Nghiên cứu xác định giống và ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của cây đậu xanh tại thành phố hải dương - Pdf 52

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT
NAM

VŨ THỊ DUNG

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN HỮU CƠ VI SINH
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT
CỦA CÂY ĐẬU XANH TẠI THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành:

Khoa học cây trồng

Mã số:

60.62.01.10

Người hướng dẫn khoa học:

TS. Vũ Đình Chính

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên
cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Thị Dung

ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan ................................................................................................................ i
Lời cảm ơn ................................................................................................................... ii
Mục lục ...................................................................................................................... iii
Danh mục chữ viết tắt.................................................................................................. vi
Danh mục bảng .......................................................................................................... vii
Trích yếu luận văn ....................................................................................................... ix
Thesis abstract...............................................................................................................x
Phần 1. Mở đầu ...........................................................................................................1
1.1.

Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................1

1.2.

Mục tiêu và yêu cầu của đề tài .........................................................................2



Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới.........................................................4

2.1.2.

Tình hình sản xuất đậu xanh ở Việt Nam .........................................................6

2.2.

Một số kết quả nghiên cứu về đậu xanh trên thế giới và Việt Nam ...................7

2.2.1.

Một số kết quả nghiên cứu về đậu xanh trên thế giới........................................7

2.2.2.

Một số kết quả nghiên cứu về đậu xanh tại Việt Nam.....................................17

Phần 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu ..........................................................25
3.1.

Thời gian nghiên cứu .....................................................................................25

3.2.

Địa điểm nghiên cứu......................................................................................25

3.3.


4.1.

Điều kiện khí hậu và đất đai tại thành phố Hải Dương vụ hè thu năm 2015 ....32

4.2.

Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một
số giống đậu xanh trong điều kiện vụ hè thu tại thành phố Hải Dương ...........33

4.2.1.

Thời gian sinh trưởng, phát triển của các giống đậu xanh thí nghiệm tại
thành phố Hải Dương vụ hè thu 2015.............................................................33

4.2.2.

Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống đậu xanh thí nghiệm
tại thành phố Hải Dương vụ hè thu 2015 ........................................................36

4.2.3.

Động thái ra lá của các giống đậu xanh thí nghiệm tại thành phố Hải
Dương vụ hè thu 2015 ...................................................................................37

4.2.4.

Chỉ số diện tích lá của các giống đậu xanh thí nghiệm tại thành phố Hải
Dương vụ hè thu 2015 ...................................................................................38

4.2.5.

điều kiện vụ hè thu tại thành phố Hải Dương .................................................50

4.3.1.

Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến thời gian sinh trưởng của hai
giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208 tại thành phố Hải Dương vụ

thu 2015 ........................................................................................................50

4


4.3.2.

Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến động thái tăng trưởng chiều
cao cây của hai giống đậu xanh thí nghiệm tại thành phố Hải Dương vụ hè
thu 2015 ........................................................................................................51

4.3.3.

Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến động thái ra lá của hai giống
đậu xanh ĐX14 và ĐX208 tại thành phố Hải Dương vụ hè thu 2015..............52

4.3.4.

Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến chỉ số diện tích lá của hai
giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208 tại thành phố Hải Dương vụ hè thu 2015 ....53

4.3.5.


ĐX14 và ĐX208 tại thành phố Hải Dương vụ hè thu 2015.............................64
Phần 5. Kết luận và kiến nghị ...................................................................................66
5.1.

Kết luận ........................................................................................................66

5.2.

Kiến nghị .......................................................................................................66

Tài liệu tham khảo.......................................................................................................67
Phụ lục ......................................................................................................................73

5


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Nghĩa tiếng Việt

AVRDC

Trung tâm Nghiên cứu phát triển rau châu Á

BNNPTNT

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

CS. (et al.)


