Pháp luật về doanh nghiệp xã hội và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-----------------------------

ĐỖ THỊ THANH LAM

PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-------------------------------

ĐỖ THỊ THANH LAM

PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Như Phát


EMES

Mạng lưới nghiên cứu Châu Âu về các vấn đề của khu vực
thứ ba

NGO

Tổ chức phi chính phủ

CSR

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...........................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP XÃ
HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI ............................8
1.1. Một số vấn đề chung về Doanh nghiệp xã hội. ...................................... 8
1.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của Doanh nghiệp xã hội ................... 8
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội ........................ 10
1.1.3. Phân biệt Doanh nghiệp xã hội với một số loại hình tổ chức khác
................................................................................................................. 15
1.1.4. Vai trò của Doanh nghiệp xã hội .................................................. 20
1.2. Khái quát về Pháp luật về Doanh nghiệp xã hội. ................................. 21
1.2.1. Khái niệm, nội dung của Pháp luật về Doanh nghiệp xã hội. ...... 21
1.2.2. Ý nghĩa của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với doanh nghiệp
xã hội. ...................................................................................................... 24
Kết luận Chương 1...........................................................................................25

3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về doanh nghiệp
xã hội qua thực tiễn thành phố Hà Nội. ....................................................... 80
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về doanh nghiệp
xã hội ....................................................................................................... 80
3.3.2. Một số giải pháp khác. .................................................................. 85
Kết luận Chương 3...........................................................................................87
KẾT LUẬN.....................................................................................................88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong bối cảnh các quốc gia quá tập trung phát triển kinh tế với một
loạt mức tăng trưởng “nóng”, các vấn đề xã hội môi trường lại bị lãng
quên. Do đó, dù kinh tế có phát triển nhưng môi trường sống của con người
lại bị suy thoái nặng nề, nhiều vấn đề xã hội tiêu cực bùng nổ đe dọa chất
lượng cuộc sống của người dân. Vì vậy, hiện nay, phát triển bền vững là
mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia. Bên cạnh việc thúc đẩy kinh tế phát
triển, các quốc gia phải nỗ lực tìm ra giải pháp để cân đối hài hòa giữa mục
tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, ổn định xã hội. Tuy nhiên với
thực trạng xã hội ở Việt Nam hiện nay để thực hiện được mục tiêu trên
không dễ dàng: Các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu tập trung phát triển
kinh tế, việc thực hiện trách nhiệm xã hội còn rất hạn chế, thậm chí nhiều
doanh nghiệp vì lợi nhuận mà bất chấp lợi ích xã hội, môi trường; Các tổ
chức xã hội tuy nỗ lực hoạt động bảo vệ môi trường, xã hội nhưng lại thiếu
tiềm lực tài chính bền vững nên hoạt động thường mang tính cục bộ, “thời
vụ”. Trong khi đó, hoạt động an sinh xã hội, cung cấp dịch vụ công của
Nhà nước còn hạn chế và bị quá tải. Trong bối cảnh ấy, Doanh nghiệp xã

kinh tế phát huy tính sáng tạo, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, và phát
triển bền vững. Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp
2014 là sự công nhận và khuyến khích phát triển của Nhà nước đối với một
mô hình doanh nghiệp mới – Doanh nghiệp xã hội. Tuy mới chỉ dành 01
điều luật để quy định về Doanh nghiệp xã hội, song Luật Doanh nghiệp
2014 đã chính thức thừa nhận tư cách pháp lý của Doanh nghiệp xã hội,
bước đầu đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật về Doanh
nghiệp xã hội. Sau khi Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực, các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đã bắt đầu xây dựng, ban hành các văn bản hướng
dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2014, trong đó Nghị định số 96/2015/NĐCP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật
doanh nghiệp và Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày 17/05/2016 của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư Quy định về các Biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng
ký DNXH theo Nghị định 96/2015/NĐ-CP là những văn bản hướng dẫn


3

trực tiếp các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về Doanh nghiệp xã
hội. Với hệ thống các văn bản trên, Việt Nam đã bước đầu xây dựng khung
cơ sở pháp lý cho các hoạt động của Doanh nghiệp xã hội, phần nào giải
đáp những vướng mắc của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong
việc thực hiện các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014.
Tuy vậy, cho đến nay, hệ thống pháp luật về Doanh nghiệp xã hội
của Việt Nam vẫn còn hạn chế. Các quy định về Doanh nghiệp xã hội mới
chỉ dừng lại ở các quy định của Luật Doanh nghiệp và một số văn bản
hướng dẫn thi hành, các văn bản điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hoạt
động của doanh nghiệp chưa có sự hướng dẫn bổ sung cụ thể đối với mô
hình này. Bản thân các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn
bản hướng dẫn thi hành vẫn còn hạn chế: một số vấn đề về thành lập Doanh
nghiệp xã hội, ưu đãi hỗ trợ cho Doanh nghiệp xã hội hay giám sát Doanh

