BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Ngọc Mơ
PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN TÀI TRỢ BÊN
NGOÀI VÀ DÒNG TIỀN CỦA DOANH NGHIỆP HẠN
CHẾ VÀ KHÔNG HẠN CHẾ TÀI CHÍNH. BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh, năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Ngọc Mơ
PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN TÀI TRỢ BÊN
NGOÀI VÀ DÒNG TIỀN CỦA DOANH NGHIỆP HẠN
CHẾ VÀ KHÔNG HẠN CHẾ TÀI CHÍNH. BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2016
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Định
Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................2
1.3
Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................2
1.4
Phƣơng pháp nghiên cứu ...............................................................................3
1.5
Kết cấu bài nghiên cứu ..................................................................................3
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY ... 5
2.1
Cơ sở lý thuyết ...............................................................................................5
2.2
Các nghiên cứu trƣớc đây ..............................................................................6
2.3
Xây dựng giả thuyết ....................................................................................13
CHƢƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................... 16
3.1
Thống kê miêu tả .........................................................................................27
4.2
Kết quả thực nghiệm....................................................................................30
4.2.1
Mô hình cơ sở .......................................................................................30
4.2.2
Mô hình mở rộng ..................................................................................37
4.2.3
Mô hình hiệu ứng tài sản cố định hữu hình ..........................................41
4.2.4
Mô hình thêm hiệu ứng kinh tế vĩ mô ..................................................43
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN ...................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 50
PHỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ KIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
REM
Bảng 4.12 Kết quả ƣớc lƣợng GMM với biến EXTFIN_D và EXTFIN_E ……….39
Bảng 4.13 Tổng hợp kết quả ƣớc lƣợng GMM ……………………………………40
Bảng 4.14 Kết quả hồi quy phƣơng trình (3) với biến EXTFIN_DE ……………...41
Bảng 4.15 Kết quả hồi quy phƣơng trình (3) với biến EXTFIN_D và EXTFIN_E..42
Bảng 4.16 Kết quả hồi quy phƣơng trình (4) với biến EXTFIN_DE ……………...44
Bảng 4.17 Kết quả hồi quy phƣơng trình (4) với biến EXTFIN_D và EXTFIN_E..44
PHẦN MỞ ĐẦU
Bài nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ của nguồn tài trợ tài chính bên ngoài
và dòng chảy tiền mặt trong lý thuyết cấu trúc vốn bằng cách so sánh các doanh
nghiệp chƣa niêm yết (bị hạn chế về mặt tài chính) và các doanh nghiệp đã niêm
yết. Bằng việc sử dụng dữ liệu bảng của 195 doanh nghiệp gồm 105 doanh nghiệp
đã niêm yết và 90 doanh nghiệp chƣa niêm yết trong suốt giai đoạn từ năm 2007
đến 2016 tại Việt Nam để xem xét về mối quan hệ nêu trên. Tác giả cho rằng quyết
định đầu tƣ sẽ ít bị tác động hơn trong trƣờng hợp của các doanh nghiệp chƣa niêm
yết, vì các doanh nghiệp này phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn vốn nội bộ sẵn có
(dòng tiền). Do đó, các doanh nghiệp chƣa niêm yết đầu tƣ dòng tiền vào các dự án
có lợi nhuận, sử dụng bất kỳ dòng tiền dƣ còn lại để tăng sở hữu tài sản một cách an
toàn. Đổi lại, các doanh nghiệp niêm yết xác định đầu tƣ một cách ngoại sinh và có
thể giảm đòn bẩy nếu doanh nghiệp làm tăng dòng tiền. Kết quả là, các doanh
nghiệp niêm yết sẽ phản ứng mạnh hơn trƣớc những sự thay đổi về dòng tiền. Các
phát hiện trong bài nghiên cứu cho thấy rằng cả hai loại doanh nghiệp không niêm
yết và niêm yết đều thể hiện một mối tƣơng quan âm giữa nguồn tài chính bên
ngoài và dòng tiền.