HCVSVĐCCN

Hữu cơ vi sinh vật đa chủng, đa chức năng

ICRISAT

Viện nghiên cứu cây trồng quốc tế cho vùng
nhiệt đới bán khô hạn ở Ấn Độ

NSG

Ngày sau gieo

NSLT

Năng suất lý thuyết

NSTT

Năng suất thực thu

PB

Phân bón

PGPR

Vi sinh vật thúc đẩy sinh trưởng ở cây trồng


Bảng 4.5. Chỉ số diện tích lá của các giống đậu xanh.................................................39
Bảng 4.6. Khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống đậu xanh ..........................40
Bảng 4.7. Khả năng tích lũy chất khô của các giống đậu xanh ...................................42
Bảng 4.8. Khả năng hình thành nốt sần của các giống đậu xanh ................................44
Bảng 4.9. Mức độ nhiễm sâu bệnh của các giống đậu xanh .......................................45
Bảng 4.10. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu xanh.............................47
Bảng 4.11. Năng suất của các giống đậu xanh .............................................................48
Bảng 4.12. Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến thời gian sinh trưởng
của hai giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208...................................................51
Bảng 4.13. Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây của hai giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208.............................52
Bảng 4.14. Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến động thái ra lá trên thân
chính của hai giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208 .........................................53
Bảng 4.15. Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến chỉ số diện tích lá của
hai giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208 .........................................................55
Bảng 4.16. Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến khả năng sinh trưởng
của hai giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208...................................................56
Bảng 4.17. Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến khả năng tích lũy chất
khô của hai giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208 ............................................57
Bảng 4.18. Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến số lượng nốt sần của
hai giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208 .........................................................59
Bảng 4.19. Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến mức độ nhiễm sâu bệnh
của hai giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208...................................................60
Bảng 4.20. Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến các yếu tố cấu thành
năng suất của hai giống đậu xanh ĐX14 và ĐX208 ...................................62

vii


Bảng 4.21. Ảnh hưởng của các loại phân bón HCVS đến năng suất của hai

Gianh, phân HCVS MT, phân HCVS Quế Lâm, phân HCVS Humic) và ô phụ: 2 giống
(ĐX14, ĐX208). Kết quả chỉ ra rằng, các phân bón HCVS khác nhau đều ảnh hưởng tới
sự sinh trưởng phát triển năng suất của đậu xanh tại các công thức thí nghiệm. Khi áp
dụng 1,5 tấn phân bón HCVS + 400kg vôi bột + 30 kg N + 90 kgP2O5 + 60 kg K2O/ ha
bón cho đậu xanh đều cho năng suất cao 16,73 đến 18,93 ta/ha với giống ĐX14 và
17,79 đến 20,23 tạ/ha với giống ĐX208. Trong đó, phân bón HCVS Quế Lâm cho kết
quả cao nhất về sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu xanh trên cả 2 giống, năng suất
đạt 18,93 tạ/ha với giống ĐX14 và 20,23 tạ/ha với giống ĐX208. Phân tích lợi nhuận
kinh tế thì phân bón HCVS quế lâm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trong vụ hè thu, lợi
tức (khoảng 3,18 triệu đồng/ha) so với sử dụng phân bón HCVS Sông Gianh. Với tình
hình sản xuất ở thành phố Hải Dương, phân chuồng trở lên khan hiếm thì việc sử dụng
phân bón HCVS để thay thế cho phân chuồng là hết sức cần thiết. Và kết quả nghiên
cứu này không chỉ tìm ra một số loại phân bón phù hợp cho cây đậu xanh mà còn tạo
nhiều sự lựa chọn cho nông dân sử dụng các loại phân bón phù hợp với tình hình sản
xuất cũng như thị trường cung ứng phân bón.

