Pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai và thực tiễn thi hành tại tỉnh yên bái - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ VÂN TRANG

PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH TẠI TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ VÂN TRANG

PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH TẠI TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


CHÍNH TRONG LĨNH VỰC SỬ DỤNG ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH YÊN BÁI ...............................................................................................30
2.1. Nội dung của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng
đất .......................................................................................................................30
2.2. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực sử dụng đất tại tỉnh Yên Bái .................................................................52
Chương 3.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM ..66
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC SỬ DỤNG ĐẤT TỪ THỰC TIỄN THI
HÀNH TẠI TỈNH YẾN BÁI ..................................................................................66
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực sử dụng đất từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái .......................................66
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
sử dụng đất từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái ..............................................68
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai là một chế định cơ bản của
pháp luật đất đai. Chế định này ra đời góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý
nhà nước về đất đai; bởi lẽ, không phải bất cứ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào khi
sử dụng đất (gọi chung là người sử dụng đất) cũng đều tự giác sử dụng đất đúng
mục đích, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tuân thủ các quy định
của pháp luật đất đai. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, dưới tác động của
các quy luật khách quan của thị trường thì đất đai ngày càng trở lên có giá trị; nên
một bộ phận đáng kể người sử dụng đất sẵn sàng vi phạm pháp luật đất đai miễn sao
có được lợi nhuận do đất đai mang lại. Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật đất

hơn năm trước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật được xây dựng đồng bộ làm thay
đổi bộ mặt đô thị, thị trấn, thị tứ. Kinh tế phát triển kéo theo giá đất ngày càng tăng.
Đây là một nguyên nhân khách quan dẫn đến việc vi phạm pháp luật đất đai. Dẫu
cho tỉnh Yên Bái đã áp dụng đồng bộ các biện pháp để phát hiện, ngăn chặn và xử
lý vi phạm pháp luật về đất đai (trong đó có vi phạm hành chính về đất đai) song
tình hình vẫn chưa được cải thiện và đạt hiệu quả mong muốn. Đi tìm nguyên nhân
và cơ chế phù hợp để giải quyết vấn đề này thì không thể không có nghiên cứu,
đánh giá toàn diện, hệ thống, khách quan, khoa học về pháp luật xử lý vi phạm pháp
luật trong sử dụng đất tham chiếu với thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái hiện nay.
Với những lý do cơ bản trên, học viên lựa chọn đề tài "Pháp luật về xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái" làm
luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Nội dung vi phạm hành chính là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm;
nhưng do nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của
vấn đề này nên đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
như: Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, của Hoàng Xuân Hoan - Nguyễn Trí
Hòa (1993), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; Hỏi đáp về Pháp lệnh Xử phạt vi phạm
hành chính, của Đặng Thanh Sơn - Hà Thị Nga (1996), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; Tìm hiểu về xử phạt vi phạm hành chính, của Phạm Dũng - Hoàng Sao (1998),
Nxb Pháp lý, Hà Nội; Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn, của Vũ Thư
(2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Vi phạm pháp luật và đấu tranh chống vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học
của Bùi Minh Thanh (2003), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Vi
phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực hải quan và giải pháp xử lý, Luận văn
thạc sĩ luật học của Lê Nguyễn Nam Ninh (2004), Học viện Hành chính Quốc gia,
Hà Nội; Vi phạm hành chính về đất đai ở Thái Bình - Thực trạng và giải pháp khắc
phục, luận văn thạc sĩ luật học của Đỗ Thị Phương (2005), Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội v.v... Hoặc có một số công trình nghiên cứu có liên quan
đến đề tài luận văn như: Chính sách đất đai của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên
cứu cụ thể sau đây:
- Tập hợp, phân tích hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về xử lý vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam thông qua việc luận giải một số nội dung:
i) Phân tích, khái niệm và đặc điểm của vi phạm pháp luật đất đai nói chung
và vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng.
ii) Tìm hiểu hậu quả của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
iii) Phân tích khái niệm và đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai.
iv) Mục đích, ý nghĩa, nguyên tắc và các hình thức xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai.
v) Phân tích khái niệm và đặc điểm của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai.


