BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM TRÀ MI
ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HƢNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM TRÀ MI
ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN
Xã hội chủ nghĩa
UBND
Ủy ban nhân dân
BNV
Bộ Nội vụ
CTN
Chủ tịch nước
CBCC
Cán bộ, công chức
SL
Sắc lệnh
GS
Giáo sư
TS
Tiến sĩ
tuyển dụng công chức ở tỉnh Hưng Yên trong thời gian qua ..................... 42
2.2.2. Những tồn tại và hạn chế trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về
việc tuyển dụng công chức trên địa bàn tỉnh Hưng Yên ............................ 48
2.2.3. Những nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập trong việc tổ
chức thực hiện quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức ở Tỉnh
Hưng Yên .................................................................................................... 53
CHƢƠNG III: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC .......................................................... 57
3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ........ 57
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ............ 61
3.3. Các giải pháp bảo đảm thực hiện có hiệu quả quy định của pháp luật
về tuyển dụng công chức trên địa bàn tỉnh Hưng yên ................................ 64
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 73
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn đổi mới hiện nay khi nền kinh tế nước ta có những
bước phát triển vượt bậc thì nền hành chính của nước nhà vẫn còn chuyển
biến chậm, chưa đuổi kịp hay nói đúng hơn là chưa ngang bằng với sự phát
triển của nền kinh tế. Công chức là đội ngũ tiên phong mang trọng trách lớn
trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội, đảm bảo việc tổ
chức và thực thi pháp luật, làm cho pháp luật đi vào cuộc sống của nhân
dân. Ở nước ta những thành tựu đạt được trong những năm thực hiện công
cuộc đổi mới có phần đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ,công chức.
Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu hướng hội nhập
định như tỉnh Hưng Yên thì chưa có nghiên cứu nào cụ thể về vấn đề này.
Nhằm xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước ở tỉnh Hưng Yên
ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về tuyển dụng
công chức và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn phát triển và hội nhập toàn diện ở Việt Nam hiện nay,
việc tuyển dụng công chức được rất nhiều người quan tâm tìm hiểu, nghiên
cứu. Trong những năm gần đây đã có nhiều các công trình nghiên cứu về
tuyển dụng công chức với những khía cạnh và góc nhìn khác nhau và chủ yếu
là các bài viết trên các trang website, tạp chí và các bài tham luận trong các
hội thảo khoa học liên quan đến việc tuyển dụng công chức.
Một số công trình nghiên cứu về công chức và pháp luật tuyển dụng
công chức như:
GS.TS. Phạm Hồng Thái (2004), Công vụ, công chức nhà nước,
Nxb.Tư pháp, Hà Nội. Nội dung sách tập trung giải quyết những vấn đề lý
3
luận về công vụ, công chức, pháp luật về công vụ, công chức dựa trên cơ sở
phân tích pháp luật thực định của Nhà nước ta từ năm 1945 đến năm 2003 và
chỉ ra xu hướng điều chỉnh của pháp luật về công vụ, công chức qua các thời
kỳ lịch sử.
ThS.Bùi Thị Đào (2006), “Cán bộ, công chức, viên chức theo Pháp
lệnh cán bộ, công chức”, Ths. Phạm Tuấn Doanh, Quy định về tuyển dụng
công chức và một số giải pháp hoàn thiện. Nội dung các công trình nghiên
cứu trên chủ yếu chỉ ra về khái niệm công chức, viên chức dưới góc nhìn của
các tác giả; pháp luật về công chức, viên chức nói chung và tuyển dụng công
chức, viên chức theo quy định của pháp luật hiện hành.
PGS.TS Phạm Hồng Hải, Một số vấn đề đổi mới tuyển dụng công chức
là như thế nào?
Thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay
như thế nào và thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng công chức
ở Việt Nam nói chung và tỉnh Hưng Yên nói riêng hiện nay ra sao?
Để khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn tổ chức thực hiện
pháp luật về tuyển dụng công chức, cần phải có những phương hướng và giải
pháp gì nhằm nâng cao hiệu quả tuyển dụng công chức ở Hưng Yên hiện nay?
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về tuyển dụng công
chức và việc tổ chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng công chức trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay.
Luận văn tập trung vào nghiên cứu với phạm vi như sau:
Pháp luật tuyển dụng công chức: Pháp luật tuyển dụng công chức hiện
hành ở Việt Nam như Luật cán bộ, công chức 2008, Nghị định số
24/2010/NĐ-CP.
Thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng công chức trên địa
bàn Tỉnh Hưng Yên trong những năm gần đây, những thành tựu, hạn chế và
5
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng công chức trong những năm
tiếp theo.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu và hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu về vấn
đề tuyển dụng công chức, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
thông thường của khoa học xã hội và luật học như:
-Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu những quy định pháp luật về tuyển
dụng trong lịch sử thế giới và Việt Nam để nắm rõ về sự hình thành và quy
luật phát triển của việc tuyển dụng công chức theo mỗi giai đoạn.