9


THESIS ABSTRACT
Master candidate: Vu Thi Dung
Thesis title: “The studies identify varieties and the effects of microbial organic
fertilizers to growth, development, yield of mungbean (Vigna radiata (L.) Wilczek) in
Hai Duong city".
Major: Crop Science

Code: 60.62.01.10

Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
In order to help farmers adopt mungbean varieties as well as organic microbial

0


PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây đậu xanh tên khoa học là Vigna radiata (L.) Wilczek, có nguồn gốc từ
Ấn Độ và Trung Á, được trồng ở nhiều nước châu Á như Thái Lan, Philippine,
Myanmar, Indonesia… ngoài ra, cây đậu xanh cũng được trồng ở nhiều nơi thuộc
Châu Phi, Châu Úc, Châu Mỹ.
Cây đậu xanh là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và kinh
tế cao. Trong 100 g đậu xanh chứa 25 -28% protein, 1,0 - 1,5% chất béo, 3,5 –
4,5% chất xơ, 4,5- 5,5% tro, 60 - 65% cacbohydrate, nhiều khoáng chất và các
vitamine khác (Kole, 2007). Đây là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng cho con
người, nó được chế biến và sử dụng ở nhiều dạng khác nhau như chè, xôi, cháo,
bánh trưng, bánh tét, giá đậu. Về mặt y học, đậu xanh được xem như dược liệu
tốt trong phòng, điều trị bệnh và bồi bổ sức khỏe như phòng chống chứng xơ
cứng động mạch, điều trị bệnh cao huyết áp, làm hạ mỡ máu, bảo vệ gan, giải
độc, giảm nguy cơ ung thư vú, tuyến tiền liệt. Ngoài ra, sản phẩm đậu xanh như
cây, lá, rễ, hạt được sử dụng trong chế biến thức ăn chăn nuôi cho thủy sản, gia
súc đem lại an toàn, hiệu quả kinh tế hơn các loại đậu khác.
Trong canh tác học, việc trồng đậu xanh có ý nghĩa quan trọng góp phần
cải tạo đất nhờ các nốt sần cố định đạm sống cộng sinh ở rễ đậu và phần thân lá
rụng xuống cung cấp thêm chất mùn cho đất, đồng thời, nâng cao hệ số sử dụng
đất do đậu xanh có chu kỳ sinh trưởng ngắn, có khả năng thích ứng rộng với điều
kiện khắc nghiệt, chịu hạn tốt thích hợp tham gia vào nhiều công thức cây trồng
(xen canh, luân canh, gối vụ). Từ những ưu điểm trên, cho nên cây đậu xanh
được sản xuất và tiêu thụ ngày càng tăng trong nước và trên thế giới.
Ở Việt Nam, cây đậu xanh là một trong ba cây họ đậu chính đứng sau lạc,
đậu tương, được trồng rải rác ở hầu hết các vùng sinh thái trong cả nước. Hiện
nay, chưa có một thống kê chính thức về cây trồng này, tuy nhiên theo số liệu thu

đậu xanh tại Hải Dương trong điều kiện vụ hè thu 2015.
- Đánh giá ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ vi sinh đến sinh
trưởng, phát triển, năng suất và hiệu quả kinh tế của một số giống đậu xanh tại
thành phố Hải Dương trong điều kiện vụ hè thu 2015.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Các thí nghiệm được tiến hành với 7 giống đậu xanh, trên đất phù sa
sông
Hồng không được bồi đắp tại thành phố Hải Dương trong điều kiện vụ hè thu
2015.
1.4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
Bổ sung các dẫn liệu cơ bản trong nghiên cứu về giống và loại phân bón
2


hữu cơ vi sinh thích hợp cho một số giống đậu xanh tại Hải Dương.
Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy nghiên cứu và chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Bổ sung giống đậu xanh tốt và loại phân bón hữu cơ thích hợp, góp phần
nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập, cải thiện đời sống người trồng đậu
xanh tại Hải Dương góp phần khuyến cáo mở rộng diện tích trồng đậu xanh trên
phạm vi tỉnh Hải Dương.