- Bài viết “Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về Doanh nghiệp
xã hội” của Thạc sĩ Vũ Thị Hòa Như, đăng trên Tạp chí Luật học số
03/2015;
- Bài viết “Những vấn đề pháp lý về Doanh nghiệp xã hội theo Luật
Doanh nghiệp 2014” của Tiến sĩ Phan Thị Thanh Thủy, đăng trên Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật số 06/2015;
- Bài viết “Doanh nghiệp xã hội và giải pháp phát triển Doanh
nghiệp xã hội tại Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Yến, đăng trên Tạp
chí Luật học số 11/2015;
- Bài viết “Đánh giá khả năng thực thi pháp luật hiện hành về Doanh
nghiệp xã hội ở Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung, đăng trên Tạp
chí Luật học số 01/2017;
- Luận văn Thạc sĩ “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam”,
năm 2015 của Trần Thị Minh Hiền – Đại học quốc gia Hà Nội.
Tuy nhiên, trong số các công trình nghiên cứu về Doanh nghiệp xã
hội, có rất ít các công trình có quy mô lớn nghiên cứu về khía cạnh pháp lý
của Doanh nghiệp xã hội một cách toàn diện. Phần lớn là những bài viết tạp
chí có dung lượng nhỏ, đi vào phân tích một số ít vấn đề pháp lý về Doanh


5

nghiệp xã hội. Tuy đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu cấp Thạc sĩ,
song nội dung nghiên cứu chưa cập nhật đủ thực trạng pháp luật về Doanh
nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là các quy phạm pháp luật quy định
về Doanh nghiệp xã hội được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 và
các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2014. Về thực tiễn, đề

nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014 từ đó đánh giá sự phù hợp của
những quy định hiện hành về Doanh nghiệp xã hội.
- Nghiên cứu tình hình phát triển Doanh nghiệp xã hội và tình hình
thực hiện pháp luật về Doanh nghiệp xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Tìm hiểu những kết quả đạt được và những khó khăn còn tồn tại trong thực
tiễn thực hiện pháp luật về Doanh nghiệp xã hội trên địa bàn thành phố Hà
Nội, lý giải nguyên nhân, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về Doanh nghiệp xã hội.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nền tảng là phương pháp luận
của Chủ nghĩa Mác – Lênin, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và những
quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực tư pháp.
Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Liệt
kê, thống kê, lịch sử, logic, so sánh, phân tích, tổng hợp.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.
Về mặt khoa học, thông qua việc nghiên cứu đề tài “pháp luật về
Doanh nghiệp xã hội”, luận văn đã giải quyết những nội dung cơ bản xung
quanh vấn đề lý luận về Doanh nghiệp xã hội và thực trạng pháp luật Việt
Nam hiện hành về Doanh nghiệp xã hội như: Khái niệm Doanh nghiệp xã
hội; Đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội; Phân biệt Doanh nghiệp xã hội với
các mô hình khác; Khái niệm, đặc điểm cùng những nội dung cơ bản về
Pháp luật về Doanh nghiệp xã hội. Trên cơ sở đó, luận văn đi vào nghiên


7

cứu thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành, có cập nhật các quy
định mới so với một số công trình nghiên cứu trước đây (tập trung vào Luật
Doanh nghiệp 2014 cùng văn bản hướng dẫn thi hành). Đặc biệt, luận văn
đi vào nghiên cứu cụ thể tình hình thực hiện các quy định của pháp luật