4

vi) Cơ sở ra đời pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
vii) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái.
- Đưa ra định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại tỉnh
Yên Bái.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:
- Các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện pháp luật đất

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai giới hạn ở khía cạnh vi phạm hành
chính trong lĩnh vực sử dụng đất do người sử dụng đất thực hiện. Đồng thời, đối
tượng mà luận văn này nghiên cứu khu trú vào vi phạm pháp luật trong sử dụng đất
đai bị xử lý bằng biện pháp hành chính mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm
hình sự giới hạn trong phạm vi không gian là địa bàn tỉnh Yên Bái.
iii) Giới hạn về phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận văn giới hạn thời gian
nghiên cứu ở giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành (ngày
01/7/2014) đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ
bản sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin;
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu …
được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu lý luận pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực sử dụng đất;
ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương
pháp tổng hợp... được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái;
iii) Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải…
được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất từ thực tiễn thi hành tại tỉnh
Yên Bái.
6. Những kết quả nghiên cứu đạt được
Luận văn hoàn thành với những kết quả nghiên cứu đạt được cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất ở Việt Nam;
- Giải mã nội hàm khái niệm về xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất nói riêng; đồng thời chỉ ra những

1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
1.1.1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là một khái niệm được sử dụng phổ biến trong các sách,
báo, tài liệu pháp lý ở nước ta. Khái niệm vi phạm pháp luật được nhiều công trình
của giới nghiên cứu khoa học pháp lý nước ta tìm hiểu, giải mã.
- Theo Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2001 định nghĩa: "Vi phạm là một sự kiện
pháp lí đặc biệt, đó là hành vi do các chủ thể pháp luật thực hiện trái với các yêu
cầu của quy phạm pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ".
Có bốn loại vi phạm pháp luật: Vi phạm hình sự, vi phạm dân sự, vi phạm hành
chính, vi phạm kỷ luật, tương ứng với mỗi loại vi phạm là một hình thức truy cứu
trách nhiệm pháp lý cụ thể.
Vi phạm pháp luật là: Hành vi chủ thể thực hiện trái với các quy định của
quy phạm pháp luật, gây tổn hại cho xã hội.
Theo Từ điển Luật học: "Vi phạm pháp luật: 1. Nghĩa rộng: các việc sai,
trái pháp luật nói chung; 2. Nghĩa hẹp: các việc sai, trái pháp luật chưa cấu thành tội
phạm và thường được gọi là vi phạm hành chính"1.
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn
năm 2006:
Vi phạm pháp luật: Hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể có năng lực
trách nhiệm pháp lí xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu cơ bản: 1) Hành vi của con người gồm
hành vi hành động và hành vi không hành động; 2) Là hành vi trái quy định của
pháp luật. Tính trái pháp luật của hành vi thể hiện ở chỗ làm không đúng điều pháp
luật cho phép, không làm hoặc làm không đầy đủ điều pháp luật bắt buộc phải làm
hoặc làm điều mà pháp luật cấm; 3) Là hành vi có chứa đựng lỗi của chủ thể - trạng
thái tâm lí thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi của mình ở thời
điểm chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật; 4) Là hành vi do chủ thể có năng lực
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1999, tr.568.