3


PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐẬU XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.1.1. Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới

10,5 triệu tấn, năng suất năm 2006 có giảm so với năm trước 0,3 tạ/ha, sản lượng
tăng từ 8,4 -8,5 triệu tấn. Sang năm 2007, tình hình sản xuất tăng mạnh hơn, các
giá trị sản xuất tăng tương ứng 0,8 triệu ha, 0,7 tạ/ha, 1,2 triệu tấn so với năm
trước. Năm 2008, do nguyên nhân nào đó mà tình hình sản xuất đậu xanh bị suy
giảm nghiêm trọng dẫn đến năng suất đạt giá trị thấp nhất 7,8 tạ/ha và sản lượng
không cao chỉ đạt 8,6 triệu tấn. Từ năm 2009 – 2010, tình hình sản xuất đậu xanh
thế giới phục hồi, có nhiều biến đổi lớn diện tích gần 12 triệu ha, năng suất đạt
9,1 – 9,2 tạ/ha, sản lượng tăng mạnh 10,4 – 11,1 triệu tấn tăng hơn năm 2008 trên
1,8 triệu tấn đậu xanh. So với 2010, năm 2011 có năng suất giảm hơn 0,3 tạ/ha
song do diện tích luôn duy trì mức tăng đều nên sản lượng không bị ảnh hưởng
nhiều và tăng hơn năm trước 700.000 tấn. Đến năm 2012, diện tích trồng đậu
xanh của thế giới giảm mạnh xuống 1 triệu ha so với năm 2011 nhưng do bù lại
năng suất khá cao 9,4 tạ/ha dẫn đến sản lượng giảm khoảng 200.000 tấn. Năm
2013, là năm có tình hình sản xuất mạnh nhất, cả về diện tích, năng suất, sản
lượng đều đạt giá trị cao nhất tương ứng 13,5 ha, 9,6 tạ/ha, 13,1 triệu tấn. Đây
cũng là minh chứng cho thành quả tiến bộ khoa học kỹ thuật, các lỗ lực nghiên
cứu cải tiến giống mang lại, mở ra một tương lai chưa có điểm dừng năng suất,
sản lượng cho tương lai sản xuất đậu xanh trên thế giới.
Sản suất đậu xanh của thế giới chung cũng như phần lớn các quốc gia
trồng đậu xanh nói riêng đều tăng về quy mô, năng suất, sản lượng. Ở Ấn Độ là
nước sản xuất đậu xanh lớn nhất trên thế giới, chiếm tới 65% diện tích và 54%
sản lượng đậu xanh của thế giới. Diện tích sản xuất và năng suất chiều hướng gia
tăng từ năm 1964-1965, diện tích gieo trồng từ 1,99 triệu ha - 3,54 triệu ha, sản
lượng 0,60 triệu tấn - 1,81 triệu tấn, sản xuất tập trung chủ yếu ở Rajasthan,
Maharashtra, Andhra Pradesh, Karnataka, Orissa và Bihar của Ấn Độ. Tuy Ấn
Độ đứng đầu về diện tích và sản lượng thế giới, nhưng năng suất trung bình của
đậu xanh lại rất thấp 316 kg/ha lên 408 kg/ha trong giai đoạn từ 1998-2008
(Khatik et al., 2007; Shanmugasundaram et al., 2009). Giai đoạn 2011 – 2014,
năng suất cũng chỉ đạt 890- 930 kg/ha (FAOSTAT, 2013).
Ở Bangladesh, năm 1980 diện tích trồng đậu xanh chỉ đạt 15 nghìn ha, sản

Vùng Đông Nam Bộ: là vùng sản xuất đậu xanh quy mô lớn chiếm 26%
diện tích gieo trồng cả nước, năng suất bình quân còn thấp đạt khoảng 500 kg/ha
(Nguyễn Đức Cường, 2009).
Quy mô, năng suất, sản lượng của đậu xanh còn hạn chế so với các cây
trồng họ đậu (lạc, đậu tương) cũng như các cây trồng chính bởi thiếu sự quan tâm
đầu tư như sử dụng giống cũ của địa phương, không được chọn lọc, diện tích
trồng đậu xanh còn manh mún nhỏ lẻ, tận dụng trên đất xấu không thể trồng cây
lương thực vì thiếu nước, tranh thủ bố trí cơ cấu cây đậu xanh trồng xen, gối với
các loại cây trồng khác, không có điều kiện thâm canh, tranh thủ lao động, mất
6