1
2
Với những điều trên, tôi lựa chọn đề tài: “PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG
CỦA NGUỒN TÀI TRỢ BÊN NGOÀI VÀ DÒNG TIỀN CỦA DOANH
NGHIỆP HẠN CHẾ VÀ KHÔNG HẠN CHẾ TÀI CHÍNH. BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2016”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm dựa vào
nghiên cứu định lƣợng xác định mối quan hệ giữa nguồn tài trợ bên ngoài và dòng
tiền của doanh nghiệp, tác giả hy vọng. Bài nghiên cứu có ba mục tiêu nhƣ sau:
Thứ nhất, phân loại thế nào là doanh nghiệp hạn chế tài chính và doanh
nghiệp không hạn chế tài chính.
Thứ hai, cung cấp đƣợc tổng quan về các giả thuyết nghiên cứu về hai yếu tố
của bài nghiên cứu: nguồn tài trợ bên ngoài và dòng tiền của doanh nghiệp.
Thứ ba, kiểm định mối tƣơng quan giữ nguồn tài trợ bên ngoài và dòng tiền
của doanh nghiệp hạn chế và không hạn chế tài chính tại Việt Nam.
Thứ tư, phân tích vai trò của tài sản hữu hình đối với mối quan hệ giữa
nguồn tài trợ bên ngoài và dòng tiền của doanh nghiệp bị hạn chế tài chính tại Việt
Nam.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu và làm rõ nội dung đề tài, bài nghiên cứu
này đã đƣa ra những câu hỏi nghiên cứu sau:
Thứ nhất, thế nào là doanh nghiệp hạn chế tài chính và doanh nghiệp không
hạn chế tài chính.
Thứ hai, biến động của tài trợ bên ngoài tác động thế nào đến dòng tiền của
doanh nghiệp hạn chế tài chính.
3
Chƣơng 3: Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu: Ở chƣơng này sẽ trình
bày về nguồn dữ liệu nghiên cứu đƣợc thu thập, các phƣơng pháp luận và các mô
hình nghiên cứu liên quan và áp dụng nghiên cứu cho các doanh nghiệp tại Việt
Nam.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu: Ở chƣơng này sẽ trình bày kết quả thống
kê mô tả và kết quả thực nghiệm về mối quan hệ của nguồn tài trợ tài chính từ bên
ngoài và dòng tiền tại các doanh nghiệp Việt Nam.
Chƣơng 5: Kết luận: Ở chƣơng này sẽ trình bày kết luận tổng quát về kết
quả nghiên cứu và các hạn chế của bài nghiên cứu và đƣa ra những kiến nghị.
5
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
TRƢỚC ĐÂY
2.1 Cơ sở lý thuyết
Các nguồn vốn nội bộ trong doanh nghiệp đƣợc xem là điểm cốt lõi trong
các lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đang giai đoạn
sinh lợi thƣờng tăng lƣợng tiền mặt đáng kể. Theo lý thuyết đánh đổi (trade-off),
loại hình doanh nghiệp này sẽ tăng đòn bẩy để tận dụng lợi thế của tấm chắn thuế.
Tuy nhiên, lý thuyết trật tự phân hạng dự đoán mối quan hệ ngƣợc chiều giữa đòn
bẩy và dòng tiền do sự tồn tại của chi phí thông tin bất đối xứng dẫn đến việc lựa
chọn các nguồn vốn nội bộ (lựa chọn đầu tiên) chứ không phải là nợ (lựa chọn thứ
hai) và nguồn vốn đầu tƣ cổ phần (lựa chọn cuối cùng) (Frank & Goyal, 2008, chap
12, Shyam-Sunder & Myers, 1999). Nhƣ vậy, nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu về
cấu trúc vốn của một doanh nghiệp là Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani và
Miller: The cost of capital, coporation finance and the theory of investment” (1958,
Franco Modigliani and Merton Miller). MM đã đƣa ra một nghiên cứu với việc bỏ
giả thuyết thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo MM, việc vay nợ càng nhiều sẽ làm
thuộc ít hơn vào quỹ nội bộ so với các doanh nghiệp bị hạn chế về tài chính (Myers
& Majluf (1984)). Hơn nữa, do thông tin bất đối xứng, các doanh nghiệp thích vay
nợ để tài trợ vốn chủ sở hữu khi đi cho các quỹ bên ngoài và phát hành vốn chủ sở
hữu chỉ nhƣ một phƣơng sách cuối cùng. Kể từ khi bất đối xứng thông tin làm tăng
chi phí tài chính bên ngoài và kể từ khi các doanh nghiệp bị hạn chế về tài chính bị
nhiều thông tin không đối xứng, tài chính bên ngoài của họ nên liên quan chặt chẽ
hơn đến dòng tiền. Nhƣ vậy, đối với một mức đầu tƣ nhất định, các doanh nghiệp bị
hạn chế về tài chính sinh lời đòi hỏi ít vốn bên ngoài hơn để tài trợ cho đầu tƣ của
họ, và do đó, họ ít có khả năng khai thác thị trƣờng vốn bên ngoài. Tuy nhiên,
ngƣời ta cần lƣu ý rằng lập luận này giả định rằng một doanh nghiệp xác định mức
đầu tƣ của mình trƣớc khi xác định số nợ và vốn chủ sở hữu tối ƣu để phát hành.