7
CHƢƠNG I:
PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
1.1. Khái niệm công chức
Công chức và công vụ có lịch sử khá lâu dài. Với tư cách là những
người làm việc cho nhà nước, đội ngũ công chức manh nha hình thành từ thời
kỳ phong kiến tại Trung Quốc, nó bắt đầu bằng các học thuyết về tổ chức nhà
nước và nền Nho giáo của Khổng Tử và được áp dụng chặt chẽ hơn, nâng lên
thành thiết chế dưới thời của Hán Vũ Đế thuộc triều Hán vào khoảng thế kỷ
thứ III Công nguyên (206- 220 CN). Thời này với học thuyết Nho giáo thịnh
hành, tổ chức chính quyền của Trung Hoa phong kiến đã chia thành 06 bộ
(Lục bộ) như Bộ binh, Bộ hình, Bộ lại, Bộ lễ, Bộ công, Bộ hộ và mô hình này
ảnh hưởng đến nhiều nước như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Đến thế kỷ
thứ XVI thì hệ thống công chức bắt đầu hình thành và phát triển ở châu
Âu phong kiến 1.
Trong thời kỳ phong kiến, nhà nước luôn được tổ chức theo hình thức
chỉnh thể quân chủ chuyên chế, toàn bộ quyền lực nhà nước đều thuộc về nhà
vua. Tuy nhiên nhà vua không thể tự mình triển khai và thực hiện toàn bộ
quyền lực nhà nước và phải dựa vào hệ thống các quan lại. Với cương vị điều
hành trong các cơ quan nhà nước, quan giữ vai trò tư vấn, giúp việc cho nhà
vua trong việc xây dựng các chính sách và ban hành pháp luật đồng thời triển
khai thực hiện quyền lực nhà nước. Lại là người thừa hành mệnh lệnh của
quan, đóng vai trò trung gian giữa quan và dân. Nhiệm vụ của lại bao gồm
giúp quan soạn thảo, giao nhận, lưu chuyển công văn sổ sách; triển khai các
1
/>Nguyễn Phương Anh (2013), Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.19.
3
9
thượng nghị sỹ, Hạ nghị sỹ trong ngành lập pháp, các viên chức làm thuê cho
quốc hội, quan tòa trong ngành tư pháp không đặt vào hàng công chức.
Tại Nhật Bản
Công chức ở Nhật Bản bao gồm cả công chức nhà nước nhà nước và
công chức địa phương, có nghĩa người ta coi cả những người làm việc trong
các cơ quan chính quyền tự quản địa phương cũng là công chức. Công chức
nhà nước bao gồm các nhân viên trong bộ máy các bộ của Chính phủ trung
ương, ngành Tư pháp, Quốc hội, quân đội, nhà trường, bệnh viện quốc lập, xí
nghiệp và sự nghiệp quốc doanh, được lĩnh lương của kho bạc nhà nước.
Công chức địa phương là những nhân viên đang công tác và lĩnh lương từ tài
chính địa phương. Công chức nhà nước lại được chia thành công chức đặc
biệt và công chức chung. Công chức đặc biệt được bổ nhiềm mà không cần
qua thi cứ, như Thủ tướng nội các, Quốc vụ đại thần...Pháp luật quy định
mưới tám loại nhân viên thuộc công chức đặc biệt. Công chức chung là những
người không phải qua thi cử hoặc đánh giá năng lực để quản lý. Hầu như mọi
người dân Nhật Bản đều thừa nhận rằng công chức nhà nước của Nhật là
những người rất ưu tú. Tư chất và năng lực này được quyết định bằng sự đào
tạo liên tục sau khi được tuyển dụng. Nhật Bản thực hiện rất nghiêm túc chế
độ cấp bậc4.
Tại Pháp
Nền công vụ truyền thống Pháp quy định về công chức khá rõ ràng.
Điều 2 Chương II Quy chế chung về công chức Nhà nước của Pháp năm 1994
hanh-chinh-nha-nuoc-tai-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi.
10
thứ bậc của các cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc
các công sở Nhà nước" . Trong những năm gần đây, một khái niệm khác được
thừa nhận là: "Công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc
cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên
trong một công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế
vào một ngạch của nền hành chính công". Theo cách hiểu này, công chức
Pháp gồm 3 loại: Công chức hành chính Nhà nước, công chức trực thuộc
cộng đồng lãnh thổ và công chức trực thuộc các công sở tự quản. Chế độ
tuyển chọn công chức của Pháp cũng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, không
phân biệt giới tính, thành phần xuất thân, khuynh hướng chính trị, tôn giáo,
văn hoá. Nguyên tắc tuyển chọn loại ưu qua thi cử, tiến hành công khai, với
hình thức thi viết và thi vấn đáp5.
