Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm ngói lợp, áp dụng cho Công ty Cổ phần Viglacera Hạ Long (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN
PHẨM NGÓI LỢP CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
VIGLACERA HẠ LONG

Chương trình: Điều hành cao cấp- EMBA

VŨ VĂN TRUNG

Hà Nội - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN
PHẨM NGÓI LỢP CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
VIGLACERA HẠ LONG

Ngành: Quản trị kinh doanh
Chương trình: Điều hành cao cấp- EMBA
Mã số: 60340102

Họ và tên học viên: Vũ Văn Trung
Người hướng dẫn: PGS. TS. Đào Ngọc Tiến

hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của PGS, TS Đào Ngọc Tiến, Ban lãnh đạo Công ty
Cổ phần Viglacera Hạ Long cùng các đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS, TS Đào Ngọc Tiến, giảng viên trường Đại
học Ngoại thương đã hướng dẫn khoa học giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Viglacera Hạ
Long cùng các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ và hỗ trợ tôi làm luận văn
này.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô thuộc Khoa Sau Đại Học
nói riêng và các Thầy cô trường Đại học Ngoại thương nói chung đã tận tình truyền
đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại đây.
Do vẫn còn hạn chế về lý luận, kinh nghiệm nghiên cứu thực tế và thời gian
để thực hiện nên luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì
vậy tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của Thầy cô giáo để nghiên cứu của
tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân trọng cảm ơn!
Quảng Ninh, ngày tháng năm


6

MỤC LỤC


7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

OECD

Organisation for Economic Co-operation and Development: Tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

WTO

World Trade Organization: Tổ chức thương mại thế giới



Quyết Định


8

DANH MỤC BẢNG


9

DANH MỤC HÌNH


10


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn của nền kinh tế thị trường có sự
quản lí của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một tất yếu, đồng
thời là đặc trưng nổi bật nhất. Bất luận ở lĩnh vực hay ngành hàng nào trên thị
trường đều có sự chiếm lĩnh và chia cắt bởi các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh.
Trong đó, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì ngoài việc đảm bảo giữ
vững phần thị trường đã có phải luôn tìm cách vươn lên và mở rộng thị trường.
Muốn vậy, doanh nghiệp phải tạo cho mình một vị thế vững chắc, ổn định trên thị
trường và giành được lợi thế so với đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, khi áp lực cạnh
tranh ngày càng mạnh mẽ thì khả năng rủi ro ngày càng cao và có ảnh hưởng lớn tới
các hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Các ảnh hưởng đó thể hiện trên nhiều mặt,
như là các chiến lược chính sách về giá cả hàng hóa, chương trình khuyến mãi, hệ
thống kênh phân phối. Do đó, buộc các doanh nghiệp phải có những giải pháp thích
hợp, kịp thời và chính xác để tồn tại và phát triển. Để đưa ra giải pháp cạnh tranh
giành được thắng lợi là một công việc khó khăn. Nó đòi hỏi phải xem xét nhiều yếu
tố cũng như đánh giá lại những giải pháp đưa ra trước đã được thực hiện tốt hay
chưa, đã phù hợp hay chưa. Có cần thay đổi gì cho chiến lược sau để lấp vào những
thiếu sót của các chiến lược trước. Đó là vấn đề mà nhiều doanh nghiệp vẫn chưa
làm được khi ra chiến lược mới.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã bước vào hội nhập trong
sự biến đổi đa dạng của nền kinh tế toàn cầu với các diễn biến phức tạp của thị
trường như tình hình cung cầu không ổn định, cạnh tranh khốc liệt và sự ảnh hưởng
từ chiến tranh Trung Đông. Nước ta bước đầu thực hiện các cam kết gia nhập WTO
tiến tới việc xóa bỏ toàn bộ các biện pháp hạn chế thương mại đồng thời với lộ trình
cắt giảm thuế quan, hoạt động sản xuất trong nước do đó cũng gặp nhiều khó khăn
trong cạnh tranh. Các doanh nghiệp Việt nam một mặt đang đứng trước những cơ
hội lớn từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mặt khác phải đối mặt với không ít
thách thức.


tranh các sản phẩm nói chung và sản phẩm ngói lợp nói riêng.


