Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng việt - Pdf 53

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ MỸ HẠNH

ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA
CỦA THUẬT NGỮ MĨ THUẬT TIẾNG VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9229020

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hà Quang Năng

Hà Nội, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 26 tháng 02 năm
2019
Tác giả luận án

Lê Thị Mỹ Hạnh


LỜI CÁM ƠN


THUẬT NGỮ MĨ THUẬT TIẾNG VIỆT.................................................................. 55
2.1. Yếu tố cấu tạo thuật ngữ.................................................................................................. 55
2.2. Các phương diện và cách thức khảo sát.................................................................. 60
2.3. Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt xét về mặt cấu tạo............................................... 60
2.4. Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt xét về mặt từ loại................................................ 77
2.5. Thuật ngữ mĩ thuật xét về mặt nguồn gốc.............................................................. 80
2.6. Nhận xét chung về đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt 82

2.7. Phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt....................................... 86
Tiểu kết chương 2......................................................................................................................... 99
Chƣơng 3. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ ĐỊNH DANH CỦA THUẬT
NGỮ MĨ THUẬT TIẾNG VIỆT................................................................................... 102
3.1. Ý nghĩa của thuật ngữ.................................................................................................... 102
3.2. Sự thể hiện ý nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt.................................. 106
3.3. Đặc điểm định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt................................. 114
Tiểu kết chương 3...................................................................................................................... 140
KẾT LUẬN.................................................................................................................................. 142


DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

Viết tắt

Viết đầy đủ

ĐĐĐD

Đặc điểm định danh



Trang

1.

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các mô hình cấu tạo của thuật
ngữ mĩ thuật tiếng Việt

76

2.

Bảng 2.2: Bảng tổng hợp đặc điểm từ loại của thuật
ngữ mĩ thuật tiếng Việt

79

3.

Bảng 2.3: Bảng tổng hợp nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ mĩ
thuật tiếng Việt là từ

81

4.

Bảng 2.4: Bảng tổng hợp nguồn gốc yếu tố cấu tạo
thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt là cụm từ

82

đối tượng đặc biệt, khác với từ và cụm từ như là đối tượng của ngôn ngữ học.
Mặc dù trong đa số trường hợp thuật ngữ học xem xét các đơn vị từ vựng đó
như là ngôn ngữ học, nhưng ở thuật ngữ có những đặc trưng khác. Thuật ngữ
có những yêu cầu chuẩn mực khác với những yêu cầu mà ngôn ngữ học đòi
hỏi ở các đơn vị từ vựng khác. Vì vậy, để hiểu rõ đặc điểm hệ thống thuật ngữ
của bất kì ngành khoa học, kĩ thuật nào đều cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng toàn
diện và hệ thống thuật ngữ đó. Đó là lí do vì sao hiện nay ở nước ta, trong địa
hạt thuật ngữ học, bên cạnh nhiều công trình nghiên cứu lí thuyết về thuật ngữ
tiếng Việt, cũng có nhiều công trình nghiên cứu các hệ thuật ngữ của các
chuyên ngành cụ thể. Kết quả nghiên cứu hệ thống thuật ngữ của các chuyên
ngành cụ thể sẽ góp phần thiết thực vào việc phát triển khoa học, kĩ thuật và
công nghệ của nước ta.

1


1.3. Mĩ thuật là một trong những bộ môn nghệ thuật ra đời sớm nhất của
loài người. Mĩ thuật học là ngành khoa học nghiên cứu những vấn đề lí luận
của các loại hình nghệ thuật tạo hình như hội họa, điêu khắc, đồ họa,... về các
phương diện như thể loại, chất liệu, hoạt động sáng tạo, đặc trưng ngôn ngữ,
các trường phái, xu hướng của các loại hình nghệ thuật kể trên. Đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu về mĩ thuật ở nước ta từ nhiều phương diện khác
nhau. Tuy nhiên, cho đến nay, hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt chưa
được chú ý nghiên cứu, ngoài một số công trình từ điển được biên soạn trên
cơ sở dịch các thuật ngữ mĩ thuật nước ngoài, chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt về phương diện
lí thuyết.
Vì những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc điểm cấu tạo và
ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt ” cho công trình luận án của
mình. Luận án của chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu những đặc điểm cấu tạo,