Một số nước khác như Anh, Thái Lan, Singgapo...
Công chức là những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong
bộ máy hành chính của các bộ thuộc Chính phủ. Như vậy, những đối tượng
khác tuy làm việc ở bộ nhưng không trực tiếp làm công tác chuyên môn
nghiệp vụ theo chức năng quản lý của bộ thì không phải công chức và cũng
theo quan niệm về công chức như vậy thì người làm việc trong bộ máy của
chính quyền địa phương cũng không phải là công chức6.
công và công chức cấp xã. Sự khác biệt căn bản trong quan niệm từ đó đi đến
khác nhau về phạm vi công chức của các nước so với nước ta còn thể hiện ở
chỗ các nước không coi những người làm việc trong tổ chức xã hội là công
chức và theo đó không thuộc đối tượng điều chính của luật về công chức.
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, nxb Đà Nẵng năm 2000,
công chức được hiểu là: “người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công
vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà
nước cấp”7. Theo cuốn “Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức hiện nay”, nxb Chính trị quốc gia năm 2001 của tác giả Tô Tử Hạ, công
chức được hiểu là: người làm việc trong cơ quan nhà nước. Đây là một quan
7
Hoàng Phê, 2000, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr207.
12
niệm hết sức đơn giản về công công chức. Theo quan niệm này, công chức
chỉ được phân biệt với người lao động hưởng lương theo sản phẩm (công
nhân) và phân biệt với người làm việc trong tổ chức không nằm trong bộ máy
nhà nước8.
Trong cuốn “Nền công vụ công chức” – Viện khoa học pháp lý – Bộ
Tư pháp – 1992 cho rằng công chức là những người làm việc chuyên môn có
tính chất lâu dài và ổn định trong bộ máy nhà nước. Quan niệm này về công
chức xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 1990. Việc tách biệt công chức là
những người hoạt động có tính chất chuyên môn với những người hoạt động
mang tính chính trị là điểm nhấn mạnh của quan niệm này. Khái niệm này
được sử dụng phù hợp với quan điểm của Pháp và các nước lục địa Châu Âu.
GS.TS.Phạm Hồng Thái – Tác giả cuốn “Công vụ công chức nhà
công chức nhà nước rộng hơn sắc lệnh 76/SL, bao gồm không chỉ những
người được tuyển dụng hay bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong
các cơ quan hành chính của Chính phủ mà cả ở các cơ quan khác của nhà
nước. Tuy nhiên khái niệm này cũng không bao hàm hết phạm vi công chức.
Do đó, ngày 26/02/1998, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành pháp lệnh
cán bộ, công chức và được sửa đổi 2 lần vào năm 2000 & 2003, theo đó, công
chức bao gồm: những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao
nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; những người được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào một ngạch công chức hoặc được giao giữ một công vụ thường
xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; thẩm
pháp tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân; những người được tuyển dụng,
bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan,
đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công dân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; những người
được tuyển dụng giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban
nhân dân cấp xã.
14
Pháp lệnh cán bộ công chức chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ
và công chức. Điều này đã được khắc phục tại Luật cán bộ, công chức 2008.
Theo Luật cán bộ, công chức 2008: “Công chức là công dân Việt Nam,
được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương,
cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
1.2.1. Khái niệm về tuyển dụng công chức
Tuyển có nghĩa là lựa chọn người đáp ứng tốt nhất các tiêu chuẩn và
điều kiện đặt ra; dụng là sử dụng. Tuyển dụng có nghĩa chung là chọn người
thích hợp vào để sử dụng trong một tổ chức. Tuyển dụng là quy trình sàng lọc
và tuyển chọn những người có đủ năng lực và các tiêu chuẩn đề ra để đáp ứng
một công việc trong một tổ chức, công ty, hoặc một chương trình tự nguyện
hay nhóm cộng đồng. Tuyển dụng, bổ sung người mới cho tổ chức là một
trong những họat động không thể thiếu của bất kì cơ quan, tổ chức nào. Hoạt
động này nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu nhân sự của cơ quan, tổ chức (bao
gồm cả việc xây dựng, duy trì và mở rộng nhân sự), phục vụ cho quá trình
phát triển của tổ chức. Nói theo cách chung nhất, tuyển dụng (còn được goi là
tuyển chọn, tuyển mộ,…) là việc đưa người mới thích hợp vào làm việc trong
một cơ quan, tổ chức.
Tuyển dụng công chức là hoạt động tuyển chọn, bổ sung nguồn nhân lực
mới cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị khác.