13

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Năng lực cạnh tranh sản phẩm ngói lợp của Công ty cổ phần Viglacera Hạ
Long.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm ngói
lợp tại Công ty cổ phần Viglacera từ năm 2015 đến nay và đề xuất các giải pháp
nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm này đến năm 2020 tầm nhìn 2025.
Về không gian: Đề tài nghiên cứu sản phẩm ngói lợp tại Công ty cổ phần
Viglacera Hạ Long.
4. Nội dung nghiên cứu của luận văn
Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của sản phẩm ngói lợp của
Công ty cổ phần Viglacera thông qua trả lời các câu hỏi sau:
(i) Các tác nhân môi trường ảnh hưởng, các công cụ và các tiêu chí đánh giá
năng lực cạnh tranh sản phẩm ngói lợp là gì?
(ii) Thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm ngói lợp của công ty cổ
phần Viglacera Hạ Long hiện nay?
(iii) Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm ngói lợp?
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
5.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Tìm và thu thập dữ liệu thứ cấp liên quan đòi hỏi công việc tìm kiếm, gồm
hai giai đoạn gắn kết nhau:
Bước 1: Xác định loại dữ liệu thứ cấp cần có hiện diện ở dạng dữ liệu thứ
cấp hay không.



15

Phương pháp so sánh: So sánh giữa số liệu thực hiện kỳ báo cáo với số thực
hiện cùng kỳ các năm trước. Mục đích của việc so sánh này là để thấy được sự biến
động tăng, giảm về hoạt động kinh doanh của công ty trong những thời kỳ khác
nhau, từ đó có nhận xét về xu hướng thay đổi về các mục tiêu của công ty trong
tương lai. So sánh giữa số thực hiện của kỳ báo cáo với số kế hoạch để thấy được
mức độ hoàn thành bằng tỷ lệ phần trăm hoặc số chênh lệch tăng, giảm.
Phương pháp tổng hợp: Từ nguồn dữ liệu của công ty, tác giả nghiên cứu và
tiến hành tổng hợp kết quả kinh doanh, cơ cấu lao động tác nghiệp, chất lượng sản
phẩm của công ty.
Phương pháp phân tích: Từ bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu, tác giả tiến
hành đánh giá và nêu nhận xét.
5.2.2. Phương pháp xử lý các dữ liệu thứ cấp
Phương pháp tổng hợp: Từ các phiếu điều tra tiến hành tổng hợp đánh giá
phần trăm số người lựa chọn các chỉ tiêu trong phiếu điều tra.
Phương pháp lập bảng thống kê: Lập bảng thống kê phân tích ý kiến của các
nhà quản trị, chuyên gia và khách hàng sau khi tiến hành tổng hợp phiếu điều tra.
Các thang điểm được lựa chọn phù hợp với các mức chất lượng tương ứng đưa ra để
tổng hợp và phân tích chính xác dữ liệu sơ cấp từ kết quả phiếu điều tra.
Phương pháp phân tích: Dựa vào kết quả điều tra nhận được từ khách hàng
và nhân viên tiến hành đánh giá và xem xét mức độ lựa chọn các tiêu chí có thể rút
ra kết luận về các tiêu chí theo góc nhìn của nhà quản trị, chuyên gia và khách hàng
về năng lực cạnh tranh sản phẩm ngói lợp của Công ty cổ phần Viglacera Hạ Long.
Phương pháp thống kê, phân tích số liệu
Tổng số phiếu phát ra là 90 phiếu (65 phiếu dành cho khách hàng, 25 phiếu
dành cho lãnh đạo, quản lý và chuyên gia); Số phiếu thu về là 78 phiếu (58 phiếu của
khách hàng, 20 phiếu của nhà quản trị và chuyên gia); Số phiếu hợp lệ là 66 phiếu (50

SẢN PHẨM
1.1. Một số khái niệm cơ bản về năng lực cạnh tranh sản phẩm
1.1.1. Cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa
quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia. Việc nghiên cứu hiện tượng
cạnh tranh đã từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ
điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại.
Theo Michael Porter (1996): Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của
cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung
bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa
lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể
giảm đi.
Theo Samuelson (1986): Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp
cạnh tranh với nhau để giành khách hàng. Cạnh tranh là một trong những đặc trưng
cơ bản của nền kinh tế thị trường và là năng lực phát triển của nền kinh tế thị
trường. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh quyết định sự sống còn của mỗi
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thông qua yếu tố giá cả, chất
lượng, dịch vụ… nhằm thu lợi nhuận, lôi kéo khách hàng, mở rộng thị phần và nâng
cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường… Như vậy, cùng với việc đáp ứng sự
thay đổi nhu cầu tiêu dùng theo hướng ngày càng đa dạng mà các doanh nghiệp
cũng không ngừng nghiên cứu, phát triển sản phẩm, ứng dụng khoa học công nghệ
trong sản xuất, cắt giảm chi phí, phát triển kênh phân phối… góp phần thúc đẩy sự
phát triển toàn diện của nền kinh tế thị trường.
Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn
lực của xã hội vào SXKD hàng hoá, dịch vụ còn thiếu, qua đó nâng cao năng lực
sản xuất của toàn xã hội. Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp yếu kém bị đào thải,
doanh nghiệp mới xuất hiện, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và