đặc điểm cấu tạo thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt gồm: xác định khái niệm thuật
ngữ mĩ thuật để nhận diện thuật ngữ, tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, miêu tả và
phân tích các mô hình cấu tạo (MHCT) thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt;
c. Tìm hiểu nội dung ý nghĩa thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt, gồm có
các phương thức tạo nên ý nghĩa của thuật ngữ và các phạm trù nội dung ý
nghĩa làm cơ sở định danh của các đơn vị thuật ngữ trong hệ thống thuật ngữ
mĩ thuật tiếng Việt.
d. Tìm hiểu các phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt.
4. Tƣ liệu khảo sát
Tư liệu khảo sát của luận án là các thuật ngữ mĩ thuật rút từ các từ điển
thuật ngữ mĩ thuật và được thu thập từ những giáo trình mĩ thuật học, sách
báo, tạp chí về mĩ thuật bằng tiếng Việt. Cụ thể là:
- Thuật ngữ mĩ thuật Pháp - Việt, Việt - Pháp ( Viện Ngôn ngữ học, Hà
Nội, 1978);
- Từ điển mĩ thuật phổ thông (Đặng Thị Bích Ngân (chủ biên), Nxb.
Mĩ thuật, Hà Nội, 2000);

3


- Từ điển mĩ thuật (Lê Thanh Lộc biên soạn, Nxb. Văn hóa - Thông tin,
Hà Nội, 1998);
- Lược sử mĩ thuật và mĩ thuật học (Chu Quang Chứ, Phạm Thị
- Các thể loại và loại hình mĩ thuật (Nguyễn Trân, Nxb. Mĩ thuật, Hà
Nội, 2005);
- Mĩ thuật hiện đại Việt Nam, Nxb. Mĩ thuật, Hà Nội, 1996;
- Nghệ thuật học (Đỗ Văn Khang, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004);
- Điêu khắc (Nguyễn Thị Hiên, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2008);
- Điêu khắc hiện đại Việt Nam, Nxb. Mĩ thuật, Hà Nội, 2000.
- Lịch sử mĩ thuật học (Trần Tiểu Lâm, Phạm Thị chính, Nxb. Đại học

quan hệ ngữ nghĩa là cơ sở tạo nên thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt. Từ đó lập
các mô hình định danh thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt.
5.4. Thủ pháp thống kê
Là một thủ pháp của phương pháp miêu tả, thủ pháp thống kê được sử dụng
để xác định số lượng, tần số xuất hiện, tỉ lệ phần trăm của các phương thức tạo
thành thuật ngữ, các MHCT, mô hình định danh thuật ngữ. Các kết quả thống kê
sẽ được tổng hợp lại dưới hình thức của bảng biểu giúp hình dung rõ hơn tổng
thể diện mạo cấu tạo, định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt.

6. Ý nghĩa và đóng góp của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện phương diện cấu
tạo, nội dung ngữ nghĩa, các phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng
Việt, luận án sẽ có những đóng góp về mặt lí luận và thực tiễn như sau:
6.1. Ý nghĩa lí luận
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp thêm vào việc nghiên cứu lí
thuyết chung về thuật ngữ học, đồng thời chỉ ra được những đặc điểm riêng về
phương diện cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa ( ngữ nghĩa và định danh) và
phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:

5


- Cho phép đề xuất được các biện pháp, phương hướng cấu tạo các thuật
ngữ mĩ thuật mà tiếng Việt hiện chưa có;
- Là cơ sở để biên soạn từ điển giải thích thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt, góp
phần vào việc nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực thuật ngữ học tiếng Việt.

