BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG HÀ NỘI
HOÀNG THỊ MỸ HẠNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Hà Nội - 2019
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG HÀ NỘI
HOÀNG THỊ MỸ HẠNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8850103
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN MINH TIẾN
Hoàng Thị Mỹ Hạnh
iii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận đƣợc sự hƣớng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các thầy cô
giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cơ quan, đồng nghiệp và nhân dân địa
phƣơng.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS. Trần Minh
Tiến đã tận tình chỉ bảo, hƣớng dẫn và động viên tôi trong suốt thời gian thực tập.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa
Quản lý đất đai – Trƣờng Đại học Tài nguyên và Môi trƣờng Hà Nội, Phòng tài
nguyên và Môi trƣờng, Phòng thống kê, Phòng Kinh tế đô thị huyện Ba Vì, TP. Hà
Nội; các phòng, ban, cán bộ và nhân dân các xã, thị trấn huyện Ba Vì đã nhiệt tình
giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những ngƣời thân, cán bộ đồng
nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Mỹ Hạnh
nghiệp của huyện theo hƣớng sản xuất hàng hoá ................................................ - 67 3.4.1. Quan điểm về sử dụng đất nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá.... - 67 3.4.2. Định hƣớng sử dụng đất nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hóa ....... - 68 3.4.3. Đề xuất sử dụng đất cho các kiểu sử dụng đất theo hƣớng sản xuất hàng hóa .. - 69 3.4.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hƣớng sản
xuất hàng hóa ....................................................................................................... - 71 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.............................................................................. - 76 1. Kết luận ............................................................................................................ - 76 2. Kiến nghị .......................................................................................................... - 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... - 79 PHỤ LỤC .................................................................. Error! Bookmark not defined.
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
ATLT
BVTV
CNH
CNH-HĐH
CPTG
ĐVT
FAO
HQĐV
HTX
GTGT
GTSX
LĐ
LUT
NN
NXB
TCVN
TP
Chữ viết đầy đủ
An toàn lƣơng thực
Bảo vệ thực vật
Công nghiệp hóa
-1-
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là đối
tƣợng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trƣờng sản xuất ra lƣơng thực, thực
phẩm với giá thành thấp nhất, là một nhân tố quan trọng của môi trƣờng sống và
trong nhiều trƣờng hợp lại chi phối sự phát triển hay huỷ diệt các nhân tố khác của
môi trƣờng. Chính vì vậy sử dụng đất hợp lý là một phần hợp thành của chiến lƣợc
nông nghiệp sinh thái bền vững của tất cả các nƣớc trên thế giới cũng nhƣ của nƣớc
ta hiện nay (Trần An Phong, 1995).
Nông nghiệp là một hoạt động có từ xa xƣa của loài ngƣời và hầu hết các nƣớc
trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa
vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển của các ngành
khác. Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả là
nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững.
Ba Vì là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, gồm 30 xã và 01 thị
trấn với tổng diện tích tự nhiên là 42.300,5 ha. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội
trong thời gian qua cũng nhƣ định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, do
vậy nhu cầu sử dụng đất các ngành, đặc biệt là đất dành cho phát triển cơ sở hạ tầng,
cụm công nghiệp, phát triển đô thị... sẽ tăng mạnh để đáp ứng nhu cầu sử dụng đất
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện nói riêng
và của cả Thủ đô Hà Nội nói chung. Nhƣ vậy sẽ làm giảm rất nhiều diện tích đất
nông nghiệp trong thời gian tới.
Nông nghiệp của huyện vẫn mang nặng tính truyền thống, các loại nông sản
mới, có tính hàng hoá mới chỉ mang tính tự phát, chƣa có quy hoạch và phƣơng án
giải quyết đầu ra nên không phát huy hết các tiềm năng sẵn có. Vì vậy, việc nâng cao
hơn nữa hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đƣa ra những loại hình sử dụng đất, kiểu
1.1. Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam,
nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1. Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở
Việt Nam
1.1.1.1. Nông nghiệp và vai trò của đất nông nghiệp trong nền sản xuất xã hội
Nông nghiệp có vai trò thiết yếu trong đời sống của mỗi quốc gia và trong
kinh tế nông thôn. Có thể coi nông nghiệp là hòn đá tảng của kinh tế nông thôn và
là ngành đảm bảo an ninh lƣơng thực của Việt Nam, nguồn sống của hàng triệu gia
đình, là ngành sản xuất nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, xuất khẩu hoặc
thay thế hàng nhập khẩu ngày càng quan trọng.