này, người có hành vi trái pháp luật đất đai được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm
phạm các khách thể mà pháp luật đất đai bảo vệ; ii) Vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai là hành vi cố ý hoặc vô ý của người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân có liên quan
vi phạm các quy định của pháp luật đất đai những chưa đến mức bị truy cứu trách
nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý bằng biện pháp hành chính. Cho dù được sử dụng với
hai thuật ngữ khác nhau song giữa chúng có nội dung tương đồng đều biểu đạt hành vi
trái pháp luật đất đai của người sử dụng đất được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý
xâm phạm các khách thể được pháp luật đất đai bảo vệ những chưa đến mức bị truy
cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý bằng biện pháp hành chính. Với cách tiếp
cận và nhận thức như vậy, trong bản luận văn này, thuật ngữ "vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai" được sử dụng có ý nghĩa tương đồng với thuật ngữ "vi phạm
pháp luật đất đai" và hai thuật ngữ này được sử dụng thay thế cho nhau.
Từ những quan niệm trên đây về vi phạm pháp luật đất đai hay vi phạm hành
chính trong lĩnh vực sử dụng đất (sau đây gọi chung là vi phạm pháp luật đất đai),
theo tác giả, những dấu hiệu nhận biết của một vi phạm pháp luật đất đai bao gồm:
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 479.
4. Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai.


10

Thứ nhất, vi phạm pháp luật đất đai là hành vi trái pháp luật đất đai của một
cá nhân.
Theo Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, đối tượng điều chỉnh của
ngành luật là nhóm quan hệ xã hội cùng loại (cùng đặc điểm, cùng tính chất). Mà
quan hệ xã hội là quan hệ giữa con người với con người trong một lĩnh vực nhất
định của đời sống xã hội được thực hiện thông qua các hành vi ứng xử. Theo C.Mác
thì: "Con người chỉ tồn tại với pháp luật thông qua hành vi của mình"5. Như vậy,
đối tượng điều chỉnh của ngành luật đất đai là nhóm quan hệ giữa con người với con


thức được điều này nhưng do quá tự tin cho rằng có thể ngăn ngừa được dễ dàng
hậu quả của hành vi trái pháp luật đó của mình.
Yếu tố lỗi là một dấu hiệu không thể thiếu được trong việc nhận biết một
hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi vi phạm pháp luật đất đai nói riêng.
Bởi lẽ, mục đích cao cả của chế tài pháp luật (hình phạt) không phải là trừng trị, xử
lý hành vi vi phạm pháp luật của một người mà là hướng tới việc giáo dục người vi
phạm tự giác sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt, người có ích cho xã hội.
Thông qua chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm của một người mà làm họ nhận biết
được sai lầm của mình; đồng thời, giúp người có hành vi vi phạm tự giác cải tạo để
trở thành người công dân có ích. Hơn nữa, thông qua việc xử lý hành vi vi phạm
pháp luật của một người mà có tác dụng giáo dục, răn đe người khác không nên có
hành vi vi phạm pháp luật tương tự. Như vậy, mục đích giáo dục của pháp luật sẽ
không thể thực hiện được nếu không xác định được ý thức chủ quan, tâm lý của
người có hành vi vi phạm pháp luật thông qua việc nhận biết được yếu tố lỗi của họ.
Như vậy, lỗi là yếu tố không thể thiếu được khi xác định một hành vi vi phạm pháp
luật nói chung và vi phạm pháp luật đất đai nói riêng. Lỗi thể hiện về mặt nhận thức
chủ quan, thái độ của người vi phạm. Vì thế sẽ không bị coi là có lỗi nếu bản thân
người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không nhận thức được hành vi của mình
xâm phạm các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ. Xét yếu tố lỗi một cách chính
xác sẽ giúp lựa chọn hình thức xử lý phù hợp đối với một hành vi vi phạm pháp luật.
Ở đây chúng ta cũng cần lưu ý một vấn đề thuộc về khái niệm vi phạm pháp
luật đất đai; đó là, vi phạm pháp luật đất đai được nhận biết thông qua dấu hiệu
hành vi trái pháp luật đất đai và được thực hiện do lỗi của người vi phạm mà không
xem xét đến thiệt hại thực tế xảy ra và mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật đất
đai với hậu quả thiệt hại do hành vi này gây ra. Việc xem xét thiệt hại thực tế xảy ra
và mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật đất đai với hậu quả thiệt hại do hành vi
này gây ra chỉ có ý nghĩa trong việc xác định mức chế tài xử lý (khung hình phạt)
chứ không mang ý nghĩa trong nhận biết vê mặt lý luận về vi phạm pháp luật đất
đai. Bởi lẽ, đất đai là tài nguyên thiên nhiên hữu hạn và có tầm quan trọng đặc biệt