nhiều công lao động vào thu hoạch thường 2- 4 lần, công đoạn thu hoạch và tách
hạt đa phần là thủ công, rất khó khăn cho việc trồng với diện tích lớn. Mặt khác,
các giống chưa được thử nghiệm, tuyển chọn cho từng vùng sinh thái và các biện
pháp kỹ thuật kèm theo, nên việc phát triển các giống đậu xanh tốt, năng suất cao
vào sản xuất còn rất chậm, việc đầu tư thâm canh cũng chưa được nghiên cứu kỹ,
nhất là công tác bảo vệ thực vật, thời vụ gieo trồng, đầu tư phân bón, nông dân
rất thiếu thông tin. Do đó, năng suất đậu xanh nước ta có thời điểm rất thấp chỉ
đạt 5-6 tạ/ha (Đường Hồng Dật, 2006).
Những năm gần đây tình hình sản xuất đậu xanh cả nước nói chung và một
số khu vực nói riêng có những cải thiện rõ rệt. Từ năm 1996 - 2005, diện tích
trồng đậu xanh cả nước dao động khoảng 200.000ha, năng suất tăng từ 6,3 – 7,6
tạ/ha, sản lượng đạt từ 120 – 160 nghìn tấn (Đồng Nguyễn Thái, 2013). Một số
khu vực có diện tích trồng đậu xanh lớn ở vùng duyên hải Bắc Trung Bộ như tỉnh
Nghệ An diện tích gieo trồng 5.136 – 9.866 ha năng suất khá cao từ 6,75 – 8,31
tạ/ha, tỉnh Hà Tĩnh diện tích gieo trồng 11.076 – 11857 ha năng suất đạt 8,92
– 9,87 tạ/ha trong những năm 2008 – 2011 (Nguyễn Ngọc Quất và cs., 2012).
Hiện nay, một số vùng sản xuất lúa thiếu nước tưới, hạn hán, việc trồng
lúa kém hiệu quả dẫn đến tình trạng đất bỏ hoang. Để khắc phục tình trạng này

nghiên cứu, phổ biến giống ở các tổ chức nghiên cứu tại nhiều quốc gia. AVRDC
đã đóng góp đáng kể vào chương trình cải thiện giống đậu xanh trên thế giới.
Chương trình cải tiến AVRDC đã phát triển mạng lưới đa quốc gia gồm 29 các tổ
chức nghiên cứu chủ chốt tại nhiều nước châu Á như Bangladesh, Trung Quốc,
Ấn Độ, Myanmar, Pakistan, Sri Lanka, Thái Lan. Các mẫu giống được gửi tới
các nước để thử nghiệm, chọn tạo và trong vòng khoảng 30 năm, đến đầu năm
2009, 27 quốc gia đã đưa ra sản xuất 112 dòng giống đậu xanh cải tiến, cho năng
suất tăng từ 0,3 tấn/ha lên 2,7 tấn/ha, nhiều giống cải tiến kháng bệnh đốm lá và
phấn trắng. Hiện nay, AVRDC lưu trữ bộ sưu tập giống cây lớn nhất thế giới với
10.745 chi Vigna, có 6.379 có 6.379 mẫu giống đậu xanh (Easdown et al., 2010).
Chương trình hợp tác giữa các Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt
đới (Nhật Bản), Trung tâm Nghiên cứu Cây trồng Chinat (Thái Lan), Viện Tài
nguyên Cây trồng Quốc gia Nhật Bản và AVRDC. Trong chương trình nghiên
cứu này có 497 mẫu đã được sử dụng cho việc đánh giá kiểu sinh trưởng, 651
mẫu cho việc đánh giá đặc điểm hạt và 590 mẫu cho việc đánh giá sự đa dạng
protein. Hầu hết các mẫu giống này đều được cung cấp bởi các ngân hàng gen
của AVRDC, trường đại học Tokyo (Nhật Bản) và Viện Tài nguyên Cây
trồng Quốc gia Nhật Bản (Tomooka et al., 1990).
Ở Trung Quốc, các nhà khoa học đã thu thập và lưu giữ 4.936 mẫu giống
đậu xanh từ các vùng trong cả nước, 60% các mẫu giống này đã được tiến hành
phân tích thành phần dinh dưỡng, đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại,
khả năng chống chịu điều kiện thời tiết bất thuận. Hơn 200 dòng, giống đậu xanh
từ AVRDC được nghiên cứu đánh giá tại Trung Quốc (Zhang et al., 2003).