2.2 Các nghiên cứu trƣớc đây
Anastasiya Shamshur (2010) xem xét tầm quan trọng của những hạn chế tài
chính đối với các quyết định cơ cấu vốn trong các nền kinh tế chuyển đổi trong giai
đoạn 1996-2006 bằng cách sử dụng hồi quy chuyển mạch nội bộ với phƣơng pháp
7
tách mẫu không rõ. Bằng chứng cho thấy sự khác biệt về hạn chế tài chính có ảnh
hƣởng đáng kể đến cấu trúc vốn của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp bị hạn chế và
các doanh nghiệp không bị giới hạn khác nhau trong các yếu tố cơ cấu vốn. Cụ thể,
tính hữu hình dƣờng nhƣ là yếu tố quyết định đòn bẩy cực kỳ quan trọng đối với các
doanh nghiệp bị ràng buộc, trong khi các yếu tố kinh tế vĩ mô (GDP và lạm phát kỳ
vọng) ảnh hƣởng đến mức đòn bẩy của các doanh nghiệp không bị giới hạn, cho
thấy các doanh nghiệp này điều chỉnh cơ cấu vốn của họ để đáp ứng với những thay
đổi trong điều kiện kinh tế vĩ mô. Hơn nữa, các doanh nghiệp không bị hạn chế về
tài chính sẽ điều chỉnh cơ cấu vốn của họ nhanh hơn đến mức mục tiêu, phù hợp với
các tài liệu trƣớc. Lý thuyết cơ cấu vốn cung cấp một số yếu tố quyết định có trách
nhiệm sự thay đổi cấu trúc vốn, trong khi nghiên cứu thực nghiệm cố gắng tìm ra
chi phí tổn thất về tài chính thấp hơn, và việc đánh giá sai nợ liên quan đến vốn chủ
sở hữu sẽ đƣợc đánh giá cao hơn. Khi các doanh nghiệp này phát hiện ra rằng lợi
ích ròng của nợ là tích cực, họ sẽ chuyển sang cơ cấu vốn ƣa thích của họ bằng cách
phát hành thêm nợ và / hoặc giảm vốn chủ sở hữu. Giả định ngầm cho thấy rằng
đòn bẩy của một doanh nghiệp hoàn toàn là một chức năng của nhu cầu nợ của
doanh nghiệp. Nói cách khác, việc cung cấp vốn có tính đàn hồi vô hạn với giá
đúng và chi phí vốn phụ thuộc vào rủi ro của các dự án của doanh nghiệp, chúng tôi
xem xét cách các doanh nghiệp lựa chọn cấu trúc vốn của họ. Bằng cách kết hợp
các tài liệu về sự lựa chọn tối ƣu của đòn bẩy với các tài liệu về hạn chế tín dụng,
chúng tôi có thể giải thích tốt hơn các mô hình quan sát của đòn bẩy nhìn thấy trong
các doanh nghiệp kinh doanh công khai. Khi kiểm tra các doanh nghiệp tƣ nhân
nhỏ, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng họ đang bị hạn chế tín dụng. Rất ít
thông tin công khai có sẵn về các doanh nghiệp nhƣ vậy và với quy mô nhỏ của họ
thì chi phí thu thập thông tin này có thể khá cao. Khi chúng tôi thay vì kiểm tra các
doanh nghiệp kinh doanh công khai, cảnh quan là khác nhau. Không chỉ các doanh
nghiệp này lớn hơn nhiều, nhƣng các yêu cầu quy định về phát hành công khai cũng
có nghĩa là có nhiều thông tin hơn về họ.