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo

bảo tính nhất quán, trong luận án này chúng tôi chỉ sử dụng thuật ngữ "mĩ
thuật".
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài và ở Việt Nam

1.1.1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài

Theo những nghiên cứu và tổng kết của Hà Quang Năng [86, 80 - 86],
việc nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới đã sớm bắt đầu ngay từ thế kỉ 18. Các
nghiên cứu về thuật ngữ ở thời kì này đều tập trung vào nội dung tạo lập thuật
ngữ, xác định các nguyên tắc cho việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ riêng
cho từng ngành khoa học. Đi tiên phong trong công tác nghiên cứu thuật ngữ
ở thời kì này là các nhà khoa học như: Carl von Linné (1736); Beckmann
(1780); A.L. Lavoisier, G.de Morveau, M.Berthellot và A.F.de Fourcoy

7


(1789) và William Wehwell (1840). Carl von Linné (1707 - 1778) có thể được
coi là người xác lập công tác nghiên cứu thuật ngữ, trong đó gồm có việc nêu
quy tắc tạo thuật ngữ, xác định chuẩn mực của thuật ngữ và lập kế hoạch xây
dựng các hệ thuật ngữ khoa học. Bởi vì chỉ từ khi tác phẩm Fundamenta
botanica (1736) của ông ra đời thì người ta mới có thể nói đến một hệ thuật
ngữ thực vật học được xác định theo quy tắc nhất định. Có đến gần 1000 thuật
ngữ đã được ông giải thích ý nghĩa và chỉ rõ cách sử dụng chúng rất tỉ mỉ.
Trong khi Linné dựa vào ngôn ngữ khoa học đang được sử dụng ở châu Âu
thời bấy giờ là tiếng Latinh để xây dựng thuật ngữ khoa học, thì ngay từ giữa
thế kỉ 18, M.V. Lomonosov đã đưa ra một hệ thống thuật ngữ lí - hoá riêng
của tiếng Nga, trong đó ông sử dụng tối đa các thuật ngữ bằng tiếng Nga và
chỉ sử dụng các thuật ngữ ngoại lai khi không thể tìm ra các tương đương
trong tiếng Nga.

trung vào các khái niệm và hướng việc nghiên cứu thuật ngữ vào chuẩn hóa các
thuật ngữ và các khái niệm. Việc nghiên cứu của trường phái này nhằm phục vụ
nhu cầu của các nhà kĩ thuật, các nhà khoa học là chuẩn hóa thuật ngữ trong lĩnh
vực của họ để đảm bảo sự giao tiếp hiệu quả và có thể chuyển tải kiến thức trong
lĩnh vực chuyên môn. Những nguyên tắc nghiên cứu thuật ngữ của trường phái
này được trình bày cụ thể trong các tài liệu về chuẩn hóa từ vựng của thuật ngữ.
Đa số các nước vùng Trung Âu và Bắc Âu (Áo, Đức, Na Uy, Thụy Sĩ, Đan
Mạch) đều nghiên cứu thuật ngữ theo hướng này.

Trường phái thuật ngữ học của Tiệp Khắc với đại diện tiêu biểu là L.
Drodz, một trong những người khởi xướng và phát triển công tác nghiên cứu
thuật ngữ ở Tiệp Khắc từ cách tiếp cận ngôn ngữ học về mặt chức năng của
Trường phái ngôn ngữ học Praha. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học của
trường phái này quan tâm đặc biệt đến việc miêu tả cấu trúc và chức năng của
các ngôn ngữ chuyên ngành, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng. Theo
quan niệm của Trường phái ngôn ngữ học Praha, thì các ngôn ngữ chuyên
ngành mang đặc điểm của phong cách khoa học, tồn tại cùng với các loại
phong cách chức năng khác như phong cách chính luận, phong cách hành
chính - công vụ, phong cách văn học nghệ thuật và phong cách khẩu ngữ. Họ
xem thuật ngữ như là những đơn vị tạo nên diện mạo của phong cách khoa

10


học. Mối quan tâm nhất của trường phái này là vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ và
chuẩn hóa thuật ngữ.
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết
Theo tổng kết của các tác giả công trình "Thuật ngữ học - Những vấn đề
lí luận và thực tiễn" [84], sự phát triển khoa học về thuật ngữ ở Nga và Liên
Xô trải qua 4 thời kì.