Hiện nay và trong tƣơng lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò vô cùng quan
trọng trong đời sống của mỗi quốc gia và trong kinh tế nông thôn. Nông nghiệp vẫn
là ngành cốt lõi của nền kinh tế của Việt Nam trong những thập kỷ tới và lâu hơn
nữa (Bùi Văn Ten, 2000).
Đất nông nghiệp là đất đƣợc xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông
nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về
nông nghiệp.
Đất nông nghiệp là cơ sở thiết yếu cho mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp
của con ngƣời. Đất đai là nguồn dinh dƣỡng cho cây trồng và gia súc trong nông
nghiệp và nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành sản xuất.
Đất nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền sản xuất xã hội, bao gồm
các chức năng nhƣ:
- Đất nông nghiệp đƣợc coi là yếu tố sản xuất: Đất là một loại đầu vào của
quá trình sản xuất nông nghiệp. Đất vừa là cơ sở nền móng, vừa là tƣ liệu sản xuất
đặc biệt vì nó trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm nông
nghiệp.
-4-
-5-
châu Đại Dƣơng chiếm 6 %) (Hoàng Văn Thông, 2002).
Bƣớc vào thế kỷ XXI với những thách thức về an ninh lƣơng thực, dân số,
môi trƣờng sinh thái thì nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất lƣơng thực, thực phẩm
cơ bản đối với loài ngƣời. Nhu cầu của con ngƣời ngày càng tăng đã gây sức ép
nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất
và ảnh hƣởng lớn đến năng suất, chất lƣợng nông sản. Vì vậy, tổ chức sử dụng
nguồn tài nguyên đất hợp lý, có hiệu quả cao theo quan điểm sinh thái và phát triển
bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu.
Các hiện tƣợng thời tiết khắc nghiệt nhƣ hạn hán, lũ lụt đã gây thiệt hại cho
ngành nông nghiệp toàn cầu tới 11,4 tỷ USD trong năm 2011, trong khi mỗi năm có
tới 12 triệu ha đất nông nghiệp bị mất do tình trạng đất canh tác bị suy thoái. Đến
năm 2050, dân số toàn cầu dự kiến sẽ lên tới 9 tỷ ngƣời và đặt ra thách thức to lớn
đối với việc cung cấp một chế độ ăn uống đầy đủ cho nhân loại. Hầu hết sự tăng
trƣởng dân số thế giới trong thế kỷ này sẽ diễn ra ở các nƣớc có thu nhập thấp: dân
số của Châu Phi đƣợc dự báo sẽ tăng gấp đôi từ hơn một tỷ ngƣời trong năm 2010
lên khoảng hai tỷ ngƣời vào năm 2050. Trong khi đó, nhu cầu toàn cầu về ngũ cốc
sẽ tăng 70 % vào năm 2050 và sẽ tăng gấp đôi trong nhiều quốc gia có thu nhập
thấp (Minh Châu, 2012).
Tại Hội nghị quốc tế "Eurosoil 2008" diễn ra ở Wien (Áo) năm 2008, các
chuyên gia đã đƣa ra lời cảnh báo thế giới đang đứng trƣớc nguy cơ thiếu hụt không
chỉ dầu mỏ và lƣơng thực, mà cả đất nông nghiệp do tình trạng sử dụng bừa bãi.
Mỗi năm có khoảng 30 triệu hécta đất canh tác bị chuyển đổi, trong đó khoảng từ 5
đến 10 triệu hécta đất trồng bị bạc màu và 19,5 triệu hécta chuyển đổi do công
nghiệp hóa và đô thị hóa. Trên toàn châu Âu, mỗi ngày có một diện tích đất rộng
bằng khoảng một làng biến mất khỏi bản đồ nông nghiệp. Trong khi đó, nhu cầu về
đất nông nghiệp đang tăng lên do dân số tại châu Âu đang tăng khoảng 85 triệu
ngƣời mỗi năm. Tại Áo và các nƣớc láng giềng, diện tích đất nông nghiệp bị sử
thống kê 2009-2017).
