc trợ cấp được cấp bởi nhiều nhà tài trợ (viện trợ đa phương)
(Ekanayake và Chatrna, 2008). Trong đó, viện trợ song phương được các cơ quan
của các nước viện trợ thực hiện, chẳng hạn như Cơ quan hỗ trợ Phát triển chính
thức của New Zealand (NZODA), Cơ quan Phát triển Quốc tế của Mỹ (USAID)
hoặc Cơ quan Phát triển Quốc tế của Thụy Điển (SODA) và những quốc gia khác
(Makori và các cộng sự, 2015). Trong khi đó, viện trợ đa phương là nguồn tài trợ
hoặc nguồn vốn xuất phát từ các quốc gia phát triển nhưng được quản lý thông qua
10
Tăng trưởng kinh tế được xét phụ thuộc 2 quá trình gồm: sự tích lũy tài sản
như vốn, lao động, đất đai và việc đầu tư vào các tài sản này có năng suất hơn.
Trong đó, trọng tâm là đầu tư và tiết kiệm, tuy nhiên, chỉ khi đầu tư có hiệu quả thì
mới có thể thúc đẩy tăng trưởng. Ngoài ra, các yếu tố có vai trò nhất định tác động
đến tăng trưởng kinh tế phải kể đến là các chính sách của chính phủ, thể chế, chính
trị ổn định, kinh tế bền vững, đặc điểm địa lý, trình độ giáo dục và y tế.
Đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa
quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế
kỳ trước, và tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng phần trăm (%).
Cụ thể như sau:
y = dY/Y × 100(%)
Trong đó, Y là quy mô của nền kinh tế và y là tốc độ tăng trưởng. Tốc độ
tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa được tính khi quy mô kinh tế được xác
định bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa. Tương tự, tốc độ tăng trưởng GDP (hay
GNP) thực tế khi quy mô kinh tế được xác định bằng GDP (hay GNP) thực tế.
Các nhà kinh tế học đã dùng các mô hình kinh tế nhằm giải thích nguồn gốc
tăng trưởng kinh tế, cụ thể:
Mô hình tăng trưởng cổ điển do David Ricardo (1772-1823) kế thừa và phát
triển trên cơ sở quan điểm của Adam Smith (1723 - 1790). Mô hình được đưa luận
điểm là đất sản xuất là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Ông cho rằng đất sản
xuất bị giới hạn nên cần phải sản xuất trên vùng đất xấu hơn để tăng diện tích, do
đó, lợi nhuận ngày càng giảm kéo theo chí phí sản xuất tăng cao, giá nông sản tăng,
tăng tiền lương danh nghĩa và giảm lợi nhuận. Trong khi đó, nguồn tích lũy để phát
triển sản xuất chính là lợi nhuận, từ đó thúc đẩy tăng trưởng. Điều này cho thấy
rằng, vì diện tích đất bị giới hạn nên kéo theo lợi nhuận của người nông dân cũng
như người công nhân bị giảm, làm cho tăng trưởng kinh tế bị ảnh trưởng. Tuy
nhiên, khi đạt mức tăng trưởng càng cao thì mô hình không còn giải thích được
giả thiết gồm giá cả linh hoạt và nền kinh tế đạt trạng thái toàn dụng lao động. CÁc
nhà kinh tế học sử dụng mô hình để cho thấy rằng nền kinh tế chỉ mất cân bằng tạm
12
thời và sớm khôi phục trạng thái cân bằng khi đang từ trạng thái tăng trưởng cân
bằng chuyển sang trạng thái tăng trưởng mất cân bằng.
2.1.4. Lý thuyết giải thích sự tác động của dòng vốn nƣớc ngoài đến
tăng trƣởng kinh tế
Có hai lý thuyết chính để giải thích tại sao nguồn vốn nước ngoài có tác động
tích cực tới tăng trưởng kinh tế: lý thuyết tích lũy vốn và lý thuyết lan tỏa công
nghệ. Trong đó, lý thuyết tích lũy vốn cho rằng nguồn vốn nước ngoài được xem
như như là công cụ bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế nhận được nguồn vốn này.
Trong khi đó, lý thuyết lan toả công nghệ cho rằng nguồn vốn nước ngoài có thể tác
động đến tăng trưởng kinh tế qua kênh lan tỏa kiến thức/công nghệ kỹ thuật từ các
quốc gia đã phát triển sang các quốc gia đang phát triển.
Đầu tiên, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển được đề xuất bởi Solow (1956)
cho rằng sự gia tăng trong vốn khả dụng có thể giúp nền kinh tế gia tăng sản lượng,
và kết quả là sẽ làm gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Khi nguồn vốn
nước ngoài là một nguồn vốn vật chất cho nước nhận đầu tư, thì việc gia tăng nguồn
vốn nước ngoài sẽ làm gia tăng lượng vốn khả dụng cho quá trình sản xuất. Cho
nên, theo khung lý thuyết tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế, một sự gia tăng trong
nguồn vốn nước ngoài sẽ góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế của quốc gia và
khi đó nguồn vốn nước ngoài sẽ đóng vai trò như một nguồn vốn bổ sung cho lượng
vốn khả dụng của quốc gia. Tuy nhiên, giả sử rằng lợi nhuận của vốn đầu tư giảm
dần theo thời gian, tác động tích cực của nguồn vốn nước ngoài đến tăng trưởng
kinh tế không ổn định trong dài hạn. Điều này hàm ý rằng, theo lý thuyết tăng
trưởng tân cổ điển thì nguồn vốn nước ngoài chỉ đóng vai trò làm động lực tăng
trưởng kinh tế trong ngắn hạn (Brems, 1970).
nghiệp nước ngoài có thể gián tiếp nâng cấp công nghệ - kỹ thuật của các công ty
nội địa, điều này sẽ kéo sản lượng công ty gia tăng và kết quả là thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
Cuối cùng, khi các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động hiệu quả hơn, thì các
doanh nghiệp này có thể làm gia tăng tính cạnh tranh trong thị trường hoạt động,
đặc biệt là tại các thị trường mà các công ty nội địa đang hoạt động độc quyền trước
đây. Hiệu ứng cạnh tranh xảy ra khi sự gia tăng trong tính cạnh tranh của thị trường
14
bắt buộc các công ty nội địa phải hoạt động hiệu quả hơn trong quá trình sản xuất
hoặc đầu tư nhiều nguồn lực hơn vào việc nâng cấp công nghệ kỹ thuật của công ty.