Trong lịch sử phát triển DNXH, nước Anh được xác định là quốc gia
đi đầu và cũng là cái nôi cho sự ra đời của DNXH. Theo nghiên cứu của
MacDonald M. & Howarth C. (2008), mô hình DNXH đầu tiên xuất hiện
tại London vào năm 1665, với việc Thomas Firmin đã đứng ra thành lập
một xí nghiệp sản xuất bằng nguồn tài chính cá nhân và duy trì việc làm
cho 1.700 công nhân trong bối cảnh nơi này đang ở trong tình trạng thất
nghiệp bao trùm vì Đại dịch. Điều đặc biệt là ngay từ khi mới thành lập,
Thomas đã tuyên bố xí nghiệp của ông sẽ không theo đuổi mục tiêu lợi
nhuận mà lợi nhuận thu được sẽ chuyển cho các quỹ từ thiện1. Như vậy, với
tuyên bố thành lập doanh nghiệp trên của Thomas, mầm mống đầu tiên của
DNXH đã ra đời.
Sang đến cuối thế kỷ XVIII, các loại hình hoạt động mang hơi hướng
DNXH đã bắt đầu phát triển, gia tăng về mặt số lượng tại Anh. Thời điểm
này, mô hình DNXH chủ yếu phát triển dưới hai hình thức cơ bản: Một là,
các trung tâm, chương trình do những “người giàu” thành lập để hỗ trợ
hoặc cung cấp việc làm, tạo ra công việc, thu nhập ổn định, giúp đỡ những
đối tượng nghèo khó hoặc có hoàn cảnh đặc biệt, giúp họ trở thành “những
1

Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, bối
cảnh, chính sách, Hà Nôi, tr.01.


9

thành viên hữu ích của quốc gia” (ví dụ như Quỹ tín dụng vi mô ở Bath,hay
mô hình các trường đào tạo nghề...); Hai là, việc thành lập các mô hình mà
ở đó có sự tham gia của một nhóm người và thực hiện trao quyền quản lý tổ
chức kinh doanh cho tất cả thành viên để giúp họ có khả năng làm chủ kinh
doanh và phân phối lợi nhuận (như Hợp tác xã (Co-op), Hội ái hữu, Làng

10

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội
Vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của Thế kỷ XX, với sự
mở cửa trong chính sách của Thủ tưởng Anh Thatcher, sự tham gia của các
doanh nghiệp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội ở Anh ngày càng
nhiều,từ đây, thuật ngữ “doanh nghiệp xã hội” bắt đầu được sử dụng để gọi
những doanh nghiệp như vậy. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một quan
điểm thống nhất về doanh nghiệp xã hội, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức lại có
cách định nghĩa khác nhau về khái niệm này, chẳng hạn:
Ở Anh, tại Chiến lược phát triển DNXH năm 2002 đã định nghĩa
“Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm
thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục
tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc
chủ sở hữu”5. Định nghĩa này nhìn chung có tính bao quát, xác định phạm
vi DNXH tương đối rộng với ba đặc điểm cơ bản gồm: Một là, DNXH chỉ
là một mô hình kinh doanh – tức DNXH không bị ràng buộc vào một loại
hình công ty cụ thể, mà đây chỉ là tên gọi cho một phương án, cách thức
tiến hành hoạt động kinh doanh, thông qua hoạt động kinh doanh để thực
hiện mục tiêu của mình; Hai là, mô hình kinh doanh DNXH được lập ra vì
mục tiêu xã hội; Ba là, trong DNXH, lợi nhuận phải được tái phân phối lại
cho tổ chức, cộng đồng, không phải cho cá nhân hay chủ sở hữu. Nói cách
khác, Anh xây dựng quan điểm không chú trọng về hình thức cụ thể mà
nhấn mạnh vào tính xã hội của chủ thể của DNXH.
Trong khi đó, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization
for Economic Co-operation and Development - OECD) lại phát triển và
định nghĩa DNXH như sau:

5


các công dân thành lập nên lại hẹp hơn định nghĩa của Chính phủ Anh và
OECD.
6

Xem thêm tại: Viện Nghiên cứu, Quản lý Kinh tế Trung ương, tlđd chú thích 1, tr.4
Phạm Mỹ Hạnh (2013), “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Nỗ lực khẳng định vai trò của mình trong
cơ chế thị trường”, Tạp chí Cộng sản, tại địa chỉ: ngày truy
cập 20/06/2017.
7


12

Ngay tại Việt Nam, hiện nay vẫn còn tồn tại các luồng quan điểm
xung quanh khái niệm DNXH. Có quan điểm hiểu DNXH theo nghĩa rộng,
xác định “DNXH là một mô hình kinh doanh, đem lại lợi nhuận, bề ngoài
hoạt động như doanh nghiệp truyền thống khác, chỉ yêu cầu một điều kiện
duy nhất là đặt sứ mệnh xã hội ở vị trí trung tâm, trong khi mục tiêu lợi
nhuận đóng vai trò hỗ trợ”8; Ngược lại cũng có quan điểm hiểu DNXH
theo nghĩa hẹp, cho rằng DNXH về bản chất chỉ là doanh nghiệp nhưng có
mục tiêu, sứ mệnh hoạt động vì xã hội nên “DNXH phải đăng ký dưới hình
thức công ty, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác”9. Tuy
nhiên, các quan điểm trên về DNXH đều chưa chặt chẽ, thấu đáo. Quan
điểm thứ nhất theo nghĩa rộng có ưu điểm khi xác định bản chất của DNXH
là “mô hình kinh doanh” không bị bó hẹp hình thức pháp lý và xác định rõ
các mục tiêu của DNXH. Nhưng bản thân cách định nghĩa về DNXH nói
trên lại chứa đầy mâu thuẫn bởi cách xác định mập mờ rằng DNXH có “bề
ngoài hoạt động như doanh nghiệp truyền thống”, dẫn đến giới hạn hình
thức tồn tại của DNXH. Cách hiểu này cũng không đề cập đến vấn đề phân
chia lợi nhuận nên chưa có căn cứ để nhận diện tính “vì xã hội” hay “vì lợi