18



19

doanh nghiệp sẽ có khả năng phát huy tối đa năng lực của mình để giành giật thị
phần trên thị trường. Sự thành công của doanh nghiệp chiếm lĩnh được một mảng
thị trường lớn đều xuất phát từ chính mỗi năng lực cạnh tranh của từng sản phẩm.
Mỗi một sản phẩm của doanh nghiệp đưa ra có chỗ đứng trên thị trường cạnh tranh
được với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh tốt thì doanh nghiệp mới phát triển được.
Vì vậy khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm cần so sánh mối quan
hệ giữa sản phẩm đó với các nhân tố tác động từ bản thân các chính sách của doanh
nghiệp cũng như từ sự cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Từ đó
đưa ra các biện pháp thích hợp.
1.1.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi thế so
sánh đối với sản phẩm cùng loại. Lợi thế so sánh của một sản phẩm bao hàm các
yếu tố bên trong và bên ngoài tạo nên như năng lực sản xuất, chi phí sản xuất, chất
lượng sản phẩm, dung lượng thị trường của sản phẩm... Khi nói sản phẩm A do
doanh nghiệp B sản xuất có năng lực cạnh tranh hơn sản phẩm A do doanh nghiệp C
sản xuất là nói đến những lợi thế vượt trội của sản phẩm do doanh nghiệp B sản
xuất như doanh nghiệp này có năng lực sản xuất lớn hơn, có chi phí sản xuất trên
một đơn vị sản phẩm thấp hơn, sản phẩm có chất lượng cao hơn, có dung lượng thị
trường được chiếm lĩnh lớn hơn... Còn nếu so sánh với sản phẩm cùng loại nhập
khẩu thì yếu tố lợi thế được thể hiện cơ bản qua giá bán sản phẩm, giá trị sử dụng
của sản phẩm và một phần không nhỏ là tâm lý tiêu dùng.
Như vậy, có thể thấy khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động,
được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ
mô. Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng
năm sau, hoặc năm sau nữa lại không còn năng lực cạnh tranh nếu không giữ được
các yếu tố lợi thế. Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng

hàng tạo nên sự thành công trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nền kinh tế
tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định kéo theo hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao, khả năng tích tụ và tập trung sản xuất cao.
Tỷ giá hối đoái: Đây là nhân tố tác động nhanh chóng và sâu sắc với từng
quốc gia và từng doanh nghiệp nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa khi đồng
nội tệ lên, giá sẽ khuyến khích nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh


21

nghiệp trong nước sẽ giảm trên thị trường nội địa. Các doanh nghiệp trong nước
mất dần cơ hội mở rộng thị trường, phát triển SXKD. Ngược lại, khi đồng nội tệ
giảm, giá dẫn đến xuất khẩu tăng cơ hội SXKD của các doanh nghiệp trong nước
tăng, khả năng cạnh tranh cao hơn ở thị trường trong nước và quốc tế bởi khi đó giá
bán hàng hóa trong nước giảm hơn so với đối thủ cạnh tranh nước ngoài.
Lãi suất cho vay của ngân hàng: Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí kinh
doanh của doanh nghiệp cao, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
nhất là khi so với doanh nghiệp có tiềm lực vốn sở hữu mạnh.
Lạm phát: Lạm phát cao các doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào SXKD, đặc
biệt là đầu tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất của doanh
nghiệp vì các doanh nghiệp sợ không đảm bảo về mặt hiện vật các tài sản, không có
khả năng thu hồi vốn sản xuất hơn nữa, rủi ro kinh doanh khi xẩy ra lạm phát rất lớn.
Các chính sách kinh tế của Nhà nước: Các chính sách phát triển kinh tếcủa
Nhà nước có tác dụng cản trở hoặc ủng hộ lớn đến hoạt động SXKD của doanh
nghiệp. Một chính sách kinh tế của Nhà nước có khi tạo cơ hội đối với doanh
nghiệp này nhưng lại làm mất cơ hội cho doanh nghiệp khác.
(3) Khoa học công nghệ
Nhóm nhân tố khoa học công nghệ tác động một cách quyết định đến hai yếu
tố cơ bản nhất tạo nên khả năng cạnh tranh trên thị trường hay khả năng tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp, đó là hai yếu tố chất lượng và giá bán. Khoa học công