8


Ở Philippines, theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy, chương trình cải
tiến giống đậu xanh được bắt đầu từ rất sớm, trước năm 1916. Nhưng mãi tới
năm 1956, chương trình chọn tạo giống đậu mới thực sự khởi sắc bằng các


9


bón quá nhiều N và bón không cân đối với các nguyên tố đa lượng khác thì cây
cao vóng, khả năng chống đổ kém, hạt lép thậm chí không ra hoa.
Bón phân đạm tùy vào đất, độ ẩm, thời gian sinh trưởng của cây để cây
sinh trưởng, phát triển, cho năng suất tốt. Nên bón phân giai đoạn cây con, ra
hoa, hình thành quả. Ở giai đoạn cây con sau khi lượng đạm dự trữ trong hạt cạn
kiệt, trước khi nốt sần có thể hoạt động tạo ra lượng đạm cần thiết thì sự sinh
trưởng của cây đậu xanh phụ thuộc vào lượng đạm có trong đất và làm tăng đáng
kể năng suất đậu xanh. Ở giai đoạn ra hoa, hình thành quả là giai đoạn đậu xanh
hấp thu đạm nhiều nhất bón giai đoạn này sẽ cho năng suất cao, làm tăng năng
suất hạt tới 18%, còn bón đạm vào giai đoạn trước khi ra hoa chỉ làm tăng sự
sinh trưởng thân lá (Park, 1978; Sekhon et al., 1987).
Lân: Là thành phần cấu tạo của nucleoprotein, phosphilipids, enzymes và
những hợp chất khác của cây. Nguyên tố này có một vai trò quan trọng trong
chuyển hóa năng lượng của tế bào thực vật, tăng cường sự phát triển của rễ, số
lượng nốt sần, thúc đẩy nhanh quá trình ra hoa, chín quả, tăng số quả/cây, khối
lượng 1000 hạt, có thể làm tăng từ 24,9% đến 26,2% hàm lượng Protein
(Despande and Bathkal, 1965; Mian and Hossain, 2014). Do đó, sự hấp thu
phospho của cây là rất quan trọng, nếu không cung cấp đủ lượng phospho cho
cây thì không thể đạt năng suất tối đa, hoạt động của vi khuẩn Rhizobium sp. sẽ
bị ức chế, phần lớn lượng phân lân bón vào đất bị cố định hoá và đậu xanh không
sử dụng được cây sẽ còi cọc, ban đầu có màu lá xanh đậm, sau đó mất màu, màu
sắc lốm đốm, đốt trên thân và cuống lá tía.
Lượng lân cần để tạo ra 1 tấn hạt đậu xanh từ 3-5kg. Tuy nhiên, đậu xanh
cũng tương tự như một số cây đậu đỗ khác về khả năng hút lân chậm, hiệu quả
hút lân thấp, hàm lượng phospho không thể được bù lại một lượng nhỏ như chất
dinh dưỡng khác nên người sản xuất phải bón một lượng lân khá lớn (do chất