cũng như phát triển chung của xã hội”11.
Như vậy, có thể thấy bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều phải có
CSR và các doanh nghiệp cam kết CSR vẫn có thể là những doanh nghiệp
thông thường, nên có những trường hợp thực hiện CSR nhưng mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận vẫn là chủ đạo, những tác động xã hội khi thực hiện CSR
không phải là mục tiêu cao nhất mà là cách ứng xử mang tính nghĩa vụ đối
với cộng đồng, với các chủ thể, đối tượng có liên quan.
Còn DNXH lại là một mô hình kinh doanh nhưng không vì lợi nhuận
mà luôn hướng đến việc giải quyết các vấn đề xã hội. Mục tiêu xã hội là
mục tiêu cao nhất, gắn liền và xuyên suốt trong quá trình tồn tại và hoạt
động của doanh nghiệp. Nói cách khác, trong khi DNXH là một mô hình
kinh doanh vì xã hội thì CSR là cách ứng xử của doanh nghiệp nên rõ ràng
không thể đồng nhất hai khái niệm này với nhau.
Qua việc phân tích một số khái niệm nêu trên có thể thấy, xung
quanh việc xác định “thế nào là Doanh nghiệp xã hội” vẫn có những quan
10

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, tlđd chú thích 1, tr.16.
Trần Anh Phương (2009), “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và thực tiễn vận dụng ở Việt Nam”,
Tạp chí Triết học, số 8 (219), được đăng tại địa chỉ:
ngày truy cập: 20/06/2017
11


14

điểm chưa thống nhất. Do cách tiếp cận khác nhau dẫn đến mỗi quốc gia, tổ
chức có quan điểm về DNXH khác nhau, có quan điểm chú trọng vào mục
tiêu, sứ mệnh của DNXH, có quan điểm lại muốn thể hiện tổ chức, hoạt
động của DNXH. Tuy có những điểm khác biệt, song qua thực tiễn phát

DNXH được thành lập và hoạt động vì mục tiêu xã hội. Nhưng việc
thực hiện mục tiêu xã hội đó không phải chỉ là lời tuyên bố của DNXH,
điều đó còn được cụ thể hóa, hiện thực hóa bằng việc các DNXH đều phải
tái phân phối lợi nhuận để thực hiện mục tiêu xã hội. Các DNXH đều phải
thực hiện hoạt động kinh doanh nên sẽ có lợi nhuận, nhưng phần lớn lợi
nhuận có được của DNXH được tái đầu tư cho mục tiêu xã hội hoặc phân
phối cho cộng đồng. Tùy thuộc pháp luật của mỗi quốc gia mà DNXH có
thể để lại một phần lợi nhuận nhất định để chia cho các chủ sở hữu, nhưng
phần lợi nhuận này không được chiếm quá nửa tổng số lợi nhuận của
DNXH. Như vậy, DNXH luôn phải chi trả đồng thời chi phí kinh doanh và
chi phí xã hội.
Nhìn chung, trong số rất nhiều quan điểm khác nhau về DNXH, cách
định nghĩa của Chính phủ Anh về DNXH là định nghĩa có tính khoa học và
bao quát hơn cả. Vì vậy, trên cơ sở những phân tích trên, có thể hiểu về
Doanh nghiệp xã hội như sau: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh
doanh thực hiện cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. Trong đó mục tiêu xã hội
là mục tiêu cao nhất, phần lớn lợi nhuận phải được sử dụng để tái đầu tư
cho mục tiêu xã hội đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận
cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
1.1.3. Phân biệt Doanh nghiệp xã hội với một số loại hình tổ chức
khác
Doanh nghiệp xã hội như đã nói ở trên là một mô hình đặc biệt, mô
hình này tuy thực hiện hoạt động kinh doanh nhưng mục tiêu cuối cùng
không phải là lợi nhuận mà là các mục tiêu xã hội. Việc sử dụng hoạt động
kinh doanh như một công cụ, phương tiện để thực hiện mục tiêu xã hội đã
khiến DNXH trở thành mô hình có sự giao thoa và dễ gây nhầm lẫn với
một số mô hình hoạt động khác như doanh nghiệp thông thường, Tổ chức
phi chính phủ (Non - Government Organization - NGO), doanh nghiệp