1.1.2. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
a) Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi nhu cầu của con ngƣời về các
sản phẩm đƣợc lấy từ đất ngày càng tăng. Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp
-7-
đang ngày càng bị thu hẹp do chuyển sang các mục đích khác. Vì vậy, việc sử dụng
đất nông nghiệp ở nƣớc ta cần hƣớng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
trên cơ sở đảm bảo an ninh lƣơng thực, thực phẩm, tăng cƣờng nguyên liệu cho
công nghiệp và hƣớng tới xuất khẩu trong điều kiện tài nguyên đất có hạn. Sử dụng
đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp cần dựa trên cơ sở cân nhắc những mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái
và không làm ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng nhằm đảm bảo cho khai thác và sử
dụng bền vững tài nguyên đất đai.
b) Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững là sử dụng đất có hiệu quả và
bền vững, luôn luôn chú ý đến các nhu cầu đa dạng, sự gia tăng nhanh chóng của
dân số và sự cần thiết phải có tầm nhìn lâu dài.
Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững cần dựa trên việc giao đất cho
những mục đích sử dụng cần theo khả năng vốn có của đất. Một số loại đất phù hợp
với loại cây trồng nào đó hơn so với các loại đất khác, do vậy cần chú ý đặc biệt đến
khả năng của đất ở các vùng và địa phƣơng và đến việc lợi dụng những khả năng
này cho mô hình sử dụng đất trong tƣơng lai.
Bên cạnh đó, việc sử dụng đất nông nghiệp một cách linh hoạt trong nền
kinh tế thị trƣờng có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì việc sử dụng đất linh hoạt cho
phép ngƣời nông dân có thể ứng xử với các tín hiệu thị trƣờng nhƣ là giá cả các yếu
tố đầu vào và đầu ra.
của lƣợng lao động đƣợc sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng nhƣ
hàng năm để khai thác đất.
Hiệu quả sử dụng đất bao gồm 3 mặt là hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi
trƣờng và hiệu quả xã hội. Mục đích của việc sử dụng đất là làm thế nào để tạo ra
đƣợc hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trƣờng và hiệu quả xã hội ở mức cao nhất trong
điều kiện tài nguyên (đất đai, vốn, lao động …) có hạn, đảm bảo đƣợc lợi ích trƣớc
mắt và lợi ích lâu dài của việc sử dụng đất.
1.2.1.1. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả quan trọng nhất. Đó là tiêu chuẩn quan
trọng để đánh giá việc sử dụng đất nông nghiệp. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù
kinh tế chung nhất có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất, hiệu quả kinh tế hàng
-9-
hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác. Hiệu quả kinh tế đƣợc
biểu hiện ở quan hệ so sánh giữa lƣợng kết quả đạt đƣợc và lƣợng chi phí bỏ ra.
Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là mức tăng thêm của các kết quả sản
xuất và mức tiết kiệm chi phí lao động xã hội. Hiệu quả kinh tế là hiệu quả đƣợc
quan tâm hàng đầu, cốt lõi của sử dụng đất và là khâu trung tâm để đạt các loại hiệu
quả khác và có khả năng lƣợng hóa bằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính.
Đối với sản xuất nông nghiệp, việc đánh giá đúng hiệu quả kinh tế sử dụng
đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển nông nghiệp và quy hoạch phát
triển nền kinh tế của địa phƣơng: giúp lựa chọn đúng các loại hình sử dụng đất phù
hợp với cây trồng, vật nuôi để đƣa ra hƣớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp trong từng giai đoạn và là cơ sở để xây dựng kịch bản phát triển kinh tế;
nâng cao thu nhập, tạo ra nhiều lợi ích cho ngƣời nông dân; tạo động lực cho đầu tƣ
bảo vệ, bồi dƣỡng và cải tạo đất, nâng cao hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trƣờng,
bảo đảm sử dụng đất bền vững.
1.2.1.2. Hiệu quả xã hội
sinh trƣởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trƣờng.