hợp pháp của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai; quyền
và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất và chế độ sử dụng các loại đất được pháp
luật đất đai bảo vệ.
Thứ ba, do đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố các khu
dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng v.v và là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống nên vi phạm pháp luật đất đai
không chỉ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất mà còn
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của cộng đồng.
Hậu quả của vi phạm pháp luật đất đai để lại những tác động tiêu cực trên
nhiều phương diện về chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường... Việc khắc phục hậu
quả của vi phạm pháp luật đất đai tiến hành rất khó khăn, phức tạp và rất tốn kém;
thậm chí có trường hợp vi phạm pháp luật đất đai để lại hậu quả không thể khắc
phục được.
Thứ tư, việc sử dụng đất thường liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng nhà ở,
công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất. Do đó vi phạm pháp luật


13

đất đai thường kéo theo vi phạm pháp luật về nhà ở, về lĩnh vực xây dựng; vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực dân sự hoặc vi phạm pháp luật đất đai ảnh hưởng tiêu cực
đến vấn đề môi trường, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sự phát triển bền vững v.v.
1.2.2. Khái niệm xử lý vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất
Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, mọi vi phạm pháp luật đều bị
phát hiện và xử lý kịp thời; theo đó, người có hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý
bằng một chế tài pháp lý. Vậy xử lý vi phạm pháp luật là gì?. Theo Từ điển Luật
học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) xuất bản năm 2006:
Xử lý vi phạm pháp luật: Xem xét, quyết định áp dụng các hình
thức trách nhiệm pháp lý đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật.
Việc xử lý vi phạm pháp luật, phải dựa vào các yếu tố cấu thành hành vi

Xét về mặt lý luận, vi phạm pháp luật đất đai có 02 hình thức xử lý: i) Xử lý
trách nhiệm hình sự đối với vi phạm pháp luật đất đai nếu tính chất, mức độ và hậu
quả gây ra nghiêm trọng được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 (Điều 228)
ii) Xử lý hành chính đối với vi phạm pháp luật đất đai mà chưa đến mức phải truy
cứu trách nhiệm hình sự. Luận văn này tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất (sau đây gọi là xử lý vi phạm pháp luật
đất đai)
Xử lí vi phạm pháp luật đất đai có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đây là hoạt động áp dụng pháp luật đất đai của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền nhằm xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Điều này có
nghĩa là không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng được xử lý người có hành vi
vi phạm pháp luật đất đai mà chỉ những cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật mới được áp dụng pháp luật đất đai để xử lý hành vi vi phạm.
Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, các cơ quan quản lý nhà nước về đất
đai có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật đất đai; bởi lẽ, vi phạm pháp luật đất đai
xâm phạm khách thể của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai; xâm phạm trật tự
quản lý nhà nước về đất đai đã được xác lập. Để khôi phục lại trật tự quản lý nhà
nước về đất đai thì các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai áp dụng chế tài xử lý
đối với hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Tuy nhiên, để tránh việc tùy tiện, lợi
dụng việc xử lý vi phạm pháp luật đất đai vi lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực v.v
thì việc xử lý vi phạm pháp luật đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Thứ hai, xử lý vi phạm pháp luật đất đai được thực hiện tuân theo các quy
định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và nội dung của Luật xử lý vi phạm hành chính
năm 2012, Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Thứ ba, đối tượng bị xử lý vi phạm pháp luật đất đai phải chịu một hậu quả
pháp lý bất lợi về vật chất tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi
vi phạm pháp luật đất đai của mình gây ra. Ngoài ra, chủ thể vi phạm còn bị buộc
thực hiện khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất đai như trước khi vi phạm; đồng
thời, các phương tiện, công cụ được sử dụng để vi phạm pháp luật đất đai và số tiền