khác nhau. Doanh nghiệp thông thường hướng đến lợi nhuận nên lợi nhuận


17

(cổ tức) của doanh nghiệp được chia cho chủ sở hữu, cổ đông. Còn DNXH
lại đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu, việc tìm kiếm lợi nhuận nhằm phục vụ
cho việc thực hiện mục tiêu xã hội nên lợi nhuận thu được của DNXH
không được chia hết cho chủ sở hữu hay cổ đông mà phần lớn lại được tái
đầu tư cho việc thực hiện mục tiêu xã hội hoặc phân phối cho cộng đồng.
Về hiệu quả tác động: Doanh nghiệp thông thường chủ yếu tạo ra giá
trị kinh tế, còn DNXH chủ yếu tạo ra giá trị xã hội. Song việc đánh giá hiệu
quả tác động như trên chỉ mang tính tương đối, bởi thực tế, một doanh
nghiệp thông thường bên cạnh những giá trị kinh tế, đôi khi cũng đem đến
những hiệu quả xã hội nhất định. Ngược lại, DNXH dù tập trung vào mục
tiêu xã hội nhưng trong quá trình hoạt động, DNXH cũng góp phần tạo ra
hiệu quả kinh tế.
- Phân biệt DNXH với Tổ chức phi chính phủ (NGO).
Doanh nghiệp xã hội và NGO là những mô hình tương đối gần gũi.
Cả hai đều có mục tiêu hàng đầu là hướng đến giải quyết những vấn đề xã
hội, song cách thức hoạt động của hai loại hình này có nhiều điểm khác
biệt. DNXH dù được thành lập dưới hình thức nào cũng đều phải thực hiện
hoạt động kinh doanh để nhằm thu lợi nhuận và dùng chính lợi nhuận đó để
tái đầu tư cho mục tiêu xã hội hoặc tái phân phối cho cộng đồng. Vậy nên,
bên cạnh mục tiêu cao nhất là giải quyết các vấn đề xã hội, các DNXH còn
có mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ mục tiêu xã hội. So với NGO,
nguồn vốn của DNXH đa dạng hơn, gồm cả nguồn vốn chủ sở hữu, vốn thu
được từ hoạt động kinh doanh và vốn viện trợ.
Còn NGO có cách thức giải quyết các vấn đề xã hội khác. NGO
không thực hiện hoạt động kinh doanh (nếu có, chỉ là trong một chương

hoặc “giao nhiệm vụ”. Do đó, các DNXH vẫn phải tham gia thị trường và
cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác; còn các doanh nghiệp

12

Xem: Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ về sản xuất và
cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích.
13
Xem: Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 93/2015/NĐ-CP ngày 15/10/2015 của Chính phủ về tổ chức quản
lý và hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.


19

công ích, doanh nghiệp quốc phòng an ninh về cơ bản được Nhà nước trợ
giá, hưởng các ưu đãi đặc biệt.
Bên cạnh đó, mục tiêu của các mô hình này không hoàn toàn đồng
nhất với nhau. Mục tiêu của DNXH là hướng đến giải quyết các vấn đề xã
hội – những hiện thực xã hội mang hướng tiêu cực, khó khăn cần được
khắc phục, giải quyết. Trong khi đó, mục tiêu của các doanh nghiệp công
ích là nhằm cung ứng các sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu sử dụng
thiết yếu, buộc phải có của cộng đồng. Còn doanh nghiệp quốc phòng, an
ninh được thành lập chỉ nhằm thực hiện nhiệm vụ trực tiếp phục vụ quốc
phòng, an ninh hoặc bảo đảm bí mật và an ninh quốc gia. Tuy nhiên, hiện
nay, ngoại trừ lĩnh vực an ninh quốc phòng, việc cung cấp các sản phẩm
dịch vụ công ích thông thường sẽ được xã hội hóa. Trong tương lai, một số
lượng lớn các doanh nghiệp công ích đang hoạt động có thể chuyển thành
DNXH để bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh cho nền kinh tế nước ta.
- Phân biệt DNXH với tổ chức từ thiện.
Tổ chức từ thiện cũng gần tương tự như NGO và DNXH là tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status