Có thể thấy, tuyển dụng công chức một khâu quan trọng có tính chất quyết định
chất lượng đội ngũ công chức trong thực thi công vụ. Vì vậy, làm thế nào để
thông qua tuyển dụng thu hút những người đủ năng lực và phẩm chất vào làm
việc trong các cơ quan nhà nước luôn là một vấn đề được quan tâm.
Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 24/2010/NĐCP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản
16
lý công chức, căn cứ để tuyển dụng công chức là yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc
làm và chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công chức. Các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tuyển dụng công chức được quy định tại Điều 3 Thông
tư 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 như: Tòa án nhân dân tối cao, Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước; Văn phòng Quốc hội, Văn
phòng Chủ tịch nước; Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Tổ
người tự nguyện gia nhập hệ thống công vụ sau khi đã xác nhận người đó có đủ
tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật để bổ nhiệm vào một
ngạch công chức theo tiêu chuẩn chuyên môn nhất định của vị trí công việc cần
tuyển. Tuyển dụng công chức là để giao giữ một chức trách nhất định hay để
bổ nhiệm vào một ngạch công chức nào đó, để thi hành nhiệm vụ được Nhà
nước trao cho công chức, do vậy việc tuyển dụng công chức phải cẩn trọng.
1.2.2. Vai trò của tuyển dụng công chức
Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên để có được một đội ngũ công
chức vững mạnh. Chính vì vậy, việc tuyển dụng công chức giữ một vai trò to
lớn được thể hiện qua những điểm sau:
Thứ nhất, tuyển dụng công chức là cơ sở hình thành và duy trì nguồn
nhân lực của bộ máy nhà nước.
Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên trong quá trình thực hiện có
hiệu quả các hoạt động tuyển dụng, quản lý, sử dụng công chức…và cũng là
một điều kiện để phát triển văn hoá của các cơ quan nhà nước, các tổ chức,
đơn vị ngày càng lành mạnh. Tuyển dụng công chức là yếu tố quan trọng hình
thành cơ quan nhà nước. Nói cách khác, có nhân tố con người, đầy đủ cả về
số lượng và chất lượng thì một đơn vị sự nghiệp mới hình thành và phát triển.
Đội ngũ công chức là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định
trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, giữ một vị trí
quan trọng trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Trong quá trình
hoạt động theo thể chế đã được ban hành, đội ngũ công chức một mặt làm cho
bộ máy quản lý nhà nước phát huy vai trò của nó trong việc quản lý mọi mặt
18
đời sống kinh tế - văn hóa – chính trị - xã hội. Mặt khác, luôn phát hiện những
khuyết điểm và các sơ hở của hệ thống thể chế và cơ cấu tổ chức ngày càng
phù hợp với thực tế, tạo điểu kiện và môi trường để quản lý đất nước một tốt
công chức nào đó, để thi hành nhiệm vụ được Nhà nước trao. Hiện nay,
những quy định về tuyển dụng công chức theo pháp luật hiện hành dựa trên
các nội dung về: Căn cứ, điều kiện, thẩm quyền tuyển dụng công chức; về thi
tuyển công chức; về trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức, về tập sự.
Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 24/2010/NĐCP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản
lý công chức, căn cứ để tuyển dụng công chức là yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc
làm và chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công chức. Hàng năm, cơ quan
sử dụng công chức xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức, báo cáo cơ
quan quản lý công chức để phê duyệt và tổ chức tuyển dụng công chức. Việc
tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển, xét tuyển hoặc tiếp
nhận đối với một số trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, tùy theo
mục tiêu và đối tượng cũng như công việc cần tuyển.
Bằng việc đặt ra các quy tắc mang tính khuôn mẫu, pháp luật xác định
trước cho các chủ thể trong quan hệ tuyển dụng công chức phải có những ứng
xử tương ứng với những tình huống xảy ra theo ý chí của Nhà nước với
những quyền và nghĩa vụ pháp lý theo điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Có thể hiểu pháp luật về tuyển dụng công chức là tổng thể các quy
phạm pháp luật do cơ quan, cá nhân có thẩm quyền của Nhà nước ban hành
và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với
đội ngũ công chức tương lai trong quá trình tuyển dụng công chức.
Ở nước ta khái niệm về công chức qua các thời kỳ có các cách hiểu
không đồng nhất với nhau. Khái niệm về công chức ở nước ta gắn với quá
trình lịch sử của dân tộc, điều kiện kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức bộ máy
của nhà nước.... Trong các văn bản pháp luật của Nhà nước khái niệm về công
20
chức qua các thời kỳ có những quy định khác nhau. Song song với đó, pháp
luật về tuyển dụng công chức cũng có những biến chuyển qua từng thời kỳ.