Murray Z. Frank and Vidhan K. Goyal (2009) Bài nghiên cứu này xem
xét tầm quan trọng tƣơng đối của nhiều yếu tố trong các quyết định về cơ cấu vốn
9
của các doanh nghiệp Mỹ đƣợc giao dịch công khai từ năm 1950 đến năm 2003.
Các yếu tố đáng tin cậy nhất để giải thích đòn bẩy thị trƣờng là: đòn bẩy công
nghiệp trung bình (ảnh hƣởng đến đòn bẩy), tỷ lệ tài sản thị trƣờng (-), tài sản hữu
hình (+), lợi nhuận (-), log của tài sản (+), và lạm phát kỳ vọng (+). Ngoài ra, chúng
tôi thấy rằng các doanh nghiệp trả cổ tức thƣờng có đòn bẩy thấp hơn. Khi xem xét
cuốn sách đòn bẩy, hiệu ứng tƣơng tự cũng đƣợc tìm thấy. Tuy nhiên, đối với sách
đòn bẩy, tác động của quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ giữa mua bán và tỷ lệ lạm phát
Wilson Tarantin Junior & Maurício Ribeiro do Valle (2013) Nghiên cứu
này đánh giá cơ cấu vốn của các doanh nghiệp niêm yết của Brazil, trong giai đoạn
từ năm 2005 đến năm 2012, xác minh vai trò của các nguồn tài trợ mà các doanh
nghiệp đó đang tìm kiếm. Các học giả đã tìm cách giải thích cấu trúc tài chính của
các doanh nghiệp thông qua các đặc điểm của họ nhƣ quy mô, lợi nhuận, khả năng
hữu hình, cơ hội tăng trƣởng, rủi ro. Để làm đƣợc điều này, tỷ lệ nợ trong 3 nguồn
khác nhau đƣợc đánh giá: các định chế tài chính, thị trƣờng vốn và các nguồn với
lãi suất đƣợc trợ cấp, sau đó đại diện cho một yếu tố thể chế của nền kinh tế Brazil.
Một mẫu 95 doanh nghiệp đã đƣợc sử dụng, trong số 150 doanh nghiệp lớn nhất
đƣợc niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán São Paulo, hàng hóa và giao dịch
tƣơng lai. Bằng cách sử dụng các mô hình với dữ liệu bảng, kết quả cho thấy rằng
các nguồn chi phí tác động đến sự hình thành cấu trúc vốn của doanh nghiệp, ảnh
hƣởng đến cả đòn bẩy và nợ đáo hạn. Về đòn bẩy, các doanh nghiệp có tỷ lệ tiền
mặt của họ đƣợc huy động trong thị trƣờng vốn cao hơn sẽ có nhiều đòn bẩy hơn.
Điều này cũng không đúng đối với các doanh nghiệp có tỷ lệ tài trợ đƣợc trợ cấp
cao hơn. Đối với các khoản nợ đáo hạn, nguồn tài chính của các kỳ hạn khác nhau
thu đƣợc từ các nguồn khác nhau: nguồn tài chính có kỳ hạn thấp hơn thu đƣợc từ
các tổ chức tài chính và nguồn tài chính có kỳ hạn cao hơn. So sánh các nguồn lực
từ thị trƣờng vốn với nguồn tài trợ đƣợc trợ cấp, kết luận rằng tài nguyên trƣớc đây
có độ trƣởng thành cao hơn. Kết quả này có thể đƣợc giải thích bởi sự tăng trƣởng
của thị trƣờng vốn Brazil trong những năm gần đây, kể từ năm 2009, do đó các
doanh nghiệp đã dựa trên thị trƣờng vốn để tài trợ với sự trƣởng thành cao hơn. Kết
quả cho thấy tỷ lệ nợ trên thị trƣờng vốn có liên quan đến việc xác định các doanh
nghiệp đòn bẩy. Do đó, các doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao hơn trên thị trƣờng vốn
đƣợc tận dụng nhiều hơn các doanh nghiệp khác. Ngƣợc lại, tỷ lệ nợ với lãi suất
11
đƣợc trợ cấp không có ý nghĩa quan trọng để tạo đòn bẩy lớn hơn cho các doanh
chính từ bên ngoài ngắn hạn. Mối quan hệ nghịch chiều đƣợc thúc đẩy bởi hiệu ứng
hệ số đòn bẩy. Một cú sốc tiền mặt mạnh làm tăng khả năng vay ngắn hạn của
doanh nghiệp, từ đó có tác động tích cực đến đầu tƣ và tăng trƣởng của doanh
nghiệp. Hơn nữa, hiệu quả nhân tố đòn bẩy là cao nhất đối với các doanh nghiệp
dựa vào các khoản tín dụng ngắn hạn và thấp hơn cho các doanh nghiệp có thể có
đƣợc nguồn tài chính dài hạn. Phân tích bộ dữ liệu khu vực đồng Euro tác giả tìm
thấy sự ủng hộ mạnh mẽ cho các dự đoán lý thuyết của bài nghiên cứu.