Nhà nước, quyền sử dụng đất của người sử dụng như: lấn chiếm đất đai, không sử
dụng đất hoặc sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển mục đích sử dụng đất trái
phép, hủy hoại đất… Những hành vi vi phạm này thực hiện lần đầu hoặc thiệt hại
do hành vi vi phạm gây ra không lớn, khả năng phục hồi thiệt hại dễ dàng và người
gây thiệt hại đã kịp thời khắc phục, tự nguyện bồi thường thiệt hại …nên chưa cần
thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị áp dụng xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nếu có hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng
đất đai trên lãnh thổ Việt Nam thì cũng bị xử phạt theo Nghị định số 102/2014/NĐ-CP

7. Điều 2 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai do Chính phủ
ban hành ngày 10/11/2012


16

(trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy
định khác).
Mục đích của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất gây ra là
nhằm xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật đất đai song chưa tới mức độ
nguy hiểm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, góp phần bảo vệ tài nguyên đất
đai; đồng thời, giáo dục người sử dụng đất nâng cao ý thức chấp hành pháp luật đất
đai.
1.1.4.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về đất đai
Theo Điều 208 Luật đất đai năm 2013 và Điều 31, 32, 33 Nghị định số
102/2014/NĐ-CP thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp; thanh tra viên,
người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ,
Chánh Thanh tra Sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng cục trưởng
Tổng cục Quản lý đất đai, Giám đốc Sở, Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi
trường ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra; Trưởng đoàn thanh tra

vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (sau đây gọi chung là tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính).
Để "định lượng" một cách chính xác mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm
pháp luật đất đai và trên cơ sở đó áp dụng hình thức xử phạt thích hợp, pháp luật đất
đai đã xác lập nguyên tắc:
- Tính chất, mức độ của hành vi vi phạm hành chính quy định tại các Điều 6,
7, 8, 15, Khoản 1 Điều 16 và Điều 17 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP được xác
định theo quy mô diện tích đất bị vi phạm.
- Tính chất, mức độ của hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 26
của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP được xác định theo số lượng hộ gia đình bị
ảnh hưởng.
- Tính chất, mức độ của hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 9 và
Điều 24 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP được xác định theo nguyên tắc quy đổi
giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm thành tiền theo giá đất
trong bảng giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có
đất ban hành tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính và chia thành 04 mức
sau đây:
a) Mức 1: Giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm quy
thành tiền dưới 60.000.000 đồng đối với đất nông nghiệp, dưới 300.000.000 đồng
đối với đất phi nông nghiệp;
b) Mức 2: Giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm quy
thành tiền từ 60.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng đối với đất nông nghiệp,
từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng đối với đất phi nông nghiệp;
c) Mức 3: Giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm quy
thành tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng đối với đất nông nghiệp,
từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng đối với đất phi nông nghiệp;
d) Mức 4: Giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm quy
thành tiền từ 1.000.000.000 đồng trở lên đối với đất nông nghiệp, từ 3.000.000.000
đồng trở lên đối với đất phi nông nghiệp.
- Diện tích đất vi phạm hành chính và chi phí để xác định diện tích đất vi

1.2.1. Cơ sở xây dựng chế định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
sử dụng đất
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khâu đột phá trong chính sách kinh tế cho
bước chuyển này là việc ban hành và thực hiện những chế độ, chính sách mới trong
lĩnh vực quản lý đất đai. Để giải phóng mọi năng lực sản xuất của người lao động
trong sản xuất nông nghiệp nhằm giải quyết vững chắc vấn đề an ninh lương thực
quốc gia, pháp luật đất đai đã xác định và đề cao vai trò của hộ gia đình, cá nhân:
Thừa nhận hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất nói chung và hộ gia đình,