Hiệu quả sinh học môi trƣờng đƣợc thể hiện qua mối tác động qua lại giữa
cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng
hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
Hiệu quả vật lý môi trƣờng đƣợc thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài
nguyên khí hậu nhƣ ánh sáng, nhiệt độ, nƣớc mƣa của các kiểu sử dụng đất để đạt
đƣợc sản lƣợng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
Sản xuất muốn phát triển phải quan tâm tới cả 3 loại hiệu quả: kinh tế, xã
hội, môi trƣờng, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế
không có nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trƣờng, ngƣợc lại,
không có hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trƣờng thì hiệu quả kinh tế sẽ không vững
chắc (Minh Châu, 2012).
1.2.2. Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Theo Đỗ Thị Tám (2000), thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp có các đặc điểm:
+ Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào
kinh tế. Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trƣớc tiên phải đƣợc
- 11 -
xác định bằng kết quả thu đƣợc trên một đơn vị diện tích cụ thể (thƣờng là 1 ha),
tính trên 1 đồng chi phí, trên 1 công lao động.
+ Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh,
do đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh.
+ Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động
đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trƣớc mắt và lâu dài. Vì thế, cần phải nghiên
cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hƣởng của
việc tăng đầu tƣ thâm canh đến quá trình sử dụng đất.
+ Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp đƣợc khi con ngƣời biết làm
+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo hƣớng
sản xuất hàng hóa.
+ Nhu cầu của địa phƣơng về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất
theo hƣớng sản xuất hàng hóa.
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Mối quan hệ
này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thƣơng số, nên dạng tổng quát của hệ
thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là (Trần Minh Đạo, 1996):
H=K-C
H = K/C
H = (K - C)/C
H = (K1 - K0)/(C1 - C0)
Trong đó: H: Hiệu quả; K: Kết quả; C: Chi phí; 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)
* Hiệu quả kinh tế
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
đƣợc tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thƣờng là một năm).
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thƣờng
xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử
dụng trong quá trình sản xuất.
- Giá trị gia tăng (GTGT)
Giá trị gia tăng đƣợc tính theo công thức: GTGT = GTSX - CPTG
- Hiệu quả đồng vốn (H): H = GTGT/CPSX
- 13 -
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG
GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tƣơng đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng
các chi phí biến đổi và thu dịch vụ.
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có (GTSX/LĐ
GTGT/LĐ). Thực chất là đánh giá kết quả đầu tƣ lao động sống cho từng kiểu sử
hiện tại.
1.3. Sử dụng đất nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hóa
1.3.1. Khái niệm sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là một khái niệm đƣợc sử dụng dùng để chỉ về kiểu tổ
chức kinh tế trong đó sản phẩm đƣợc sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của chính ngƣời trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của ngƣời khác, thông qua việc trao đổi, mua bán. Hay nói một cách khác, sản
xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để bán, đáp ứng
nhu cầu thị trƣờng.
Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất cơ bản của mỗi quốc gia. Nhiều nƣớc
trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỉ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ
trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn nhƣng những khó khăn, trở ngại trong
nông nghiệp đã gây ra không ít xáo động trong đời sống xã hội và ảnh hƣởng sâu
sắc đến tốc độ tăng trƣởng và phát triển của nền kinh tế nói chung. Đối với các
nƣớc có nền kinh tế kém phát triển hơn thì nông nghiệp lại càng đóng vai trò thiết
yếu. Để nông nghiệp có thể thực hiện đƣợc vai trò quan trọng của mình đối với nền
kinh tế quốc dân đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải phát triển toàn diện, mạnh mẽ
và vững chắc. Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa là sự tiến hóa hợp
quy luật. Đó là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống, manh mún, lạc hậu
thành nền nông nghiệp hiện đại. Nền sản xuất hàng hoá có đặc trƣng là dựa trên cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ văn hoá của ngƣời
lao động cao. Đó là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý, đƣợc hình
thành trên cơ sở khai thác tối đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng. Vì thế,
nó là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lƣợng hàng hoá nhiều với nhiều
chủng loại phong phú và có chất lƣợng cao. Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất
hàng hoá là sự tiến hoá hợp quy luật, đó là quá trình chuyển nông nghiệp truyền
thống, manh mún, lạc hậu thành nền nông nghiệp hiện đại. Sản xuất hàng hoá là