được công bố, gần 20 tuyển tập các bài báo về thuật ngữ đã được xuất bản và
hơn 100 luận án Phó tiến sĩ, Tiến sĩ đã được bảo vệ. Ngoài ra, hàng nghìn các
từ điển bách khoa và từ điển thuật ngữ học, bao gồm từ điển thuật ngữ kĩ thuật
tổng hợp, từ điển thuật ngữ khoa học công nghệ chung và các loại từ điển
chuyên ngành sâu… đã được biên soạn với sự đóng góp của các nhà khoa học
như L.N. Beljaeva, L. I. Borisova, L.Ju. Bujanova, A.S. Gerd, B.N. Golovin,
S.V. Grinev, V.P. Danilenko, G.A. Dianova, A. D. Hajutin, T.L. Kandenlaki,
R.Ju. Kobrin, Z.I. Komarova, T.B. Kryuchkova; O. D. Mitrofanova,V.I.
Mikhailova, S.E. Nikitina, A. V. Superanskaja, V.D. Tabanakova, V.A.
Tatarinov, L.B. Tkacheva, N.I.Tolstoy, O.N. Trubachev, N.V. Vasilieva, M.N.
Volođina.
- Thời kì thứ ba là thập niên cuối cùng của thế kỉ 20. Đặc điểm của thời
kì này là việc nghiên cứu thuật ngữ được thực hiện trong bối cảnh sau khi
Liên Xô sụp đổ, với những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội,
khoa học. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu thuật ngữ học được đánh dấu
bằng sự khủng hoảng ở nửa đầu thập niên và những đổi mới ở nửa sau thập
niên cuối cùng của thế kỉ 20. Trong những thập niên đầu của thế kỉ 21, số
lượng các công trình nghiên cứu thuật ngữ ở Nga không ngừng tăng lên,
tập trung nghiên cứu những phương thức sáng tạo thuật ngữ, nguyên tắc xây
dựng các hệ thống thuật ngữ mới và chỉnh lí một số hệ thống thuật ngữ đã có.
Hiện nay các nhà nghiên cứu cũng đã tập trung nghiên cứu thuật ngữ theo
hướng ngôn ngữ học tri nhận, như vấn đề tính đa dạng trong cách tri nhận,
trong sáng tạo thuật ngữ. Đã có nhiều công trình nghiên cứu thuật ngữ theo
hướng tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận, như: "Cơ sở ngôn ngữ - tri

12


nhận của việc nghiên cứu thuật ngữ chuyên ngành", "Nghiên cứu từ vựng
chuyên ngành từ góc độ định danh - tri nhận (trên tư liêu tên gọi các cây