2.2.
Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
2.2.1. Dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và tăng trƣởng kinh tế
Borensztein và các cộng sự (1998) đã kiểm tra ảnh hưởng của dòng vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển trong
giai đoạn 1970 - 1989. Cụ thể, nghiên cứu thực hiện thu thập mẫu nghiên cứu dữ
liệu dạng bảng bảo gồm 69 quốc gia đang phát triển. Đồng thời, mô hình nghiên
cứu của tác giả với tăng trưởng kinh tế được xem như là biến phụ thuộc và các biến
độc lập bao gồm dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn con người, chi tiêu
chính phủ, lạm phát, chất lượng thể chế, độ sâu tài chính. Sau đó, nghiên cứu đã tiến
hành hồi quy mô hình nghiên cứu bởi phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS và
tìm thấy rằng bản thân dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không có tác động
đáng kể đến tăng trưởng kinh tế ở mức ý nghĩa 10%. Nhưng dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của quốc gia
thông qua việc chuyển giao công nghệ. Cụ thể, tác giả cũng chỉ ra rằng hiệu ứng
nghiên cứu dữ liệu dạng bảng bao gồm 19 quốc gia ở Mỹ Latinh. Đồng thời, mô
hình nghiên cứu của tác giả với tăng trưởng kinh tế được xem như là biến phụ thuộc
và các biến độc lập bao gồm viện trợ nước ngoài, vốn con người, chỉ số tự do kinh
tế, chi tiêu chính phủ, lạm phxát. Sau đó, nghiên cứu đã tiến hành hồi quy mô hình
nghiên cứu bởi phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS và tìm thấy rằng dòng vốn
đầu tư trực tiếp có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc
gia trong mẫu nghiên cứu với mức ý nghĩa 10%. Điều này cho thấy rằng, các quốc
gia thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài càng nhiều càng thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế tại các quốc gia sở tại. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy rằng vốn
con người, chỉ số tự do kinh tế có tương quan dương với tăng trưởng kinh tế tại các
quốc gia tại mức ý nghĩa 10%. Ngược lại, lạm phát và chi tiêu chính phủ lại cho
thấy mối tương quan âm với tăng trưởng kinh tế của các quốc gia ở mức ý nghĩa
10%. Hơn thế nữa, các tác giả cũng cho rằng chỉ số tự do kinh tế, nợ công và lạm
phát có tác động đáng kể đến chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
16
Makki và Somwaru (2004) đã kiểm tra ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài và độ mở thương mại tới tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang
phát triển trong giai đoạn 1971 - 2001. Cụ thể, nghiên cứu thực hiện thu thập mẫu
nghiên cứu dữ liệu dạng bảng bao gồm 66 quốc gia đang phát triển. Đồng thời, mô
hình nghiên cứu của tác giả với tăng trưởng kinh tế được xem như là biến phụ thuộc
và các biến độc lập bao gồm dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, độ mở thương
mại, vốn con người, đầu tư nội địa, lạm phát, chi tiêu chính phủ và thuế. Sau đó,
nghiên cứu đã tiến hành hồi quy mô hình nghiên cứu bởi phương pháp hồi quy
dường như không liên quan (SUR) và phương pháp hồi quy ba bước (3SLS) và tìm
thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực tới tăng trưởng
kinh tế ở mức ý nghĩa 10%. Điều này cho thấy rằng chính sách thu hút dòng vốn
thu thập mẫu nghiên cứu dữ liệu dạng bảng bao gồm 84 quốc gia đã phát triển và
đang phát triển trên thế giới. Đồng thời, mô hình nghiên cứu của tác giả với tăng
trưởng kinh tế được xem như là biến phụ thuộc và các biến độc lập bao gồm dòng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư nội địa, tăng trưởng dân số, vốn con người,
cơ sở hạ tầng, lỗ hỏng công nghệ. Sau đó, nghiên cứu đã tiến hành hồi quy mô hình
nghiên cứu bởi phương pháp hồi quy OLS với mô hình OLS gộp, mô hình ảnh
hưởng cố định và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên, qua đó, các tác giả tìm thấy rằng
bản thân dòng vốn FDI không có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế của các
quốc gia ở mức ý nghĩa 10%. Nhưng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có tác
động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua vốn con người. Từ đó thấy được,
các quốc gia có vốn con người cao thì khi thực hiện chính sách thu hút dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hơn thế nữa, các tác giả
cũng tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có tác động tiêu cực đến
tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia sở tại có lỗ hỏng công nghệ nhiều với quốc
gia của các nhà đầu tư.
Seetanah và Khadaroo (2007) đã phân tích ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển trong
giai đoạn 1980 – 2000. Cụ thể, nghiên cứu thực hiện thu thập mẫu nghiên cứu dữ
liệu dạng bảng với 39 quốc gia đang phát triển ở Châu Phi. Đồng thời, mô hình
nghiên cứu của tác giả với tăng trưởng kinh tế được xem như là biến phụ thuộc và
các biến độc lập bao gồm FDI, đầu tư nội địa, đầu tư công và lực lượng lao động.