19

cá nhân nói riêng sử dụng ổn định lâu dài. Hộ gia đình, cá nhân được chuyển quyền
sử dụng đất trong thời hạn giao đất8. Những quy định này đã phát huy hiệu quả tích
cực: Người sử dụng đất yên tâm gắn bó lâu dài với đất đai, khuyến khích nông dân
đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Nước ta từ một nước thiếu lương thực, hàng
năm phải nhập hàng vạn tấn lương thực đã tự túc được lương thực và vươn lên trở
thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới. Những quy định của Luật đất đai năm
2013 về trao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và
cho phép quyền sử dụng đất tham gia các giao dịch dân sự đã làm cho người sử
dụng đất ngày càng thấy được giá trị của đất đai. Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế
thị trường do chạy theo lợi nhuận mà không ít người sử dụng đất đã không từ bỏ bất
kỳ thủ đoạn nào kể cả thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Vì vậy những
hành vi vi phạm pháp luật đất đai cần phải bị xử lý kịp thời, nghiêm minh bằng
pháp luật; bởi vì:
Thứ nhất, hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi vi phạm pháp
luật đất đai nói riêng đã gây ra những hệ quả tiêu cực đối với đời sống kinh tế - xã
hội; cụ thể:

chế tập trung quan liêu bao cấp, kế hoạch hóa cao độ sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tồn tại nhiều thành phần kinh tế có lợi ích không
đồng nhất, thậm chí đối lập, mâu thuẫn với nhau. Để các thành phần kinh tế cùng
tồn tại, hợp tác và phát triển đòi hỏi Nhà nước phải giải quyết một cách hài hòa lợi
ích của những chủ thể này. Muốn vậy, chúng ta cần phải xây dựng Nhà nước và
pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Pháp luật với những đặc trưng mang tính đặc thù là
tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tính tự điều chỉnh sẽ tạo lập
được sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cho mọi thành phần kinh tế trong hoạt
động sản xuất - kinh doanh. Điều này có nghĩa là pháp luật thông qua cơ chế điều
chỉnh sẽ tác động vào những hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia quan hệ đất
đai trên hai phương diện: i) Đối với những ứng xử của các chủ thể tham gia quan hệ
đất đai phù hợp với lợi ích chung của xã hội thì pháp luật bảo vệ, khuyến khích phát
triển; ii) Ngược lại, đối với những ứng xử của các chủ thể tham gia quan hệ đất đai
không phù hợp với lợi ích chung của xã hội thì pháp luật xử lý, ngăn chặn và tiến
tới loại bỏ dần khỏi đời sống xã hội. Hơn nữa, pháp luật còn có chức năng kiến tạo
giúp người sử dụng đất thay đổi nhận thức và có những hành vi ứng xử đúng đắn
nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình song không làm phương hại đến
quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và của người sử dụng đất khác.
Thứ ba, pháp luật có mục đích là giáo dục, răn đe con người để họ có những
hành vi ứng xử vừa mang lại lợi ích cho bản thân mình nhưng lại không làm
phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tuy nhiên, nếu giáo dục,
thuyết phục không mang lại hiệu quả thì pháp luật phải trừng trị, xử lý đối với
những người có hành vi ứng xử làm phương hại đến lợi ích chung của cộng đồng
cũng như lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác. Hành vi vi phạm pháp luật đất đai
cũng cần phải được xử lý thích đáng. Có như vậy thì tính nghiêm minh, tính thượng
tôn của pháp luật mới được mọi người trong xã hội chấp hành và tuân thủ triệt để.
Thứ tư, đất đai vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt, vừa là lãnh thổ quốc gia, nơi
cư trú của con người, là địa bàn xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh
- quốc phòng; đồng thời là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống.


đất, tác giả nhận thấy lĩnh vực pháp luật này là một chế định cơ bản của pháp luật
đất đai. Dẫu cho các đạo Luật đất đai, các sách, báo pháp lý ở nước ta dường như
chưa đưa ra một định nghĩa hoặc giải thích chính thức hiểu như thế nào về pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất; song qua tìm hiểu nội dung
các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất, tác giả cho
rằng khái niệm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất có
thể hiểu như sau: Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất
là một chế định cơ bản của pháp luật đất đai gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status