trình cải tiến kỹ thuật, góp sức vào những phát kiến và sáng chế… Do vậy, trình độ
của lực lượng lao động tác động rất lớn đến chất lượng của sản phẩm/dịch vụ, ảnh
hưởng lớn đến năng suất chi phí của doanh nghiệp.
(3) Trình độ công nghệ sản xuất - kinh doanh
Trình độ chất lượng của sản phẩm không thể vượt quá giới hạn khả năng của
trình độ tiến bộ khoa học - công nghệ của một giai đoạn lịch sử nhất định. Chất
lượng sản phẩm trước hết thể hiện ở những đặc trưng về trình độ kỹ thuật tạo ra sản
phẩm đó. Các chỉ tiêu kỹ thuật này lại phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật, công nghệ
sử dụng để tạo ra sản phẩm. Đây là giới hạn cao nhất mà chất lượng sản phẩm có
thể đạt được. Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra khả năng không ngừng nâng cao
chất lượng sản phẩm. Tác động của khoa học công nghệ là không có giới hạn, nhờ
đó mà sản phẩm sản xuất ra luôn có các thuộc tính chất lượng với các chỉ tiêu kinh


23

tế - kỹ thuật ngày càng hoàn thiện, mức thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng ngày
càng tốt hơn. Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra phương tiện điều tra, nghiên cứu
khoa học chính xác hơn, xác định đúng đắn nhu cầu và biến đổi nhu cầu thành đặc
điểm sản phẩm chính xác hơn nhờ trang bị những phương tiện đo lường, dự báo, thí
nghiệm, thiết kế tốt hơn, hiện đại hơn.Công nghệ, thiết bị mới ứng dụng trong sản
xuất giúp nâng cao các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của sản phẩm. Nhờ tiến bộ khoa
học công nghệ làm xuất hiện các nguồn nguyên nhiên liệu mới tốt hơn, rẻ hơn
nguồn nguồn nguyên liệu sẵn có. Khoa học quản lý phát triển, hình thành những
phương pháp quản lý tiên tiến hiện đại, góp phần nắm bắt nhanh hơn, chính xác hơn
nhu cầu của khách hàng và giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng sản
phẩm, tăng mức độ thoả mãn khách hàng.
(4) Khả năng tổ chức, quản lý
Điều này được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, tác phong làm việc của các
thành viên, mối quan hệ của các bộ phận. Một bộ máy được vận hành một cách nhịp

phẩm và nâng cao hơn nữa là thương hiệu hóa các sản phẩm.Vì thương hiệu thường
gắn với sản phẩm và được sử dụng để xác định sản phẩm của từng doanh nghiệp
nên khách hàng thường mua sản phẩm thông qua thương hiệu.Một thương hiệu tốt
đồng nghĩa với một sản phẩm tốt và ngược lại. Người tiêu dùng tìm mua sản phẩm
trên cơ sở các mức độ đánh giá khác nhau về hình ảnh của nhãn hiệu trên thị
trường. Mức độ chấp nhận thương hiệu tương ứng với mức độ chấp nhận sản phẩm
của doanh nghiệp.Như vậy, thương hiệu có tầm quan trọng và ảnh hưởng ngày càng
lớn đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm.
1.3. Công cụ phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.3.1. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh ngành của Michael Porter
Năm lực lượng cạnh tranh ở trên và lực lượng thứ (5+1): Sức ép từ phía Nhà
nước phản ánh thực tế là cạnh tranh trong một ngành có liên quan không chỉ các bên đã
xác định. Khách hàng, người cung ứng, sản phẩm thay thế, các đối thủ mới, tất cả đều
là các đối thủ cạnh tranh đối với các hãng trong ngành và tùy thuộc vầo hoàn cảnh cụ
thể có thể nổi trội hơn hay kém hơn các đối thủ khác. Cuôc cạnh tranh với nghĩa như
vậy có thể được coi là cạnh tranh mở rộng.
(1) Khách hàng


25

Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định
đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị
trường, quy mô của khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Những biến động tâm lý
khách hàng thể hiện qua sự thay đổi sở thích, thị hiếu, thói quen làm cho số lượng
sản phẩm được tiêu thụ tăng lên hay giảm đi. Việc định hướng hoạt động SXKD
hướng vào nhu cầu của khách hàng sẽ đem lại kết quả khả quan cho doanh nghiệp
tạo thói quen và tổ chức các dịch vụ phục vụ khách hàng, đánh đúng vào tâm lý tiêu
dùng là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Một
nhân tố đặc biệt quan trọng là mức thu nhập và khả năng thanh toán của khách hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status