kali được huy động nhiều vào thời kỳ bắt đầu ra hoa, quả. Thiếu kali ở giai
đoạn này làm tăng tỷ lệ rụng hoa, quả, giảm số quả/cây và khối lượng 1000 hạt.
Trong đất, biết kali trong đất đa phần tồn tại dưới dạng hợp chất khoáng không
tan, vì vậy cây hấp thu rất chậm và cần một lượng phân bón khá lớn (Poehlman
et al., 1991).
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hấp thu kali như đất, khí hậu, bố trí cây trồng,
mật độ và sự tương tác các chất dinh dưỡng của cây. Trong đó, độ ẩm, nhiệt độ là
+

yếu tố ảnh hưởng lớn đến tốc độ khuếch tán K từ đất vào cây, độ ẩm đất tăng từ
+

10% đến 28%, tốc độ khuếch tán K tăng 2,8 lần so ở mức bình thường. Tốc độ
+

0

0

khuếch tán K gia tăng từ 1,6 - 1,7 lần khi nhiệt độ tăng từ 5 C đến 30 C (Abyar
et al., 2014) nên phải đảm bảo độ ẩm, nhiệt độ tốt cho cây hấp thu kali.
Các nguyên tố đa lượng N, P, K có ảnh hưởng lớn của tới sinh trưởng,
phát triển của cây. Sự thay đổi liều lượng phân bón hay sự kết hợp các nguyên tố
dinh dưỡng trong công thức phân bón cũng ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất.
Theo Mian and Hossain (2014) cho thấy, nitơ ở các mức 0 kgN/ha, 40
kgN/ha, 60 kgN/ha và 80 kgN/ha có ảnh hưởng khác nhau tới chức năng sinh
11


2

So với nguyên tố đa lượng, cây chỉ cần một lượng nguyên tố trung lượng
ít hơn như Ca, S... và đặc biệt, một lượng rất nhỏ nguyên tố vi lượng như: B, Cu,
Fe, Mn, Mo, Ni và Zn để cây hoàn thành chu kỳ sinh trưởng bình thường và năng
suất cao. Cây đậu xanh có thể hấp thu các chất này từ đất cũng đủ cho quá trình
sinh trưởng phát triển của cây, do đó ít phải bổ sung các loại vi lượng này.
Canxi cần cho sự phát triển ban đầu của rễ. Thiếu canxi rễ chuyển sang
màu nâu rồi dần dần suy yếu khả năng hút chất dinh dưỡng. Trong đất trồng đậu
xanh hàm lượng canxi có thể lớn gấp 10 lần kali. Vùng nhiệt đới ẩm thường có
hàm lượng canxi dễ tiêu thấp, do đó bón vôi cho đất trồng đậu đã trở thành tập
quán từ lâu đời.

12


Lưu huỳnh là thành phần của nhiều loại axít amin quan trọng trong cây,
lưu huỳnh có mặt trong thành phần protein của đậu xanh. Thiếu lưu huỳnh, sự
sinh trưởng của cây bị cản trở, lá có biểu hiện vàng nhạt, cây chậm phát triển.
Magiê là thành phần quan trọng của diệp lục và có vai trò rất quan
trọng trong việc tăng năng suất đậu xanh. Thiếu Mg có thể làm suy giảm năng
suất đậu xanh.
b. Một số kết quả nghiên cứu bón phân hữu cơ vi sinh (HCVS)
Hiện nay, nhiều vùng đất trên thế giới có thành phần đá vôi, độ pH cao,
hạn hán liên tục, sử dụng phân bón không cân đối làm đất trai cứng, hàm lượng
chất hữu cơ thấp, độ phì kém làm mất cân bằng tăng trưởng của cây trồng nói
chung và đậu xanh nói riêng. Để khắc phục các vấn đề khó khăn đó, việc áp dụng
phân bón HCVS trong sản xuất nông nghiệp là một giải pháp khả quan, bởi phân
bón HCVS cải thiện đáng kể tình trạng lý – hóa - sinh học của đất, cung cấp
nhiều dưỡng chất quan trọng cho cây trồng, tăng năng suất cây trồng, giảm thiểu
hoặc thay thế một lượng lớn phân hoá học tạo nền nông nghiệp thân thiện với
môi trường, bền vững và hữu cơ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status