Robert E. Carpenter & Bruce C. Petersen (1998) Bài viết này xem xét lý
thuyết rằng tăng trƣởng của doanh nghiệp nhỏ thƣờng bị hạn chế bởi nguồn tài
chính nội bộ. Theo các giả định hợp lý, khi các hạn chế về tài chính bị ràng buộc,
một đồng đô la bổ sung của nguồn tài chính nội bộ sẽ tạo ra nhiều hơn một đô la
tăng trƣởng để bổ sung về tài sản. Dự đoán định lƣợng này không nên giữ cho số
lƣợng doanh nghiệp tƣơng đối nhỏ tiếp cận với vốn chủ sở hữu bên ngoài. Tác giả
kiểm tra những dự đoán này với một bảng điều khiển của hơn 1600 doanh nghiệp
nhỏ và thấy rằng sự tăng trƣởng của hầu hết các công ty bị hạn chế bởi tài chính nội
bộ. Kết quả của chúng tôi có ý nghĩa đối với một số tài liệu nghiên cứu khác nhau,
bao gồm các mô hình tăng trƣởng vững chắc. "Lý thuyết tài chính nội bộ về tăng
trƣởng" có thể tiếp tục áp dụng cho một số lớn các công ty Mỹ, đặc biệt là các công
ty nhỏ. Ở cấp tổng hợp cho các tập đoàn phi tài chính, tài chính đƣợc tạo ra trong
nội bộ là gần 90% tổng đầu tƣ. Tác giả phát triển một mô hình tăng trƣởng đơn giản
dựa trên hạn chế về tài chính. Theo giả định hợp lý, mô hình dự đoán rằng một công
ty nhỏ phải đối mặt với một ràng buộc về tài chính sẽ thể hiện mối quan hệ gần
bằng giữa tăng trƣởng tài sản và tài chính nội bộ. Nếu chúng ta cho phép các doanh
nghiệp tiếp cận với nợ vay phụ thuộc vào tài sản thế chấp của họ, một đồng đô la
Mỹ sẽ tăng thêm một nửa đô la nhờ tăng hiệu quả đòn bẩy. Mô hình này cũng dự
đoán rằng các công ty có thể có đƣợc nguồn tài chính vốn chủ sở hữu bên ngoài,
qua đó giải tỏa hạn chế tài chính nội bộ, nên có mối quan hệ yếu ớt giữa tăng trƣởng
và tài chính nội bộ.
định đầu tƣ của họ đƣợc coi là biến nội sinh. Ngƣợc lại, các doanh nghiệp đã niêm
yết có thể quyết định đầu tƣ vì không phụ thuộc quá nhiều vào dòng tiền chính họ
14
tạo ra. Do đó, các doanh nghiệp chƣa niêm yết sẽ có xu hƣớng sử dụng dòng tiền
trƣớc tiên để tài trợ các dự án có lợi nhuận và tiếp theo là tài sản cố định hoặc vốn
luân chuyển và tiền mặt. Sau đó, các doanh nghiệp "đầu tƣ" dòng tiền mặt còn lại
mà không đƣợc sử dụng trong các dự án vào các tài sản an toàn có thể đƣợc sử dụng
trong tƣơng lai để đảm bảo cho các khoản vay mới trong tƣơng lai. Do đó, mối quan
hệ về nguồn tài trợ bên ngoài và tiền mặt dự kiến sẽ có tƣơng quan âm, mặc dù
không mạnh (nghĩa là hiệu ứng thay thế cƣờng độ thấp). Đổi lại, các doanh nghiệp
niêm yết cũng sẽ sử dụng dòng tiền mà họ tạo ra là sự lựa chọn đầu tiên của họ vì
tiết kiệm đƣợc chi phí phát hành. Tuy nhiên, dòng tiền còn lại sẽ đƣợc sử dụng để
thanh toán các khoản vay, vì các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính sẽ không
phải đối mặt với những khó khăn trong việc huy động vốn mới khi cần thiết. Do đó,
các doanh nghiệp niêm yết dự kiến sẽ có một mối quan hệ ngƣợc nhau mạnh hơn
giữa nguồn tài trợ bên ngoài và dòng tiền (nghĩa là hiệu quả thay thế cƣờng độ cao).