chiếu đã được biên soạn. Trong hoàn cảnh chính trị lúc bấy giờ, rõ ràng là
phải nhiệt tình lắm mới có thể làm được những việc như thế” [127; 28]. Sau
khi nước nhà thống nhất, công tác xây dựng thuật ngữ tiếp tục được đẩy mạnh
và phát triển trong phạm vi cả nước. Theo thống kê chưa đầy đủ, ở thời kì đầu
sau cách mạng tháng Tám, số lượng thuật ngữ khoa học, kĩ thuật có vào
khoảng 40.000 đơn vị, sau 20 đến 25 năm đã lên tới 900.000 đơn vị [83].
“Trải qua hơn nửa thế kỉ, thuật ngữ tiếng Việt đã có những bước phát triển
nhanh chóng về số lượng. Đáng chú ý hơn, bên cạnh mặt số lượng, thuật ngữ
tiếng Việt đã thay đổi cả về chất” [83;121]. Tuy nhiên, trong thời kì này còn
nhiều vấn đề như xác định khái niệm thuật ngữ, những tiêu chuẩn của thuật
ngữ; phương thức đặt thuật ngữ; vay mượn và xử lí thuật ngữ nước ngoài
trong tiếng Việt; vấn đề chuẩn hóa hệ thuật ngữ tiếng Việt vẫn chưa có những
nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống.
Từ 1986 trở đi, khi đất nước ta từng bước hội nhập vào không gian kinh
tế của khu vực và quốc tế, cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học kĩ
thuật, đặc biệt là ngành công nghệ thông tin, ngành tài chính, ngân hàng,
ngành kinh tế, luật…số lượng thuật ngữ khoa học vay mượng nước ngoài
trong tiếng Việt tăng lên rất nhiều, nhưng lại chưa có những nguyên tắc, cách
thức xử lí toàn diện và nhất quán.
Trong thời kì này, công tác nghiên cứu thuật ngữ về phương diện lí
thuyết cũng được quan tâm, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu chuyên
sâu về lí luận thuật ngữ. Công trình “Sự phát triển của từ vựng nửa sau thế kỉ
XX” [83] đã dành một chương nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt, chỉ rõ
những chặng đường phát triển của tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt, nêu rõ
những con đường hình thành thuật ngữ tiếng Việt cũng như những giải pháp
cụ thể trong việc tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài vào tiếng Việt.
Đề tài cấp Bộ “Những vấn đề thời sự của chuẩn hóa tiếng Việt” của Viện
Ngôn ngữ học (do Vũ Kim Bảng và Nguyễn Đức Tồn làm chủ nhiệm đề tài)

- Xác định các MHCT thuật ngữ và biểu diễn các mối quan hệ ngữ pháp
giữa các YTCT thuật ngữ theo sơ đồ chúc đài;

17


- Tìm hiểu những phương thức định danh thuật ngữ, xác định các đặc
điểm, dấu hiệu được sử dụng để định danh thuật ngữ và miêu tả ĐĐĐD thuật
ngữ bằng các mô hình định danh;
- Khảo sát một số thuật ngữ không chuẩn căn cứ vào các tiêu chuẩn thuật ngữ,
từ đó đề xuất phương hướng chuẩn hóa thuật ngữ và cách xử lí các thuật ngữ

không chuẩn;
- Đối chiếu chiếu thuật ngữ tiếng Anh với thuật ngữ tiếng Việt về
phương diện cấu tạo, định danh để tìm hiểu những điểm tương đồng và khác
biệt giữa hai hệ thuật ngữ của hai ngôn ngữ.
- Tiến hành khảo sát vấn đề dịch thuật ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt
để xác định các kiểu tương đương trong cách dịch thuật ngữ.
Như vậy, công tác nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ học ở nước ta
trong thời gian qua đã đạt được những kết quả rõ rệt. Có thể thấy rằng, các
vấn đề thuật ngữ học được nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu là từ góc độ thực
tiễn: xây dựng các thuật ngữ khoa học kĩ thuật. Kết quả là hàng loạt cuốn từ
điển thuật ngữ đối chiếu các ngôn ngữ nước ngoài và tiếng Việt đã được xuất
bản. Giai đoạn cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở
nước ta đã chuyển sang giai đoạn mới: nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống
thuật ngữ của một chuyên ngành khoa học cụ thể. Hàng loạt các luận án tiến
sĩ nghiên cứu một các toàn diện, có hệ thống đặc điểm cấu tạo,
ĐĐĐD và các phương thức tạo lập các hệ thống thuật ngữ tiếng Việt hoặc đối
chiếu hệ thống thuật ngữ tiếng Anh với hệ thống thuật ngữ tiếng Việt của
nhiều ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ đã được bảo vệ thành công.

nước suốt mấy nghìn năm nay. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, dân tộc ta đã
tạo ra một nền mĩ thuật phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc, mặc
dù mỗi lần đất nước bị xâm lăng là một lần nền văn hóa dân tộc bị thử thách.
Cho đến nay, nền văn hóa nghệ thuật của chúng ta không những không bị
đồng hóa mà bản sắc dân tộc càng được khẳng định hơn. Các nhà nghiên cứu
mĩ thuật đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, hệ thống TNMT
tiếng Việt (TNMTTV) lại chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ. Cho đến

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status