Nhƣ vậy giả thuyết đầu tiên của chúng ta có thể đƣợc xây dựng nhƣ sau:
H1. Nguồn tài chính bên ngoài, nợ và vốn chủ sở hữu, và nguồn vốn nội
bộ (dòng tiền) có sự tƣơng quan ngƣợc chiều, mối tƣơng quan dự kiến sẽ có
cƣờng độ lớn hơn đối với các doanh nghiệp niêm yết hoặc không bị hạn chế tài
chính.
Tiếp theo, bài nghiên cứu xem xét khả năng của tài sản cố định hữu hình có
thể cải thiện khả năng của các doanh nghiệp để tìm kiếm nguồn tài chính mới vì đó
là một cách để đảm bảo tài sản thế chấp cần thiết để cung cấp cho các nhà đầu tƣ
những khoản đảm bảo (Frank & Goyal, 2009, chƣơng 12; Rajan & Zingales, 1995).
Các cú sốc thu nhập tích cực sẽ làm tăng tài sản hữu hình (đồng nghĩa với việc
doanh nghiệp sử dụng nhiều tiền hơn để mua sắm tài sản định), điều này sẽ làm tăng
chính) không bị ảnh hƣởng.
16
CHƢƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu bài nghiên cứu sử dụng đƣợc lấy từ Báo cáo tài chính của 195 doanh
nghiệp. Trong đó gồm 105 doanh nghiệp niêm yết đƣợc lấy thông tin trên Sở giao
dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSX) và Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội (HNX) và 90 doanh nghiệp chƣa niêm yết đƣợc lấy thông tin từ sàn giao dịch
các doanh nghiệp chƣa niêm yết Upcom trong giai đoạn 9 năm từ năm 2007 đến
năm 2016. Mẫu dữ liệu của các doanh nghiệp đƣợc thu thập từ các Báo cáo tài
chính đã đƣợc kiểm toán và hợp nhất trên các trang web www.vietstock.vn,
www.cafef.vn, và nguồn dữ liệu từ Thomson Reuters.
Sau khi thực hiện thu thập thông tin của 195 doanh nghiệp phi tài chính, tiến
hành loại bỏ các doanh nghiệp có thông tin bị mất, các trƣờng hợp sai sót kế toán và
các giá trị cực trị có thể gây sai nhiễu kết quả kiểm định, loại bỏ một số doanh
nghiệp có ít hơn 8 quan sát liên tục ra khỏi mẫu để kết quả dự báo chuẩn xác hơn.
Mẫu nghiên cứu không bao gồm các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp dịch vụ
tiện ích và các tổ chức chính phủ vì các loại hình đơn vị này khác nhau về bản chất
hoạt động và thông tin tài chính kế toán. Bên cạnh đó, loại bỏ các doanh nghiệp có
thông tin nợ vƣợt quá tổng tài sản (doanh nghiệp sắp phá sản), các doanh nghiệp
không có sự thay đổi trong nợ vay cũng nhƣ phần vốn gốp đầu tƣ của chủ sở hữu và
doanh nghiệp có tốc độ tăng trƣởng tài sản vƣợt quá 100%.
Nhƣ vậy, kết quả bài nghiên cứu chọn ra đƣợc 190 doanh nghiệp (1599 quan
sát) gồm 100 doanh nghiệp niêm yết (886 quan sát) đƣợc lấy trên Sở giao dịch
chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSX) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
(HNX) và 90 doanh nghiệp chƣa niêm yết (713 quan sát) đƣợc lấy trên sàn giao
dịch UpCom trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016 với mẫu nghiên cứu ở